TIN TỨC

Hạt gạo tháng Giêng – Nỗi nhớ xuân từ những phòng trọ xa quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-04 21:59:21
mail facebook google pos stwis
433 lượt xem

ĐẶNG NGỌC THANH THƯ

Trong mạch thơ viết về mùa xuân, nhiều thi sĩ đã chọn gam màu tươi sáng, ăm ắp hội hè và sum họp. Nhưng với nhà thơ Xuân Trường, mùa xuân trong bài “Hạt gạo tháng Giêng” lại mang sắc điệu trầm buồn, thấm đẫm nỗi xa quê của những phận người lao động nghèo nơi đô thị.

Ngay từ bốn câu mở đầu, cảm xúc đã được khơi gợi rất trực diện:

“Tết nay con lại không về
Bước chân tháng Chạp – nặng nề – công nhân
Hương xuân đâu đã xa gần
Giao thừa con vấp Nêu làng – nhớ quê…”

Chữ “lại” đặt sau “không về” đủ để thấy cảnh thiếu thốn ấy không phải chuyện một lần. Người con xa xứ nhiều năm đón Tết nơi phòng trọ chật hẹp, mang theo nỗi nhớ quê da diết. Hai dấu gạch ngang làm nhịp thơ chậm lại, như một khoảng lặng nhói lòng giữa dòng mưu sinh hối hả. “Bước chân tháng Chạp” nặng nề không chỉ bởi quãng đường xa, mà còn bởi gánh nặng cơm áo gạo tiền của những người lao động xa quê.

Khi “hương xuân” chạm ngõ, nỗi nhớ quê càng trỗi dậy. Trong giấc mơ giao thừa, tác giả vấp phải cây Nêu làng – một biểu tượng Tết quê – để rồi tỉnh dậy trong căn phòng trọ nghèo nơi phố thị. Nỗi nhớ hóa thành day dứt, ám ảnh.

Sang khổ thơ tiếp, cảm xúc cá nhân mở rộng thành nỗi lo chung đối với mảnh đất miền Trung:

“Gió xuân thức dậy triền đê
Chợt nghe lũ muộn – mà tê tái lòng
Tháng Giêng hạt gạo – đợi đồng
Miền Trung con đó – nỗi lòng tháng Giêng”

Phép nhân hóa khiến “triền đê” trở nên sống động như thức dậy cùng gió xuân. Nhưng bên cạnh vẻ bình yên ấy là nỗi lo khi “lũ muộn” còn đe dọa mùa màng. “Hạt gạo – đợi đồng” gợi cảnh thiếu thốn kéo dài của vùng quê miền Trung sau bão lũ. Người xưa từng nói: Đồng tiền tháng Chạp – hạt gạo tháng Giêng – hai khoảng thời gian vất vả nhất trong năm. Chính vì thế, chữ “tê tái” không chỉ diễn tả sự se lạnh của tiết xuân, mà còn là nỗi đau cắt lòng khi người con xa xứ nghĩ về quê nhà.

Trong nỗi nhớ chung ấy, hình bóng mẹ hiện lên đầy xót xa:

“Có con chim én bay nghiêng
Chao vào lòng mẹ nỗi niềm – riêng con…”

Chim én – tín hiệu của mùa xuân – ở đây trở thành biểu tượng của sự chờ đợi. Cánh én chao nghiêng giữa trời xuân như gợi ánh nhìn mỏi mòn của người mẹ nơi quê nhà, hướng theo đứa con tha hương. Chữ “nỗi niềm” đặt giữa “lòng mẹ” và “riêng con”, ngắt bằng dấu gạch ngang, khiến cảm xúc tách đôi mà cũng đồng quy: nỗi nhớ thương là của cả hai phía – người chờ và người đi.

Trở về thực tại, hình ảnh cuối bài đầy ám ảnh:

“Xuân nay ở lại Sài Gòn
Một gian nhà trọ – hai con mắt buồn”

Phép đối “một gian nhà trọ – hai con mắt buồn” kết hợp hoán dụ đã cô đọng sự trống trải, tủi thân của người xa quê. Gian nhà trọ thì nhỏ bé, còn nỗi buồn thì mênh mang không bờ bến. Khổ thơ mở đầu bằng chữ “nhớ” và khép lại bằng chữ “buồn”, tạo thành một vòng cảm xúc khép kín, lặng lẽ bóp nghẹn lòng người đọc.

Nếu trong thơ Thanh Hải hay Nguyễn Bính, mùa xuân thường tươi sáng, rộn ràng; thì xuân trong “Hạt gạo tháng Giêng” lại man mác buồn. Đó không phải nỗi buồn bi lụy, mà là nỗi buồn nhân văn – nỗi buồn của người luôn hướng về quê hương, đồng cảm với những số phận chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc mưu sinh.

Về nghệ thuật, bài thơ được viết bằng thể lục bát truyền thống, ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi đời thường. Các thủ pháp nhân hóa, hoán dụ, đối xứng được vận dụng tinh tế, không cầu kỳ nhưng đủ sức khắc sâu cảm xúc. Chính sự dung dị ấy làm cho bài thơ dễ đọc, dễ ngấm và dễ đọng lại.

Hạt gạo tháng Giêng không chỉ là tiếng lòng của một người xa xứ, mà còn là nỗi niềm chung của bao phận người mưu sinh nơi đô thị, mỗi độ Tết về. Bài thơ nhắc ta nhớ đến những miền quê còn nhiều vất vả, nhắc đến người mẹ đang ngóng đợi bên mái nhà xưa, và hơn hết, gợi lên trong lòng người đọc một sự trân trọng đối với tình quê, tình người – những giá trị bền bỉ giữa cuộc đời đầy biến động.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm