TIN TỨC

“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-05 10:29:50
mail facebook google pos stwis
75 lượt xem

LA MAI THI GIA

Có những nhà thơ đi khắp nơi, tìm cảm hứng từ những miền đất xa xôi, từ phong cảnh mới lạ hay những nền văn hóa khác nhau, đi để mở rộng thế giới của thơ mình, để tìm thi hứng. Nhưng với Nhật Chiêu, dường như hành trình ấy lại khác. Ông không cần đi xa để tìm nguồn cảm hứng, bởi chỉ cần trở về với tiếng Việt, đọc lại văn chương cổ điển và soi vào trái tim yêu văn hóa Việt đậm sâu của mình, thơ đã tự nhiên cất lên. Đọc Nghìn nghi lễ tình, ta có cảm giác nhà thơ đang lắng nghe một dòng suối tiếng Việt chảy qua thời gian, từ lời ru bên nôi đến thơ thiền thời Trần, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và rồi dòng chảy ấy vang lên thành thơ ông hôm nay.

Thơ Nhật Chiêu đã được nhiều nhà phê bình tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau. Có người nhấn mạnh chiều sâu thiền học; có người nói đến thiên nhiên và mỹ học của cái đẹp; có người chú ý đến sự giao thoa Đông – Tây trong thế giới nghệ thuật của ông. Hay như nhà văn Trần Thùy Mai cho rằng: Nhật Chiêu “viết những điều phức tạp nhất nhưng giản dị nhất”. Những nhận định ấy đều có cơ sở, bởi thơ Nhật Chiêu thực sự là một không gian suy tưởng rộng mở.

Tuy nhiên, bên dưới những tầng triết học và mỹ học ấy còn có một điều giản dị hơn: Nhật Chiêu trước hết là một người Việt Nam say mê tiếng Việt và am hiểu sâu sắc thi ca truyền thống của dân tộc. Có thể nói rằng, không nhiều người có thể đọc thơ Trần Nhân Tông hay Nguyễn Du một cách thấu triệt đến tận căn như ông thông qua những buổi nói chuyện của ông về di sản thơ của hai đại thi hào này khắp từ Nam ra Bắc.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, người ta nhận ra rằng thơ của Nhật Chiêu không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một hành trình trở về, trở về với tiếng mẹ đẻ và chiều sâu của thi ca truyền thống. Bài viết này vì thế xin nhìn Nhật Chiêu từ một góc độ giản dị: như một nhà thơ của tiếng Việt và thi ca Việt, người đã biến tiếng mẹ đẻ thành ngôn linh, thành linh hồn của thơ mình.

Tiếng lòng – tiếng nước – tiếng thương

Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tình yêu tiếng mẹ của Nhật Chiêu trong Nghìn nghi lễ tình là bài Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi, ở đấy nhà thơ đã viết:

“Tiếng lòng từ thưở ta nôi

Tiếng thương từ độ đứng ngồi chưa yên”

Hai câu thơ gợi ra một quan niệm giàu tính triết lý về bản chất con người, lòng yêu thương đã nẩy mầm từ thuở sơ sinh và lớn lên cùng những xao động của đời sống, từ lời mẹ ru bên nôi đến những rung động thầm thì trai gái. “Tiếng lòng” là phần sâu kín và nguyên sơ của con người, còn “tiếng thương” là sự mở rộng của nội tâm khi con người bước vào thế giới và bắt đầu cảm nhận nỗi bất an, rung động của kiếp sống. Cách diễn đạt mộc mạc, nhịp điệu gần ca dao không chỉ làm câu thơ thêm thân thuộc mà còn gợi một triết lý nhân bản, con người tồn tại trước hết như một sinh thể biết yêu thương, và chính tình thương ấy tạo nên chiều sâu ý nghĩa của đời người.

“Ta từ tiếng nói bước ra

mang theo cả một tình ca muôn mùa”

Câu thơ này, theo tôi, có thể xem như một tuyên ngôn thi ca của Nhật Chiêu. Người thơ được sinh ra từ tiếng nói, tiếng mẹ. Câu thơ gợi lên một ý niệm gắn bó về mối quan hệ giữa con người và ngôn ngữ mẹ đẻ, như thể bản sắc và tâm hồn đều nảy sinh từ tiếng nói của nơi cắt rốn chôn nhau. Đồng thời, tiếng Việt còn là bản “tình ca muôn mùa”, một kho tàng tình cảm tích lũy qua bao thế hệ, nơi mỗi lời nói đều chứa đựng ký ức và tình thương, khiến nhà thơ đã phải thốt lên:

“Tiếng lòng ơi

tiếng nước ơi

ban sơ ta đã

thương rồi tình tang”

“Ban sơ ta đã thương rồi”, tình yêu tiếng Việt ở đây mang tính bản năng, giống như tình yêu của trẻ sơ sinh dành cho mẹ, trong ý thơ này của Nhật Chiêu, tiếng Việt trở thành một thứ tình cảm nguyên thủy có trước mọi ý thức. Nhà phê bình Nguyễn Thị Thanh Xuân từng nhận xét rằng Nhật Chiêu làm thơ “như đang thở” và thơ ông đến với người đọc “nhẹ nhàng như khí trời”. Chính sự tự nhiên ấy làm cho tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu mang cảm giác như một dòng chảy sống động và trong suốt.

Tác giả bài viết - Tiến sĩ La Mai Thi Gia và nhà văn Nhật Chiêu - tác giả "Nghìn nghi lễ tình"
 

Từ lời Tiên Dung đến tiếng khóc Kiều: ngọn nguồn tiếng Việt

Có lẽ không câu thơ nào trong Nghìn nghi lễ tình diễn tả rõ hơn tình yêu thi ca truyền thống của Nhật Chiêu bằng câu:

“Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều

Bước đi mỗi bước càng yêu nghìn đời”

Hai hình tượng Tiên Dung và Kiều đặt cạnh nhau đã mở ra cả một chiều dài văn hóa.

Tiên Dung là nàng công chúa trong truyền thuyết Chử Đồng Tử – người con gái dám cãi lại vua cha để đi theo tiếng gọi của tình yêu tự do và nhân tính tự nhiên. Vì vậy “lời Tiên Dung” chính là tiếng nói nguyên sơ của con người Việt Nam, thứ tiếng Việt gần với ca dao và dân ca, thứ tiếng Việt của lời ru, lời tỏ tình và sự chân thật.

Nếu “lời Tiên Dung” là tiếng Việt của buổi đầu thì “tiếng khóc Kiều” là tiếng Việt đã đi qua lịch sử. Kiều là nơi tiếng Việt đạt tới độ tinh luyện hiếm có, nơi nỗi đau con người được chuyển hóa thành âm điệu.

Từ Tiên Dung đến Kiều là cả một hành trình trưởng thành của tiếng Việt: từ huyền tích đến văn học cổ điển, từ lời nói dân gian đến ngôn ngữ thi ca bác học.

Nhưng tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu không dừng lại ở đó.

Trong tập Nghìn nghi lễ tình, những giọng thơ cổ điển khác của dân tộc cũng xuất hiện nhiều lần. Các thiền sư thời Trần như Trần Nhân Tông hay Trần Thái Tông được nhắc đến như những người đối thoại tinh thần. Những câu thơ thiền được gợi lại như một dòng chảy của ngôn ngữ tĩnh lặng và trong suốt. Tinh thần thiền ấy trở lại trong những câu thơ Nhật Chiêu trong bài Mưa không mặt nạ, nếu Trần Thái Tông dùng hình ảnh “Xuân vũ vô cao hạ” để diễn tả tinh thần bình đẳng và vô ngã của thiền học, thì Nhật Chiêu kế thừa tứ thơ ấy và phát triển thành một hình tượng mưa mang ý nghĩa triết lý và nhân sinh sâu rộng hơn: “tình cũng mưa đầy một cõi xuân”. Tình ở đây mang tính phổ quát như mưa xuân, lan tỏa khắp thế giới mà không có ranh giới, đồng thời mưa không chỉ là biểu tượng của bình đẳng mà còn là chu trình sinh diệt của đời sống:

“Mưa từ đời bay lên phù vân

mưa lại về chơi với bụi trần”

Bài thơ Bên nắng bên râm của Nhật Chiêu khởi đi từ câu thơ của Trần Nhân Tông “Hoa kính bán tình âm”, như một sự đối thoại với thi ca thiền Việt. Nếu thơ Trần Nhân Tông gợi một thế giới tĩnh lặng nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, thì Nhật Chiêu tiếp nối tinh thần ấy bằng giọng thơ hiện đại mà vẫn thấm đẫm phong vị cổ truyền. Hình ảnh:

“Ta về bên nắng bên râm

trong ta mây thoảng

chỗ nằm lá che”

gợi rõ một hành trình trở về với bản thể, rất gần với tinh thần thiền của Trần Nhân Tông, sống thuận theo tự nhiên và tìm sự an tĩnh trong nội tâm. Đến những câu:

“Đời ồn ta lặng lờ nghe

suối trong đang chảy

qua khe từ nguồn”,

gợi ý niệm quy hồi quen thuộc trong thơ thiền cổ, cái tôi trữ tình lặng lẽ lắng nghe dòng chảy của đời sống như nghe tiếng suối từ nguồn xa. Đồng thời chiều sâu triết lý hiện rõ ở câu “Ta vui đương lúc ta buồn”, nơi các trạng thái đối nghịch cùng tồn tại, diễn tả cảm thức vô thường của đời người.

Bên cạnh tiếng Việt của thơ thiền là tiếng Việt của Nguyễn Trãi, thứ tiếng Việt của tình người và lòng nhân ái. Trong bài thơ Ta hẵng yêu người, khi dẫn câu thơ Nguyễn Trãi: “Ta được thanh nhàn ta xá yêu”, Nhật Chiêu dường như tìm thấy trong truyền thống ấy một âm điệu gần gũi với mình:

“Ta hẵng yêu người

còn vui hay quên vui

đá lăn lóc vỡ đá

nước róc rách nát nước”

gợi một cảm thức triết lý về tình yêu đặt giữa dòng biến động và tan rã của đời sống. Hai câu đầu mang giọng điệu như một lời tự nhắc: hãy cứ yêu, dù còn vui hay đã quên vui. Tình yêu ở đây không phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc nhất thời, mà là một thái độ sống, yêu như một cách tồn tại giữa thế giới vô thường. Hai câu sau chuyển sang hình ảnh thiên nhiên với lối chơi chữ rất tài tình. Cặp từ “lăn lóc – lóc vỡ” và “róc rách – rách nát” tạo nên một chuỗi âm vang liên tiếp, vừa gợi chuyển động vừa gợi sự vỡ vụn. “Đá lăn lóc vỡ đá” diễn tả sự va đập làm chính đá cũng vỡ ra, còn “nước róc rách nát nước” diễn tả dòng chảy liên tục đến mức tự phân tán như một quy luật tất yếu của tồn tại. Nhờ lối chơi chữ này, âm thanh của câu thơ vừa gợi nhịp điệu thiên nhiên vừa gợi ý niệm vô thường, mọi vật đều vận động đến chỗ phân rã, ngay cả đá tưởng như bền chắc hay nước tưởng như mềm mại. Nhật Chiêu đưa ra một triết lý giản dị mà sâu sắc, giữa thế giới luôn vận động và tiêu tan, con người chỉ còn tình yêu như một giá trị có thể nắm giữ, nên “ta hẵng yêu người” như một cách chống lại sự phôi pha của đời sống.

Nếu Nguyễn Trãi là tiếng Việt của lòng người thì Nguyễn Du là tiếng Việt của thân phận, “tiếng khóc Kiều” vì thế trở thành trung tâm của cả một truyền thống. Điều đặc biệt là Nhật Chiêu không nhìn các thi sĩ cổ điển như những tượng đài xa cách. Trong thơ ông, họ hiện ra gần gũi như những người bạn cũ. Tiếng Việt vì thế không phải là di sản đã khép lại mà là một truyền thống đang sống động. Có lẽ vì vậy mà đọc thơ Nhật Chiêu nhiều khi ta có cảm giác như đang nghe tiếng Việt tự nói về mình.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”. Có những nhà thơ làm giàu cho tiếng Việt bằng những phát hiện mới, nhưng Nhật Chiêu còn làm một việc khác: ông làm cho người đọc nhận ra rằng tiếng Việt vốn đã đẹp từ nghìn đời.

Và khi đọc thơ ông, người ta chợt muốn hỏi một câu tưởng như rất đơn sơ mà không dễ trả lời: Ai yêu tiếng Việt như là Chiêu yêu?

Sài Gòn 2/2026.

Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số Tân xuân 2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm