TIN TỨC

“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-05 10:29:50
mail facebook google pos stwis
415 lượt xem

LA MAI THI GIA

Có những nhà thơ đi khắp nơi, tìm cảm hứng từ những miền đất xa xôi, từ phong cảnh mới lạ hay những nền văn hóa khác nhau, đi để mở rộng thế giới của thơ mình, để tìm thi hứng. Nhưng với Nhật Chiêu, dường như hành trình ấy lại khác. Ông không cần đi xa để tìm nguồn cảm hứng, bởi chỉ cần trở về với tiếng Việt, đọc lại văn chương cổ điển và soi vào trái tim yêu văn hóa Việt đậm sâu của mình, thơ đã tự nhiên cất lên. Đọc Nghìn nghi lễ tình, ta có cảm giác nhà thơ đang lắng nghe một dòng suối tiếng Việt chảy qua thời gian, từ lời ru bên nôi đến thơ thiền thời Trần, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và rồi dòng chảy ấy vang lên thành thơ ông hôm nay.

Thơ Nhật Chiêu đã được nhiều nhà phê bình tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau. Có người nhấn mạnh chiều sâu thiền học; có người nói đến thiên nhiên và mỹ học của cái đẹp; có người chú ý đến sự giao thoa Đông – Tây trong thế giới nghệ thuật của ông. Hay như nhà văn Trần Thùy Mai cho rằng: Nhật Chiêu “viết những điều phức tạp nhất nhưng giản dị nhất”. Những nhận định ấy đều có cơ sở, bởi thơ Nhật Chiêu thực sự là một không gian suy tưởng rộng mở.

Tuy nhiên, bên dưới những tầng triết học và mỹ học ấy còn có một điều giản dị hơn: Nhật Chiêu trước hết là một người Việt Nam say mê tiếng Việt và am hiểu sâu sắc thi ca truyền thống của dân tộc. Có thể nói rằng, không nhiều người có thể đọc thơ Trần Nhân Tông hay Nguyễn Du một cách thấu triệt đến tận căn như ông thông qua những buổi nói chuyện của ông về di sản thơ của hai đại thi hào này khắp từ Nam ra Bắc.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, người ta nhận ra rằng thơ của Nhật Chiêu không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một hành trình trở về, trở về với tiếng mẹ đẻ và chiều sâu của thi ca truyền thống. Bài viết này vì thế xin nhìn Nhật Chiêu từ một góc độ giản dị: như một nhà thơ của tiếng Việt và thi ca Việt, người đã biến tiếng mẹ đẻ thành ngôn linh, thành linh hồn của thơ mình.

Tiếng lòng – tiếng nước – tiếng thương

Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tình yêu tiếng mẹ của Nhật Chiêu trong Nghìn nghi lễ tình là bài Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi, ở đấy nhà thơ đã viết:

“Tiếng lòng từ thưở ta nôi

Tiếng thương từ độ đứng ngồi chưa yên”

Hai câu thơ gợi ra một quan niệm giàu tính triết lý về bản chất con người, lòng yêu thương đã nẩy mầm từ thuở sơ sinh và lớn lên cùng những xao động của đời sống, từ lời mẹ ru bên nôi đến những rung động thầm thì trai gái. “Tiếng lòng” là phần sâu kín và nguyên sơ của con người, còn “tiếng thương” là sự mở rộng của nội tâm khi con người bước vào thế giới và bắt đầu cảm nhận nỗi bất an, rung động của kiếp sống. Cách diễn đạt mộc mạc, nhịp điệu gần ca dao không chỉ làm câu thơ thêm thân thuộc mà còn gợi một triết lý nhân bản, con người tồn tại trước hết như một sinh thể biết yêu thương, và chính tình thương ấy tạo nên chiều sâu ý nghĩa của đời người.

“Ta từ tiếng nói bước ra

mang theo cả một tình ca muôn mùa”

Câu thơ này, theo tôi, có thể xem như một tuyên ngôn thi ca của Nhật Chiêu. Người thơ được sinh ra từ tiếng nói, tiếng mẹ. Câu thơ gợi lên một ý niệm gắn bó về mối quan hệ giữa con người và ngôn ngữ mẹ đẻ, như thể bản sắc và tâm hồn đều nảy sinh từ tiếng nói của nơi cắt rốn chôn nhau. Đồng thời, tiếng Việt còn là bản “tình ca muôn mùa”, một kho tàng tình cảm tích lũy qua bao thế hệ, nơi mỗi lời nói đều chứa đựng ký ức và tình thương, khiến nhà thơ đã phải thốt lên:

“Tiếng lòng ơi

tiếng nước ơi

ban sơ ta đã

thương rồi tình tang”

“Ban sơ ta đã thương rồi”, tình yêu tiếng Việt ở đây mang tính bản năng, giống như tình yêu của trẻ sơ sinh dành cho mẹ, trong ý thơ này của Nhật Chiêu, tiếng Việt trở thành một thứ tình cảm nguyên thủy có trước mọi ý thức. Nhà phê bình Nguyễn Thị Thanh Xuân từng nhận xét rằng Nhật Chiêu làm thơ “như đang thở” và thơ ông đến với người đọc “nhẹ nhàng như khí trời”. Chính sự tự nhiên ấy làm cho tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu mang cảm giác như một dòng chảy sống động và trong suốt.

Tác giả bài viết - Tiến sĩ La Mai Thi Gia và nhà văn Nhật Chiêu - tác giả "Nghìn nghi lễ tình"
 

Từ lời Tiên Dung đến tiếng khóc Kiều: ngọn nguồn tiếng Việt

Có lẽ không câu thơ nào trong Nghìn nghi lễ tình diễn tả rõ hơn tình yêu thi ca truyền thống của Nhật Chiêu bằng câu:

“Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều

Bước đi mỗi bước càng yêu nghìn đời”

Hai hình tượng Tiên Dung và Kiều đặt cạnh nhau đã mở ra cả một chiều dài văn hóa.

Tiên Dung là nàng công chúa trong truyền thuyết Chử Đồng Tử – người con gái dám cãi lại vua cha để đi theo tiếng gọi của tình yêu tự do và nhân tính tự nhiên. Vì vậy “lời Tiên Dung” chính là tiếng nói nguyên sơ của con người Việt Nam, thứ tiếng Việt gần với ca dao và dân ca, thứ tiếng Việt của lời ru, lời tỏ tình và sự chân thật.

Nếu “lời Tiên Dung” là tiếng Việt của buổi đầu thì “tiếng khóc Kiều” là tiếng Việt đã đi qua lịch sử. Kiều là nơi tiếng Việt đạt tới độ tinh luyện hiếm có, nơi nỗi đau con người được chuyển hóa thành âm điệu.

Từ Tiên Dung đến Kiều là cả một hành trình trưởng thành của tiếng Việt: từ huyền tích đến văn học cổ điển, từ lời nói dân gian đến ngôn ngữ thi ca bác học.

Nhưng tiếng Việt trong thơ Nhật Chiêu không dừng lại ở đó.

Trong tập Nghìn nghi lễ tình, những giọng thơ cổ điển khác của dân tộc cũng xuất hiện nhiều lần. Các thiền sư thời Trần như Trần Nhân Tông hay Trần Thái Tông được nhắc đến như những người đối thoại tinh thần. Những câu thơ thiền được gợi lại như một dòng chảy của ngôn ngữ tĩnh lặng và trong suốt. Tinh thần thiền ấy trở lại trong những câu thơ Nhật Chiêu trong bài Mưa không mặt nạ, nếu Trần Thái Tông dùng hình ảnh “Xuân vũ vô cao hạ” để diễn tả tinh thần bình đẳng và vô ngã của thiền học, thì Nhật Chiêu kế thừa tứ thơ ấy và phát triển thành một hình tượng mưa mang ý nghĩa triết lý và nhân sinh sâu rộng hơn: “tình cũng mưa đầy một cõi xuân”. Tình ở đây mang tính phổ quát như mưa xuân, lan tỏa khắp thế giới mà không có ranh giới, đồng thời mưa không chỉ là biểu tượng của bình đẳng mà còn là chu trình sinh diệt của đời sống:

“Mưa từ đời bay lên phù vân

mưa lại về chơi với bụi trần”

Bài thơ Bên nắng bên râm của Nhật Chiêu khởi đi từ câu thơ của Trần Nhân Tông “Hoa kính bán tình âm”, như một sự đối thoại với thi ca thiền Việt. Nếu thơ Trần Nhân Tông gợi một thế giới tĩnh lặng nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, thì Nhật Chiêu tiếp nối tinh thần ấy bằng giọng thơ hiện đại mà vẫn thấm đẫm phong vị cổ truyền. Hình ảnh:

“Ta về bên nắng bên râm

trong ta mây thoảng

chỗ nằm lá che”

gợi rõ một hành trình trở về với bản thể, rất gần với tinh thần thiền của Trần Nhân Tông, sống thuận theo tự nhiên và tìm sự an tĩnh trong nội tâm. Đến những câu:

“Đời ồn ta lặng lờ nghe

suối trong đang chảy

qua khe từ nguồn”,

gợi ý niệm quy hồi quen thuộc trong thơ thiền cổ, cái tôi trữ tình lặng lẽ lắng nghe dòng chảy của đời sống như nghe tiếng suối từ nguồn xa. Đồng thời chiều sâu triết lý hiện rõ ở câu “Ta vui đương lúc ta buồn”, nơi các trạng thái đối nghịch cùng tồn tại, diễn tả cảm thức vô thường của đời người.

Bên cạnh tiếng Việt của thơ thiền là tiếng Việt của Nguyễn Trãi, thứ tiếng Việt của tình người và lòng nhân ái. Trong bài thơ Ta hẵng yêu người, khi dẫn câu thơ Nguyễn Trãi: “Ta được thanh nhàn ta xá yêu”, Nhật Chiêu dường như tìm thấy trong truyền thống ấy một âm điệu gần gũi với mình:

“Ta hẵng yêu người

còn vui hay quên vui

đá lăn lóc vỡ đá

nước róc rách nát nước”

gợi một cảm thức triết lý về tình yêu đặt giữa dòng biến động và tan rã của đời sống. Hai câu đầu mang giọng điệu như một lời tự nhắc: hãy cứ yêu, dù còn vui hay đã quên vui. Tình yêu ở đây không phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc nhất thời, mà là một thái độ sống, yêu như một cách tồn tại giữa thế giới vô thường. Hai câu sau chuyển sang hình ảnh thiên nhiên với lối chơi chữ rất tài tình. Cặp từ “lăn lóc – lóc vỡ” và “róc rách – rách nát” tạo nên một chuỗi âm vang liên tiếp, vừa gợi chuyển động vừa gợi sự vỡ vụn. “Đá lăn lóc vỡ đá” diễn tả sự va đập làm chính đá cũng vỡ ra, còn “nước róc rách nát nước” diễn tả dòng chảy liên tục đến mức tự phân tán như một quy luật tất yếu của tồn tại. Nhờ lối chơi chữ này, âm thanh của câu thơ vừa gợi nhịp điệu thiên nhiên vừa gợi ý niệm vô thường, mọi vật đều vận động đến chỗ phân rã, ngay cả đá tưởng như bền chắc hay nước tưởng như mềm mại. Nhật Chiêu đưa ra một triết lý giản dị mà sâu sắc, giữa thế giới luôn vận động và tiêu tan, con người chỉ còn tình yêu như một giá trị có thể nắm giữ, nên “ta hẵng yêu người” như một cách chống lại sự phôi pha của đời sống.

Nếu Nguyễn Trãi là tiếng Việt của lòng người thì Nguyễn Du là tiếng Việt của thân phận, “tiếng khóc Kiều” vì thế trở thành trung tâm của cả một truyền thống. Điều đặc biệt là Nhật Chiêu không nhìn các thi sĩ cổ điển như những tượng đài xa cách. Trong thơ ông, họ hiện ra gần gũi như những người bạn cũ. Tiếng Việt vì thế không phải là di sản đã khép lại mà là một truyền thống đang sống động. Có lẽ vì vậy mà đọc thơ Nhật Chiêu nhiều khi ta có cảm giác như đang nghe tiếng Việt tự nói về mình.

Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”. Có những nhà thơ làm giàu cho tiếng Việt bằng những phát hiện mới, nhưng Nhật Chiêu còn làm một việc khác: ông làm cho người đọc nhận ra rằng tiếng Việt vốn đã đẹp từ nghìn đời.

Và khi đọc thơ ông, người ta chợt muốn hỏi một câu tưởng như rất đơn sơ mà không dễ trả lời: Ai yêu tiếng Việt như là Chiêu yêu?

Sài Gòn 2/2026.

Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số Tân xuân 2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm