TIN TỨC

GS Mai Quốc Liên – Người đất Quảng cương trực

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-03-12 13:13:14
mail facebook google pos stwis
1483 lượt xem

Tôi gặp GS-TS Mai Quốc Liên tại nhiều sự kiện của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật Trung ương. Trong các cuộc họp, mỗi khi đăng đàn, ông sang sảng chất giọng Quảng đậm đà, khảng khái, thẳng thắn, thậm chí có lúc tranh luận khá gay gắt, chẳng cần rào trước đón sau, mà cũng chẳng ngại va chạm, có thể hơi làm “nghịch nhĩ” ai đó, nhưng tư duy logic, liên tưởng, liên kết các vấn đề mạch lạc.

GS-TS, nhà văn Mai Quốc Liên

Phương châm “nhân cái đẹp, dẹp cái xấu”

Hôm đó, trong lúc giải lao tại một hội nghị, sau câu “chào thầy” của tôi, GS Liên thủng thẳng “Có dạy cô ngày nào mà cô gọi tôi bằng thầy nhỉ?”. Lần khác, tôi hỏi về cuốn Tạp luận, ông thủng thẳng: “Chắc cô muốn hỏi chữ tạp? Trong nghĩa tiếng Việt, nghĩa chữ “tạp” không tốt lắm. Nhưng nếu đã đọc thì cô biết trong sách có bài thuộc khảo luận, bút ký, phê bình… được tập hợp từ năm 1970 đến nay. Gọi là “tạp” cũng đúng và tôi đặt tên Tạp luận là vì thế”.

Cũng phải khá lâu tôi mới quen được tính thẳng thắn, cương trực của người đất Quảng như ông.

Mai Quốc Liên là một nhà khoa học trầm tĩnh, ánh mắt sâu xoáy, thường có những bài viết kịp thời về các hiện tượng văn nghệ, phê phán những khuynh hướng lệch lạc, tác động vào sáng tác, nghiên cứu với phương châm “nhân cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Qua những ngần ngại ban đầu, tôi cảm nhận ở ông toát lên ý chí của con người tận tụy, khiêm nhường, cương trực, cũng như niềm đam mê, tâm huyết, trách nhiệm với công việc. Ông là một nhà khoa học uyên bác, sắc sảo, có trí nhớ tốt, có phương pháp làm việc khoa học, cách luận giải sâu sắc có lý, có tình về mọi vấn đề liên quan đến văn học nghệ thuật.

Tôi quen dần với cách nói thẳng thắn, không màu mè, hoa mỹ, cũng chẳng khéo léo, hình thức. Tất cả ở ông toát lên sự chất phác, giản dị, chân tình, thẳng thắn.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và cách mạng tại làng Nông Sơn (nay là xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), từ nhỏ, Mai Quốc Liên đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của gia phong, gia đạo, gia huấn và truyền thống hiếu học từ gia đình. Những bài hát ru của người mẹ đất Quảng tảo tần, đảm đang, mê hát tuồng, giỏi thơ ca, thuộc Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Phan Bội Châu đã thấm dần, gieo vào tâm hồn cậu con trai niềm đam mê văn chương.

“Người kim chất cổ” và “Người kim chất kim”

Sự nghiệp của ông gắn với nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam, Trung Hoa. Ông thừa nhận việc nghiên cứu chữ Nôm rất khó, còn khó hơn cả chữ Hán vì phải đi vào tiếng Việt cổ với ngữ âm, từ vựng cổ rất đặc thù. Là nhà khoa học, ông từng tham gia học tập, nghiên cứu, dự hội thảo khoa học ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Pháp, Italy…

Là cây bút viết lý luận – phê bình văn học, ông coi trọng văn phong, cần mẫn để lại một sự nghiệp văn chương khá đồ sộ: Nhà thơ, cơn bão và những cánh hoa (1979); Ngô Thì Nhậm tuyển tập (1980); Ngô Thì Nhậm trong nền văn học Tây Sơn (chuyên luận, 1985); Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ (1986); Trước đèn (1992); Khảo luận Văn chiêu hồn (1991); Nguyễn Du toàn tập (1996); Phê bình và tranh luận văn học (1998); Tạp luận (1998); Cao Bá Quát toàn tập (2003); Nguyễn An Ninh – tác phẩm; Đỗ Phủ tinh tuyển; Toàn Việt thi lục…

Năm anh em (trái qua): Mai Quốc Liên, Mai Thúc Long, Mai Thúc Luân, Mai Thúc Lân và Mai Thành Bang (ảnh chụp tháng 1.2001)

Đặc biệt, ông làm Tổng chủ biên công trình Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh (1900- 2000) (25 tập, 20.000 trang). Với công trình này, lần đầu tiên, TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung có một công trình tổng kết tác giả – tác phẩm bao quát đủ các lĩnh vực (tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, ký sự, thơ, kịch bản sân khấu, kịch bản phim, chính luận, lý luận – phê bình), thuộc nhiều trào lưu yêu nước, cách mạng trong trọn vẹn 100 năm thế kỷ 20.

Với kiến văn rộng, cuối những năm 60 thế kỷ 20, ông là tác giả và chủ biên nhiều công trình tầm cỡ về các các danh nhân văn học, văn hóa như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Trần Nhân Tông, Nguyễn Tông Khuê, Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị…

Trong con mắt đồng nghiệp GS-TS Mai Quốc Liên được coi là “người kim chất cổ”. Nói như nhà văn Lê Quang Trang: “Anh cũng là “người kim chất kim”, vì những hoạt động cho văn học nghệ thuật đương thời. Chịu đọc, trí nhớ tốt, kết hợp được cổ kim Đông Tây, lại theo sát thời cuộc, nên sự liên tưởng liên kết các vấn đề trong tư duy của anh được nhiều người vị nể, khâm phục”.

Có một Mai Quốc Liên của thơ

Ngoài nghiên cứu, dịch thuật, chủ biên, Mai Quốc Liên còn sáng tác thơ. Ông là tác giả tập thơ Vị mặn biển đời với 41 bài thơ chọn lọc ra mắt năm 2003.

Tâm huyết, sâu sắc trong nghiên cứu, tôi còn thấy một Mai Quốc Liên đằm thắm, lãng mạn, tinh tế ở vị thế nhà thơ, trong thơ. Đã từng được ông giải thích đầy mê hoặc về câu ca dao tinh tế, sâu sắc ẩn chứa cái nghĩa, cái tình mộc mạc mà đặc sắc về đất và người quê hương: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say”…

Tập thơ “Vị mặn biển đời”

Không là ngoại lệ, ông là một nhà nghiên cứu phê bình làm thơ. Nếu không đọc thơ, tôi không thể biết thêm còn có một Mai Quốc Liên khác ẩn tàng. Bên trongvẻ ngoài có phần khô cứng, lạnh lùng, khó gần ấy lại là một thi nhân hóm hỉnh, ân tình với bạn bè, nồng nàn, lãng mạn, đắm say trong tình yêu.

Cảm xúc trong Đêm mưa của thi nhân vời vợi nỗi nhớ thương: “Đêm nay nằm nghe mưa/ Thương em và nhớ con”; ấm áp yêu thương lời động viên:”Thôi đừng buồn nghe em/ Ngày mai về với anh/ Ngày mai hăm tám tuổi/ Lòng anh thành con suối/ Mát lành mưa đêm qua”.

Xuân và em luôn cộng hưởng trong cảm xúc thi nhân: “Cuối phố cây bàng đứng đợi xuân/ Cành non nhựa ứ búp xanh ngần/ Lá bàng năm cũ bay theo gió/ Em dắt Xuân về theo bước chân/ Xao xuyến trời xanh xao xuyến thơ/ Những lời nửa ý những cơn mơ/ Thời gian không cũ niềm mong nhớ/ Lòng vẫn trinh nguyên nỗi đợi chờ” (Em dắt Xuân về). “Em là mây trắng cuối Thu/ Anh là ngọn gió lãng du đi tìm/ Em là xao xác cánh chim/ Anh là ứa nghẹn tiếng tim không lời” (Em là).

Người con đất Quảng ân tình vời vợi nỗi nhớ về Hà Nội – nơi gắn bao kỷ niệm từ miền Nam ra tập kết, được miền Bắc bao bọc, yêu thương: “Anh để lại phía sau mình Hà Nội/ Một mùa Xuân chưa tới một mùa Thu… Bãi sông Hồng chơ vơ ngày nước cạn… Và sông Hồng trầm tích sóng bờ em” (Hà Nội phía sau mình). “Tuyết đầu mùa rơi rối cả lòng tôi/ Và gương mặt như giấc mơ thanh khiết/ Đã đọng trong tôi vị mặn biển đời” (Vị mặn biển đời).

Dành bao tâm huyết nghiên cứu, ông cũng thả mình vào những vần thơ với Nguyễn Du và Truyện Kiều “Sáng hôm nay chợt bắt gặp Tiền Đường/ Gặp hồn Nguyễn Du trên từng con sóng… Vì nếu lòng em còn xa cách lòng anh/ Ta sẽ mượn câu thơ Kiều loi thoi tơ liễu/ Cành liễu mềm như lòng em hiền dịu/ Và Nguyễn về sống lại giữa tim ta” (Bất chợt Tiền Đường).

Nhà thơ tự hào là người đồng hương với Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi: “Làng anh ở cạnh làng tôi đấy/ Tôi đã về thăm anh Trỗi ơi/ Bụi ớt trước nhà chim đến hót/ Tiếng chim kêu thơ dại đến nao người” (Qua cầu anh Trỗi).

Ra mắt tập thơ Vị mặn biển đời, ông khiêm tốn tự nhận là nhà thơ “nghiệp dư”, nhưng nhà văn Lê Quang Trang lại thấy có “một tâm hồn nhạy cảm, nhiều bài cấu tứ chắc, giàu ý vị, từ ngữ chắt lọc, ý thơ sâu và bổ ích”.

Xin kết lại bài viết bằng suy nghĩ về nghề văn của GS Mai Quốc Liên: “Văn học cần những tác giả lớn, đánh dấu một thời đại, nhưng những người như thế, hàng thế kỷ mới có được một vài người và không phải thế kỷ nào cũng có. Còn chúng ta những “võ sĩ hạng ruồi”, phải tận tâm và ra sức mới mong có một chút đóng góp đích thực. Nhiều khi chỉ đóng góp được một chữ. Nhưng rộng ra thì văn học cũng là một phương pháp hữu hiệu để đóng góp cho đời. Cũng không ghê gớm gì nhưng cũng không tầm thường. Ngoài cái nghề cầm bút đó ra, có lẽ ta chẳng làm được việc gì khác nữa. Cho nên hết lòng ra sức “tận nhân lực, tri thiên mệnh”, được một hạt cát quý một hạt cát, chứ cuộc đời trôi chảy, trôi nhanh, níu kéo được ngày nào để làm việc, để vui với bè bạn, người thân là vui lắm rồi, hà tất phải mong nhiều, vượt quá sức mình”.

Trong cuộc đời mình, GS Mai Quốc Liên từng vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ (2010); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2012).

Nhà văn, GS.TS Mai Quốc Liên qua đời vào lúc 1h05 ngày 10.3.2024 (tức ngày 01.02 năm Giáp Thìn), hưởng thọ 85 tuổi. Sự ra đi của ông để lại nhiều thương tiếc cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và học trò.

Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Mai Quốc Liên

Cuộc đời và một số tác phẩm của GS Mai Quốc Liên

Nhà văn Mai Quốc Liên sinh ngày 08.6.1940 trong một gia đình có truyền thống hiếu học và cách mạng tại làng Nông Sơn (nay là xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).

Cụ Mai Luyện – ông nội ông đỗ tú tài. Bác ruột Mai Dị là cử nhân tham gia phong trào Cần Vương. Cha ông thạo chữ Hán, nói giỏi tiếng Pháp, chịu ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, sớm đi theo cách mạng. Mẹ ông là con thầy đồ nho, yêu văn chương nghệ thuật. Nhà văn Mai Quốc Liên là con thứ tư trong gia đình có năm anh em trai đều thành đạt, được giáo dục chu đáo, chịu ảnh hưởng rất lớn từ gia đình có truyền thống cách mạng và hiếu học: anh trai Mai Thúc Lân (Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X), anh Mai Thúc Long (nguyên Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam)…

Tập kết ra Bắc, năm 1963, nhà văn Mai Quốc Liên học Khoa văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội). Là cử nhân văn khoa, năm 1970, ông tiếp tục học đại học Hán văn; năm 1972 học Cao học Hán học và chuyên tâm học ngoại ngữ. Sau khi miền Nam giải phóng (1975), ông chuyển công tác vào TP Hồ Chí Minh và định cư từ đó. Lúc đầu, ông nhận công tác tại báo Văn nghệ Giải phóng, sau làm giảng viên Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh.

Năm 1981, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1984, Mai Quốc Liên bảo vệ Tiến sĩ Văn học về danh nhân Ngô Thì Nhậm. Ông trải nghiệm qua nhiều vị trí công tác: cán bộ nghiên cứu ở Viện Văn học, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Ủy viên Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật Trung ương…

Cuốn Tiểu luận & phê bình văn học (Nxb Văn học, 2011) đã tập hợp những bài viết của GS-TS Mai Quốc Liên với chủ đề chính là các hiện tượng văn hóa, văn hóa dân tộc, sự hợp lưu giữa văn hóa và văn học.

Trong bài Mấy vấn đề về Nho giáo tại Việt Nam, ông đã bàn sâu về vai trò của Nho giáo tại Việt Nam đặt trong so sánh với Nho giáo Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) với nhận xét có tầm “Ngày nay Việt Nam đang mở cửa hội nhập, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình. Trong sự nghiệp đó, việc kế thừa và phát huy những tinh hoa của Nho giáo, gắn nó vào giáo dục, vào văn hóa, vào kinh tế, vào chính trị… làm cho nó trở thành một sức mạnh cũ mà mới, cổ xưa mà hiện đại là việc rất nên làm…”.

Về tiếng cười trong văn chương, Mai Quốc Liên đặt ra những đối sánh: “Đương thời, Nguyễn Công Hoan cũng cười, Tú Mỡ cũng cười, Đồ Phồn cũng cười, Lý Toét, Xã Xệ của Tự Lực Văn Đoàn cũng cười. Cái cười của Nguyễn Công Hoan nổ bùng vui vẻ nhưng nhanh chóng kết thúc, tiếng cười của Nam Cao là cười gằn đau đớn và u ám nhưng tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ là một tiếng cười nằm sâu trong hệ hình văn học Việt Nam truyền thống, đồng thời khác lạ không giống ai, thời sự, mới mẻ, hiện đại trong ngôn ngữ và trong cấu trúc tác phẩm”. Từ đó, nhà văn đánh giá cao tiếng cười đặc biệt của Vũ Trọng Phụng: “đã vươn tới tầm của “tiếng cười toàn dân” trong văn học dân gian, trong thơ Hồ Xuân Hương và vì thế tiếng cười của ông mang một tầm cỡ triết lý nhân sinh mà đồng thời vẫn mang ý nghĩa thời sự”.

Nhân kỷ niệm lần thứ 245 năm sinh Nguyễn Du, GS Mai Quốc Liên đề cập Chín hướng tiếp cận Nguyễn Du: Nhìn lại và đi tiếp, hay nói một cách khác, những “cách đọc” Nguyễn Du để chúng ta cùng nhìn lại và đi tới, đó là: tiếp cận chủ nghĩa nhân đạo; nghiên cứu so sánh giữa các nền văn học qua Truyện Kiều; khẳng định Truyện Kiều không phải là phóng tác, phiên dịch, “diễn âm” mà là một sáng tạo mới, sâu và lớn trên một tích truyện cũ; tiếp cận thi pháp Truyện Kiều; hướng nghiên cứu văn bản học; tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và Truyện Kiều; nghiên cứu Truyện Kiều Nguyễn Du trong trường lý thuyết tiếp nhận; nghiên cứu những vấn đề của thơ chữ Hán Nguyễn Du, đặc biệt là Bắc hành tạp lục, để thấy rõ một Thái Sơn nữa trong văn học, tương đối với Truyện Kiều, thống nhất với Truyện Kiều và Nguyễn Du xứng đáng được nghiên cứu trên tầm bản thể luận.

LÊ THỊ BÍCH HỒNG

Báo Thể Thao và Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Lại thêm một cuốn sách ồn ào
Những ồn ào quanh Chuyện với Thanh rồi sẽ qua đi. Nhưng câu chuyện về cách ứng xử với lịch sử, với văn học và với những khác biệt trong quan điểm tiếp nhận sẽ còn tiếp tục đặt ra. Một xã hội văn minh cần có những cuộc tranh luận văn hóa nghiêm túc. Và điều kiện đầu tiên của mọi cuộc tranh luận nghiêm túc là đọc trước khi phán xét, hiểu trước khi kết luận. Đó chính là thông điệp của người viết bài này. Chỉ khi đó, tiếng nói của lý trí mới không bị lấn át bởi sự ồn ào của đám đông.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm