TIN TỨC

“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-05 10:29:50
mail facebook google pos stwis
692 lượt xem

LA MAI THI GIA

Có những nhà thơ đi khắp nơi, tìm cảm hứng từ những miền đất xa xôi, từ phong cảnh mới lạ hay những nền văn hóa khác nhau, đi để mở rộng thế giới của thơ mình, để tìm thi hứng. Nhưng với Nhật Chiêu, dường như hành trình ấy lại khác. Ông không cần đi xa để tìm nguồn cảm hứng, bởi chỉ cần trở về với tiếng Việt, đọc lại văn chương cổ điển và soi vào trái tim yêu văn hóa Việt đậm sâu của mình, thơ đã tự nhiên cất lên. Đọc Nghìn nghi lễ tình, ta có cảm giác nhà thơ đang lắng nghe một dòng suối tiếng Việt chảy qua thời gian, từ lời ru bên nôi đến thơ thiền thời Trần, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và rồi dòng chảy ấy vang lên thành thơ ông hôm nay.

Thơ Nhật Chiêu đã được nhiều nhà phê bình tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau. Có người nhấn mạnh chiều sâu thiền học; có người nói đến thiên nhiên và mỹ học của cái đẹp; có người chú ý đến sự giao thoa Đông – Tây trong thế giới nghệ thuật của ông. Hay như nhà văn Trần Thùy Mai cho rằng: Nhật Chiêu “viết những điều phức tạp nhất nhưng giản dị nhất”. Những nhận định ấy đều có cơ sở, bởi thơ Nhật Chiêu thực sự là một không gian suy tưởng rộng mở.

Tuy nhiên, bên dưới những tầng triết học và mỹ học ấy còn có một điều giản dị hơn: Nhật Chiêu trước hết là một người Việt Nam say mê tiếng Việt và am hiểu sâu sắc thi ca truyền thống của dân tộc. Có thể nói rằng, không nhiều người có thể đọc thơ Trần Nhân Tông hay Nguyễn Du một cách thấu triệt đến tận căn như ông thông qua những buổi nói chuyện của ông về di sản thơ của hai đại thi hào này khắp từ Nam ra Bắc.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, người ta nhận ra rằng thơ của Nhật Chiêu không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một hành trình trở về, trở về với tiếng mẹ đẻ và chiều sâu của thi ca truyền thống. Bài viết này vì thế xin nhìn Nhật Chiêu từ một góc độ giản dị: như một nhà thơ của tiếng Việt và thi ca Việt, người đã biến tiếng mẹ đẻ thành ngôn linh, thành linh hồn của thơ mình.

Tiếng lòng – tiếng nước – tiếng thương

Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tình yêu tiếng mẹ của Nhật Chiêu trong Nghìn nghi lễ tình là bài Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi, ở đấy nhà thơ đã viết:

“Tiếng lòng từ thưở ta nôi

Tiếng thương từ độ đứng ngồi chưa yên”

Hai câu thơ gợi ra một quan niệm giàu tính triết lý về bản chất con người, lòng yêu thương đã nẩy mầm từ thuở sơ sinh và lớn lên cùng những xao động của đời sống, từ lời mẹ ru bên nôi đến những rung động thầm thì trai gái. “Tiếng lòng” là phần sâu kín và nguyên sơ của con người, còn “tiếng thương” là sự mở rộng của nội tâm khi con người bước vào thế giới và bắt đầu cảm nhận nỗi bất an, rung động của kiếp sống. Cách diễn đạt mộc mạc, nhịp điệu gần ca dao không chỉ làm câu thơ thêm thân thuộc mà còn gợi một triết lý nhân bản, con người tồn tại trước hết như một sinh thể biết yêu thương, và chính tình thương ấy tạo nên chiều sâu ý nghĩa của đời người.

“Ta từ tiếng nói bước ra

mang theo cả một tình ca muôn mùa”

Câu thơ này, theo tôi, có thể xem như một tuyên ngôn thi ca của Nhật Chiêu. Người thơ được sinh ra từ tiếng nói, tiếng mẹ. Câu thơ gợi lên một ý niệm gắn bó về mối quan hệ giữa con người và ngôn ngữ mẹ đẻ, như thể bản sắc và tâm hồn đều nảy sinh từ tiếng nói của nơi cắt rốn chôn nhau. Đồng thời, tiếng Việt còn là bản “tình ca muôn mùa”, một kho tàng tình cảm tích lũy qua bao thế hệ, nơi mỗi lời nói đều chứa đựng ký ức và tình thương, khiến nhà thơ đã phải thốt lên:

“Tiếng lòng ơi

tiếng nước ơi

ban sơ ta đã

thương rồi tình tang”

“Ban sơ ta đã thương rồi”, tình yêu tiếng Việt ở đây mang tính bản năng, giống như tình yêu của trẻ sơ sinh dành cho mẹ, trong ý thơ này của Nhật Chiêu, tiếng Việt trở thành một thứ tình cảm nguyên thủy có trước mọi ý thức. Nhà phê bình Nguyễn Thị Thanh Xuân từng nhận xét rằng Nhật Chiêu làm thơ “như đang thở” và thơ ông đến với người đọc “nhẹ nhàng như khí trời”. Chính sự tự nhiên ấy làm cho tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu mang cảm giác như một dòng chảy sống động và trong suốt.

Tác giả bài viết - Tiến sĩ La Mai Thi Gia và nhà văn Nhật Chiêu - tác giả "Nghìn nghi lễ tình"
 

Từ lời Tiên Dung đến tiếng khóc Kiều: ngọn nguồn tiếng Việt

Có lẽ không câu thơ nào trong Nghìn nghi lễ tình diễn tả rõ hơn tình yêu thi ca truyền thống của Nhật Chiêu bằng câu:

“Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều

Bước đi mỗi bước càng yêu nghìn đời”

Hai hình tượng Tiên Dung và Kiều đặt cạnh nhau đã mở ra cả một chiều dài văn hóa.

Tiên Dung là nàng công chúa trong truyền thuyết Chử Đồng Tử – người con gái dám cãi lại vua cha để đi theo tiếng gọi của tình yêu tự do và nhân tính tự nhiên. Vì vậy “lời Tiên Dung” chính là tiếng nói nguyên sơ của con người Việt Nam, thứ tiếng Việt gần với ca dao và dân ca, thứ tiếng Việt của lời ru, lời tỏ tình và sự chân thật.

Nếu “lời Tiên Dung” là tiếng Việt của buổi đầu thì “tiếng khóc Kiều” là tiếng Việt đã đi qua lịch sử. Kiều là nơi tiếng Việt đạt tới độ tinh luyện hiếm có, nơi nỗi đau con người được chuyển hóa thành âm điệu.

Từ Tiên Dung đến Kiều là cả một hành trình trưởng thành của tiếng Việt: từ huyền tích đến văn học cổ điển, từ lời nói dân gian đến ngôn ngữ thi ca bác học.

Nhưng tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu không dừng lại ở đó.

Trong tập Nghìn nghi lễ tình, những giọng thơ cổ điển khác của dân tộc cũng xuất hiện nhiều lần. Các thiền sư thời Trần như Trần Nhân Tông hay Trần Thái Tông được nhắc đến như những người đối thoại tinh thần. Những câu thơ thiền được gợi lại như một dòng chảy của ngôn ngữ tĩnh lặng và trong suốt. Tinh thần thiền ấy trở lại trong những câu thơ Nhật Chiêu trong bài Mưa không mặt nạ, nếu Trần Thái Tông dùng hình ảnh “Xuân vũ vô cao hạ” để diễn tả tinh thần bình đẳng và vô ngã của thiền học, thì Nhật Chiêu kế thừa tứ thơ ấy và phát triển thành một hình tượng mưa mang ý nghĩa triết lý và nhân sinh sâu rộng hơn: “tình cũng mưa đầy một cõi xuân”. Tình ở đây mang tính phổ quát như mưa xuân, lan tỏa khắp thế giới mà không có ranh giới, đồng thời mưa không chỉ là biểu tượng của bình đẳng mà còn là chu trình sinh diệt của đời sống:

“Mưa từ đời bay lên phù vân

mưa lại về chơi với bụi trần”

Bài thơ Bên nắng bên râm của Nhật Chiêu khởi đi từ câu thơ của Trần Nhân Tông “Hoa kính bán tình âm”, như một sự đối thoại với thi ca thiền Việt. Nếu thơ Trần Nhân Tông gợi một thế giới tĩnh lặng nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, thì Nhật Chiêu tiếp nối tinh thần ấy bằng giọng thơ hiện đại mà vẫn thấm đẫm phong vị cổ truyền. Hình ảnh:

“Ta về bên nắng bên râm

trong ta mây thoảng

chỗ nằm lá che”

gợi rõ một hành trình trở về với bản thể, rất gần với tinh thần thiền của Trần Nhân Tông, sống thuận theo tự nhiên và tìm sự an tĩnh trong nội tâm. Đến những câu:

“Đời ồn ta lặng lờ nghe

suối trong đang chảy

qua khe từ nguồn”,

gợi ý niệm quy hồi quen thuộc trong thơ thiền cổ, cái tôi trữ tình lặng lẽ lắng nghe dòng chảy của đời sống như nghe tiếng suối từ nguồn xa. Đồng thời chiều sâu triết lý hiện rõ ở câu “Ta vui đương lúc ta buồn”, nơi các trạng thái đối nghịch cùng tồn tại, diễn tả cảm thức vô thường của đời người.

Bên cạnh tiếng Việt của thơ thiền là tiếng Việt của Nguyễn Trãi, thứ tiếng Việt của tình người và lòng nhân ái. Trong bài thơ Ta hẵng yêu người, khi dẫn câu thơ Nguyễn Trãi: “Ta được thanh nhàn ta xá yêu”, Nhật Chiêu dường như tìm thấy trong truyền thống ấy một âm điệu gần gũi với mình:

“Ta hẵng yêu người

còn vui hay quên vui

đá lăn lóc vỡ đá

nước róc rách nát nước”

gợi một cảm thức triết lý về tình yêu đặt giữa dòng biến động và tan rã của đời sống. Hai câu đầu mang giọng điệu như một lời tự nhắc: hãy cứ yêu, dù còn vui hay đã quên vui. Tình yêu ở đây không phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc nhất thời, mà là một thái độ sống, yêu như một cách tồn tại giữa thế giới vô thường. Hai câu sau chuyển sang hình ảnh thiên nhiên với lối chơi chữ rất tài tình. Cặp từ “lăn lóc – lóc vỡ” và “róc rách – rách nát” tạo nên một chuỗi âm vang liên tiếp, vừa gợi chuyển động vừa gợi sự vỡ vụn. “Đá lăn lóc vỡ đá” diễn tả sự va đập làm chính đá cũng vỡ ra, còn “nước róc rách nát nước” diễn tả dòng chảy liên tục đến mức tự phân tán như một quy luật tất yếu của tồn tại. Nhờ lối chơi chữ này, âm thanh của câu thơ vừa gợi nhịp điệu thiên nhiên vừa gợi ý niệm vô thường, mọi vật đều vận động đến chỗ phân rã, ngay cả đá tưởng như bền chắc hay nước tưởng như mềm mại. Nhật Chiêu đưa ra một triết lý giản dị mà sâu sắc, giữa thế giới luôn vận động và tiêu tan, con người chỉ còn tình yêu như một giá trị có thể nắm giữ, nên “ta hẵng yêu người” như một cách chống lại sự phôi pha của đời sống.

Nếu Nguyễn Trãi là tiếng Việt của lòng người thì Nguyễn Du là tiếng Việt của thân phận, “tiếng khóc Kiều” vì thế trở thành trung tâm của cả một truyền thống. Điều đặc biệt là Nhật Chiêu không nhìn các thi sĩ cổ điển như những tượng đài xa cách. Trong thơ ông, họ hiện ra gần gũi như những người bạn cũ. Tiếng Việt vì thế không phải là di sản đã khép lại mà là một truyền thống đang sống động. Có lẽ vì vậy mà đọc thơ Nhật Chiêu nhiều khi ta có cảm giác như đang nghe tiếng Việt tự nói về mình.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”. Có những nhà thơ làm giàu cho tiếng Việt bằng những phát hiện mới, nhưng Nhật Chiêu còn làm một việc khác: ông làm cho người đọc nhận ra rằng tiếng Việt vốn đã đẹp từ nghìn đời.

Và khi đọc thơ ông, người ta chợt muốn hỏi một câu tưởng như rất đơn sơ mà không dễ trả lời: Ai yêu tiếng Việt như là Chiêu yêu?

Sài Gòn 2/2026.

Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số Tân xuân 2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm