- Lý luận - Phê bình
- “Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
LA MAI THI GIA
Có những nhà thơ đi khắp nơi, tìm cảm hứng từ những miền đất xa xôi, từ phong cảnh mới lạ hay những nền văn hóa khác nhau, đi để mở rộng thế giới của thơ mình, để tìm thi hứng. Nhưng với Nhật Chiêu, dường như hành trình ấy lại khác. Ông không cần đi xa để tìm nguồn cảm hứng, bởi chỉ cần trở về với tiếng Việt, đọc lại văn chương cổ điển và soi vào trái tim yêu văn hóa Việt đậm sâu của mình, thơ đã tự nhiên cất lên. Đọc Nghìn nghi lễ tình, ta có cảm giác nhà thơ đang lắng nghe một dòng suối tiếng Việt chảy qua thời gian, từ lời ru bên nôi đến thơ thiền thời Trần, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và rồi dòng chảy ấy vang lên thành thơ ông hôm nay.

Thơ Nhật Chiêu đã được nhiều nhà phê bình tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau. Có người nhấn mạnh chiều sâu thiền học; có người nói đến thiên nhiên và mỹ học của cái đẹp; có người chú ý đến sự giao thoa Đông – Tây trong thế giới nghệ thuật của ông. Hay như nhà văn Trần Thùy Mai cho rằng: Nhật Chiêu “viết những điều phức tạp nhất nhưng giản dị nhất”. Những nhận định ấy đều có cơ sở, bởi thơ Nhật Chiêu thực sự là một không gian suy tưởng rộng mở.
Tuy nhiên, bên dưới những tầng triết học và mỹ học ấy còn có một điều giản dị hơn: Nhật Chiêu trước hết là một người Việt Nam say mê tiếng Việt và am hiểu sâu sắc thi ca truyền thống của dân tộc. Có thể nói rằng, không nhiều người có thể đọc thơ Trần Nhân Tông hay Nguyễn Du một cách thấu triệt đến tận căn như ông thông qua những buổi nói chuyện của ông về di sản thơ của hai đại thi hào này khắp từ Nam ra Bắc.
Đọc Nghìn nghi lễ tình, người ta nhận ra rằng thơ của Nhật Chiêu không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một hành trình trở về, trở về với tiếng mẹ đẻ và chiều sâu của thi ca truyền thống. Bài viết này vì thế xin nhìn Nhật Chiêu từ một góc độ giản dị: như một nhà thơ của tiếng Việt và thi ca Việt, người đã biến tiếng mẹ đẻ thành ngôn linh, thành linh hồn của thơ mình.
Tiếng lòng – tiếng nước – tiếng thương
Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tình yêu tiếng mẹ của Nhật Chiêu trong Nghìn nghi lễ tình là bài Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi, ở đấy nhà thơ đã viết:
“Tiếng lòng từ thưở ta nôi
Tiếng thương từ độ đứng ngồi chưa yên”
Hai câu thơ gợi ra một quan niệm giàu tính triết lý về bản chất con người, lòng yêu thương đã nẩy mầm từ thuở sơ sinh và lớn lên cùng những xao động của đời sống, từ lời mẹ ru bên nôi đến những rung động thầm thì trai gái. “Tiếng lòng” là phần sâu kín và nguyên sơ của con người, còn “tiếng thương” là sự mở rộng của nội tâm khi con người bước vào thế giới và bắt đầu cảm nhận nỗi bất an, rung động của kiếp sống. Cách diễn đạt mộc mạc, nhịp điệu gần ca dao không chỉ làm câu thơ thêm thân thuộc mà còn gợi một triết lý nhân bản, con người tồn tại trước hết như một sinh thể biết yêu thương, và chính tình thương ấy tạo nên chiều sâu ý nghĩa của đời người.
“Ta từ tiếng nói bước ra
mang theo cả một tình ca muôn mùa”
Câu thơ này, theo tôi, có thể xem như một tuyên ngôn thi ca của Nhật Chiêu. Người thơ được sinh ra từ tiếng nói, tiếng mẹ. Câu thơ gợi lên một ý niệm gắn bó về mối quan hệ giữa con người và ngôn ngữ mẹ đẻ, như thể bản sắc và tâm hồn đều nảy sinh từ tiếng nói của nơi cắt rốn chôn nhau. Đồng thời, tiếng Việt còn là bản “tình ca muôn mùa”, một kho tàng tình cảm tích lũy qua bao thế hệ, nơi mỗi lời nói đều chứa đựng ký ức và tình thương, khiến nhà thơ đã phải thốt lên:
“Tiếng lòng ơi
tiếng nước ơi
ban sơ ta đã
thương rồi tình tang”
“Ban sơ ta đã thương rồi”, tình yêu tiếng Việt ở đây mang tính bản năng, giống như tình yêu của trẻ sơ sinh dành cho mẹ, trong ý thơ này của Nhật Chiêu, tiếng Việt trở thành một thứ tình cảm nguyên thủy có trước mọi ý thức. Nhà phê bình Nguyễn Thị Thanh Xuân từng nhận xét rằng Nhật Chiêu làm thơ “như đang thở” và thơ ông đến với người đọc “nhẹ nhàng như khí trời”. Chính sự tự nhiên ấy làm cho tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu mang cảm giác như một dòng chảy sống động và trong suốt.

Tác giả bài viết - Tiến sĩ La Mai Thi Gia và nhà văn Nhật Chiêu - tác giả "Nghìn nghi lễ tình"
Từ lời Tiên Dung đến tiếng khóc Kiều: ngọn nguồn tiếng Việt
Có lẽ không câu thơ nào trong Nghìn nghi lễ tình diễn tả rõ hơn tình yêu thi ca truyền thống của Nhật Chiêu bằng câu:
“Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều
Bước đi mỗi bước càng yêu nghìn đời”
Hai hình tượng Tiên Dung và Kiều đặt cạnh nhau đã mở ra cả một chiều dài văn hóa.
Tiên Dung là nàng công chúa trong truyền thuyết Chử Đồng Tử – người con gái dám cãi lại vua cha để đi theo tiếng gọi của tình yêu tự do và nhân tính tự nhiên. Vì vậy “lời Tiên Dung” chính là tiếng nói nguyên sơ của con người Việt Nam, thứ tiếng Việt gần với ca dao và dân ca, thứ tiếng Việt của lời ru, lời tỏ tình và sự chân thật.
Nếu “lời Tiên Dung” là tiếng Việt của buổi đầu thì “tiếng khóc Kiều” là tiếng Việt đã đi qua lịch sử. Kiều là nơi tiếng Việt đạt tới độ tinh luyện hiếm có, nơi nỗi đau con người được chuyển hóa thành âm điệu.
Từ Tiên Dung đến Kiều là cả một hành trình trưởng thành của tiếng Việt: từ huyền tích đến văn học cổ điển, từ lời nói dân gian đến ngôn ngữ thi ca bác học.
Nhưng tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu không dừng lại ở đó.
Trong tập Nghìn nghi lễ tình, những giọng thơ cổ điển khác của dân tộc cũng xuất hiện nhiều lần. Các thiền sư thời Trần như Trần Nhân Tông hay Trần Thái Tông được nhắc đến như những người đối thoại tinh thần. Những câu thơ thiền được gợi lại như một dòng chảy của ngôn ngữ tĩnh lặng và trong suốt. Tinh thần thiền ấy trở lại trong những câu thơ Nhật Chiêu trong bài Mưa không mặt nạ, nếu Trần Thái Tông dùng hình ảnh “Xuân vũ vô cao hạ” để diễn tả tinh thần bình đẳng và vô ngã của thiền học, thì Nhật Chiêu kế thừa tứ thơ ấy và phát triển thành một hình tượng mưa mang ý nghĩa triết lý và nhân sinh sâu rộng hơn: “tình cũng mưa đầy một cõi xuân”. Tình ở đây mang tính phổ quát như mưa xuân, lan tỏa khắp thế giới mà không có ranh giới, đồng thời mưa không chỉ là biểu tượng của bình đẳng mà còn là chu trình sinh diệt của đời sống:
“Mưa từ đời bay lên phù vân
mưa lại về chơi với bụi trần”
Bài thơ Bên nắng bên râm của Nhật Chiêu khởi đi từ câu thơ của Trần Nhân Tông “Hoa kính bán tình âm”, như một sự đối thoại với thi ca thiền Việt. Nếu thơ Trần Nhân Tông gợi một thế giới tĩnh lặng nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, thì Nhật Chiêu tiếp nối tinh thần ấy bằng giọng thơ hiện đại mà vẫn thấm đẫm phong vị cổ truyền. Hình ảnh:
“Ta về bên nắng bên râm
trong ta mây thoảng
chỗ nằm lá che”
gợi rõ một hành trình trở về với bản thể, rất gần với tinh thần thiền của Trần Nhân Tông, sống thuận theo tự nhiên và tìm sự an tĩnh trong nội tâm. Đến những câu:
“Đời ồn ta lặng lờ nghe
suối trong đang chảy
qua khe từ nguồn”,
gợi ý niệm quy hồi quen thuộc trong thơ thiền cổ, cái tôi trữ tình lặng lẽ lắng nghe dòng chảy của đời sống như nghe tiếng suối từ nguồn xa. Đồng thời chiều sâu triết lý hiện rõ ở câu “Ta vui đương lúc ta buồn”, nơi các trạng thái đối nghịch cùng tồn tại, diễn tả cảm thức vô thường của đời người.
Bên cạnh tiếng Việt của thơ thiền là tiếng Việt của Nguyễn Trãi, thứ tiếng Việt của tình người và lòng nhân ái. Trong bài thơ Ta hẵng yêu người, khi dẫn câu thơ Nguyễn Trãi: “Ta được thanh nhàn ta xá yêu”, Nhật Chiêu dường như tìm thấy trong truyền thống ấy một âm điệu gần gũi với mình:
“Ta hẵng yêu người
còn vui hay quên vui
đá lăn lóc vỡ đá
nước róc rách nát nước”
gợi một cảm thức triết lý về tình yêu đặt giữa dòng biến động và tan rã của đời sống. Hai câu đầu mang giọng điệu như một lời tự nhắc: hãy cứ yêu, dù còn vui hay đã quên vui. Tình yêu ở đây không phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc nhất thời, mà là một thái độ sống, yêu như một cách tồn tại giữa thế giới vô thường. Hai câu sau chuyển sang hình ảnh thiên nhiên với lối chơi chữ rất tài tình. Cặp từ “lăn lóc – lóc vỡ” và “róc rách – rách nát” tạo nên một chuỗi âm vang liên tiếp, vừa gợi chuyển động vừa gợi sự vỡ vụn. “Đá lăn lóc vỡ đá” diễn tả sự va đập làm chính đá cũng vỡ ra, còn “nước róc rách nát nước” diễn tả dòng chảy liên tục đến mức tự phân tán như một quy luật tất yếu của tồn tại. Nhờ lối chơi chữ này, âm thanh của câu thơ vừa gợi nhịp điệu thiên nhiên vừa gợi ý niệm vô thường, mọi vật đều vận động đến chỗ phân rã, ngay cả đá tưởng như bền chắc hay nước tưởng như mềm mại. Nhật Chiêu đưa ra một triết lý giản dị mà sâu sắc, giữa thế giới luôn vận động và tiêu tan, con người chỉ còn tình yêu như một giá trị có thể nắm giữ, nên “ta hẵng yêu người” như một cách chống lại sự phôi pha của đời sống.
Nếu Nguyễn Trãi là tiếng Việt của lòng người thì Nguyễn Du là tiếng Việt của thân phận, “tiếng khóc Kiều” vì thế trở thành trung tâm của cả một truyền thống. Điều đặc biệt là Nhật Chiêu không nhìn các thi sĩ cổ điển như những tượng đài xa cách. Trong thơ ông, họ hiện ra gần gũi như những người bạn cũ. Tiếng Việt vì thế không phải là di sản đã khép lại mà là một truyền thống đang sống động. Có lẽ vì vậy mà đọc thơ Nhật Chiêu nhiều khi ta có cảm giác như đang nghe tiếng Việt tự nói về mình.
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”. Có những nhà thơ làm giàu cho tiếng Việt bằng những phát hiện mới, nhưng Nhật Chiêu còn làm một việc khác: ông làm cho người đọc nhận ra rằng tiếng Việt vốn đã đẹp từ nghìn đời.
Và khi đọc thơ ông, người ta chợt muốn hỏi một câu tưởng như rất đơn sơ mà không dễ trả lời: Ai yêu tiếng Việt như là Chiêu yêu?
Sài Gòn 2/2026.
Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số Tân xuân 2026.