TIN TỨC

“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-05 10:29:50
mail facebook google pos stwis
263 lượt xem

LA MAI THI GIA

Có những nhà thơ đi khắp nơi, tìm cảm hứng từ những miền đất xa xôi, từ phong cảnh mới lạ hay những nền văn hóa khác nhau, đi để mở rộng thế giới của thơ mình, để tìm thi hứng. Nhưng với Nhật Chiêu, dường như hành trình ấy lại khác. Ông không cần đi xa để tìm nguồn cảm hứng, bởi chỉ cần trở về với tiếng Việt, đọc lại văn chương cổ điển và soi vào trái tim yêu văn hóa Việt đậm sâu của mình, thơ đã tự nhiên cất lên. Đọc Nghìn nghi lễ tình, ta có cảm giác nhà thơ đang lắng nghe một dòng suối tiếng Việt chảy qua thời gian, từ lời ru bên nôi đến thơ thiền thời Trần, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và rồi dòng chảy ấy vang lên thành thơ ông hôm nay.

Thơ Nhật Chiêu đã được nhiều nhà phê bình tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau. Có người nhấn mạnh chiều sâu thiền học; có người nói đến thiên nhiên và mỹ học của cái đẹp; có người chú ý đến sự giao thoa Đông – Tây trong thế giới nghệ thuật của ông. Hay như nhà văn Trần Thùy Mai cho rằng: Nhật Chiêu “viết những điều phức tạp nhất nhưng giản dị nhất”. Những nhận định ấy đều có cơ sở, bởi thơ Nhật Chiêu thực sự là một không gian suy tưởng rộng mở.

Tuy nhiên, bên dưới những tầng triết học và mỹ học ấy còn có một điều giản dị hơn: Nhật Chiêu trước hết là một người Việt Nam say mê tiếng Việt và am hiểu sâu sắc thi ca truyền thống của dân tộc. Có thể nói rằng, không nhiều người có thể đọc thơ Trần Nhân Tông hay Nguyễn Du một cách thấu triệt đến tận căn như ông thông qua những buổi nói chuyện của ông về di sản thơ của hai đại thi hào này khắp từ Nam ra Bắc.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, người ta nhận ra rằng thơ của Nhật Chiêu không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một hành trình trở về, trở về với tiếng mẹ đẻ và chiều sâu của thi ca truyền thống. Bài viết này vì thế xin nhìn Nhật Chiêu từ một góc độ giản dị: như một nhà thơ của tiếng Việt và thi ca Việt, người đã biến tiếng mẹ đẻ thành ngôn linh, thành linh hồn của thơ mình.

Tiếng lòng – tiếng nước – tiếng thương

Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tình yêu tiếng mẹ của Nhật Chiêu trong Nghìn nghi lễ tình là bài Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi, ở đấy nhà thơ đã viết:

“Tiếng lòng từ thưở ta nôi

Tiếng thương từ độ đứng ngồi chưa yên”

Hai câu thơ gợi ra một quan niệm giàu tính triết lý về bản chất con người, lòng yêu thương đã nẩy mầm từ thuở sơ sinh và lớn lên cùng những xao động của đời sống, từ lời mẹ ru bên nôi đến những rung động thầm thì trai gái. “Tiếng lòng” là phần sâu kín và nguyên sơ của con người, còn “tiếng thương” là sự mở rộng của nội tâm khi con người bước vào thế giới và bắt đầu cảm nhận nỗi bất an, rung động của kiếp sống. Cách diễn đạt mộc mạc, nhịp điệu gần ca dao không chỉ làm câu thơ thêm thân thuộc mà còn gợi một triết lý nhân bản, con người tồn tại trước hết như một sinh thể biết yêu thương, và chính tình thương ấy tạo nên chiều sâu ý nghĩa của đời người.

“Ta từ tiếng nói bước ra

mang theo cả một tình ca muôn mùa”

Câu thơ này, theo tôi, có thể xem như một tuyên ngôn thi ca của Nhật Chiêu. Người thơ được sinh ra từ tiếng nói, tiếng mẹ. Câu thơ gợi lên một ý niệm gắn bó về mối quan hệ giữa con người và ngôn ngữ mẹ đẻ, như thể bản sắc và tâm hồn đều nảy sinh từ tiếng nói của nơi cắt rốn chôn nhau. Đồng thời, tiếng Việt còn là bản “tình ca muôn mùa”, một kho tàng tình cảm tích lũy qua bao thế hệ, nơi mỗi lời nói đều chứa đựng ký ức và tình thương, khiến nhà thơ đã phải thốt lên:

“Tiếng lòng ơi

tiếng nước ơi

ban sơ ta đã

thương rồi tình tang”

“Ban sơ ta đã thương rồi”, tình yêu tiếng Việt ở đây mang tính bản năng, giống như tình yêu của trẻ sơ sinh dành cho mẹ, trong ý thơ này của Nhật Chiêu, tiếng Việt trở thành một thứ tình cảm nguyên thủy có trước mọi ý thức. Nhà phê bình Nguyễn Thị Thanh Xuân từng nhận xét rằng Nhật Chiêu làm thơ “như đang thở” và thơ ông đến với người đọc “nhẹ nhàng như khí trời”. Chính sự tự nhiên ấy làm cho tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu mang cảm giác như một dòng chảy sống động và trong suốt.

Tác giả bài viết - Tiến sĩ La Mai Thi Gia và nhà văn Nhật Chiêu - tác giả "Nghìn nghi lễ tình"
 

Từ lời Tiên Dung đến tiếng khóc Kiều: ngọn nguồn tiếng Việt

Có lẽ không câu thơ nào trong Nghìn nghi lễ tình diễn tả rõ hơn tình yêu thi ca truyền thống của Nhật Chiêu bằng câu:

“Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều

Bước đi mỗi bước càng yêu nghìn đời”

Hai hình tượng Tiên Dung và Kiều đặt cạnh nhau đã mở ra cả một chiều dài văn hóa.

Tiên Dung là nàng công chúa trong truyền thuyết Chử Đồng Tử – người con gái dám cãi lại vua cha để đi theo tiếng gọi của tình yêu tự do và nhân tính tự nhiên. Vì vậy “lời Tiên Dung” chính là tiếng nói nguyên sơ của con người Việt Nam, thứ tiếng Việt gần với ca dao và dân ca, thứ tiếng Việt của lời ru, lời tỏ tình và sự chân thật.

Nếu “lời Tiên Dung” là tiếng Việt của buổi đầu thì “tiếng khóc Kiều” là tiếng Việt đã đi qua lịch sử. Kiều là nơi tiếng Việt đạt tới độ tinh luyện hiếm có, nơi nỗi đau con người được chuyển hóa thành âm điệu.

Từ Tiên Dung đến Kiều là cả một hành trình trưởng thành của tiếng Việt: từ huyền tích đến văn học cổ điển, từ lời nói dân gian đến ngôn ngữ thi ca bác học.

Nhưng tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu không dừng lại ở đó.

Trong tập Nghìn nghi lễ tình, những giọng thơ cổ điển khác của dân tộc cũng xuất hiện nhiều lần. Các thiền sư thời Trần như Trần Nhân Tông hay Trần Thái Tông được nhắc đến như những người đối thoại tinh thần. Những câu thơ thiền được gợi lại như một dòng chảy của ngôn ngữ tĩnh lặng và trong suốt. Tinh thần thiền ấy trở lại trong những câu thơ Nhật Chiêu trong bài Mưa không mặt nạ, nếu Trần Thái Tông dùng hình ảnh “Xuân vũ vô cao hạ” để diễn tả tinh thần bình đẳng và vô ngã của thiền học, thì Nhật Chiêu kế thừa tứ thơ ấy và phát triển thành một hình tượng mưa mang ý nghĩa triết lý và nhân sinh sâu rộng hơn: “tình cũng mưa đầy một cõi xuân”. Tình ở đây mang tính phổ quát như mưa xuân, lan tỏa khắp thế giới mà không có ranh giới, đồng thời mưa không chỉ là biểu tượng của bình đẳng mà còn là chu trình sinh diệt của đời sống:

“Mưa từ đời bay lên phù vân

mưa lại về chơi với bụi trần”

Bài thơ Bên nắng bên râm của Nhật Chiêu khởi đi từ câu thơ của Trần Nhân Tông “Hoa kính bán tình âm”, như một sự đối thoại với thi ca thiền Việt. Nếu thơ Trần Nhân Tông gợi một thế giới tĩnh lặng nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, thì Nhật Chiêu tiếp nối tinh thần ấy bằng giọng thơ hiện đại mà vẫn thấm đẫm phong vị cổ truyền. Hình ảnh:

“Ta về bên nắng bên râm

trong ta mây thoảng

chỗ nằm lá che”

gợi rõ một hành trình trở về với bản thể, rất gần với tinh thần thiền của Trần Nhân Tông, sống thuận theo tự nhiên và tìm sự an tĩnh trong nội tâm. Đến những câu:

“Đời ồn ta lặng lờ nghe

suối trong đang chảy

qua khe từ nguồn”,

gợi ý niệm quy hồi quen thuộc trong thơ thiền cổ, cái tôi trữ tình lặng lẽ lắng nghe dòng chảy của đời sống như nghe tiếng suối từ nguồn xa. Đồng thời chiều sâu triết lý hiện rõ ở câu “Ta vui đương lúc ta buồn”, nơi các trạng thái đối nghịch cùng tồn tại, diễn tả cảm thức vô thường của đời người.

Bên cạnh tiếng Việt của thơ thiền là tiếng Việt của Nguyễn Trãi, thứ tiếng Việt của tình người và lòng nhân ái. Trong bài thơ Ta hẵng yêu người, khi dẫn câu thơ Nguyễn Trãi: “Ta được thanh nhàn ta xá yêu”, Nhật Chiêu dường như tìm thấy trong truyền thống ấy một âm điệu gần gũi với mình:

“Ta hẵng yêu người

còn vui hay quên vui

đá lăn lóc vỡ đá

nước róc rách nát nước”

gợi một cảm thức triết lý về tình yêu đặt giữa dòng biến động và tan rã của đời sống. Hai câu đầu mang giọng điệu như một lời tự nhắc: hãy cứ yêu, dù còn vui hay đã quên vui. Tình yêu ở đây không phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc nhất thời, mà là một thái độ sống, yêu như một cách tồn tại giữa thế giới vô thường. Hai câu sau chuyển sang hình ảnh thiên nhiên với lối chơi chữ rất tài tình. Cặp từ “lăn lóc – lóc vỡ” và “róc rách – rách nát” tạo nên một chuỗi âm vang liên tiếp, vừa gợi chuyển động vừa gợi sự vỡ vụn. “Đá lăn lóc vỡ đá” diễn tả sự va đập làm chính đá cũng vỡ ra, còn “nước róc rách nát nước” diễn tả dòng chảy liên tục đến mức tự phân tán như một quy luật tất yếu của tồn tại. Nhờ lối chơi chữ này, âm thanh của câu thơ vừa gợi nhịp điệu thiên nhiên vừa gợi ý niệm vô thường, mọi vật đều vận động đến chỗ phân rã, ngay cả đá tưởng như bền chắc hay nước tưởng như mềm mại. Nhật Chiêu đưa ra một triết lý giản dị mà sâu sắc, giữa thế giới luôn vận động và tiêu tan, con người chỉ còn tình yêu như một giá trị có thể nắm giữ, nên “ta hẵng yêu người” như một cách chống lại sự phôi pha của đời sống.

Nếu Nguyễn Trãi là tiếng Việt của lòng người thì Nguyễn Du là tiếng Việt của thân phận, “tiếng khóc Kiều” vì thế trở thành trung tâm của cả một truyền thống. Điều đặc biệt là Nhật Chiêu không nhìn các thi sĩ cổ điển như những tượng đài xa cách. Trong thơ ông, họ hiện ra gần gũi như những người bạn cũ. Tiếng Việt vì thế không phải là di sản đã khép lại mà là một truyền thống đang sống động. Có lẽ vì vậy mà đọc thơ Nhật Chiêu nhiều khi ta có cảm giác như đang nghe tiếng Việt tự nói về mình.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”. Có những nhà thơ làm giàu cho tiếng Việt bằng những phát hiện mới, nhưng Nhật Chiêu còn làm một việc khác: ông làm cho người đọc nhận ra rằng tiếng Việt vốn đã đẹp từ nghìn đời.

Và khi đọc thơ ông, người ta chợt muốn hỏi một câu tưởng như rất đơn sơ mà không dễ trả lời: Ai yêu tiếng Việt như là Chiêu yêu?

Sài Gòn 2/2026.

Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số Tân xuân 2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm