TIN TỨC

Hé mở tư tưởng của một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất lịch sử

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-01 00:45:57
mail facebook google pos stwis
10 lượt xem

Lần đầu tiên, toàn bộ những cuốn sổ tay của Albert Camus – nhà triết học, tiểu thuyết gia Pháp đoạt Nobel Văn học được tập hợp trong một ấn phẩm duy nhất. Không phải hồi kí đời tư hay nhật kí cảm xúc, những ghi chép này mở ra “xưởng tư tưởng” thầm lặng của Camus, nơi hình thành các tác phẩm lớn và cũng là nơi bộc lộ rõ nhất những hoài nghi, mâu thuẫn và bản lĩnh trí tuệ của một trong những gương mặt quan trọng nhất của tư tưởng thế kỉ XX.

Những cuốn sổ tay bước ra ánh sáng và tranh cãi phê bình kéo dài

Tập sổ tay đầu tiên của Albert Camus được xuất bản vào năm 1963, ba năm sau khi ông qua đời trong một tai nạn xe hơi khi mới 46 tuổi. Cuốn sách tập hợp những ghi chép từ năm 1935 đến 1942, giai đoạn Camus còn trẻ, chưa đoạt Nobel nhưng đã định hình những trăn trở tư tưởng cốt lõi của mình. Ngay khi ra mắt, tập sách đã tạo ra những phản ứng phê bình trái ngược trong giới trí thức Anh – Mĩ.

Trên The New Yorker, A.J. Liebling – nhà báo nổi tiếng và cũng là một người bạn của Camus dành cho những cuốn sổ tay sự ngưỡng mộ gần như tuyệt đối. Ông gọi chúng là “vô cùng thú vị” và là “một cuốn sách mà người đọc có thể mở ra ở bất kì trang nào và vẫn chắc chắn tìm thấy niềm vui”. Với Liebling, những ghi chép rời rạc ấy cho thấy trí tuệ sống động của Camus, đặc biệt là trong thời kì Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi ông giữ vai trò biên tập viên tờ Combat, cơ quan ngôn luận của phong trào Kháng chiến Pháp.

 

Một bức ảnh đen trắng chụp Albert Camus

 

Nhưng Susan Sontag, trong bài phê bình đăng trên The New York Review of Books, lại tiếp cận các sổ tay Camus bằng một thái độ hoàn toàn khác. Bà mở đầu bằng câu hỏi nổi tiếng: “Những nhà văn vĩ đại hoặc là chồng, hoặc là người tình.” Với vẻ điềm tĩnh, lí trí và phong thái đạo đức, Camus được Sontag xem như “người chồng lí tưởng của nền văn học đương đại”. Tuy nhiên, đó gần như là lời khen duy nhất.

Phần còn lại trong bài viết của Sontag là một sự phủ định thẳng thừng. “Camus có phải là một nhà tư tưởng quan trọng không? Câu trả lời là không,” bà viết, đồng thời chê các sổ tay là sơ sài, thiếu cá tính và “không hay”. Nhận định ấy đã trở thành một trong những phán quyết gây tranh cãi nhất về Camus, kéo dài cho đến tận ngày nay.

Nhiều tập sổ tay khác của Camus tiếp tục được xuất bản trong các thập niên sau đó, và giờ đây, lần đầu tiên, toàn bộ chúng được tập hợp đầy đủ trong “Tuyển tập sổ tay hoàn chỉnh”, do Ryan Bloom dịch sang tiếng Anh. Khi cầm trên tay cuốn sách dày hơn 700 trang, người đọc khó tránh khỏi việc nhớ lại hai tiếng nói đối lập của Liebling và Sontag – và tự hỏi: Camus trong những trang viết riêng tư này thực sự đứng về phía nào?

Không phải nhật kí đời tư, mà là tư tưởng của Camus

Điều quan trọng nhất cần làm rõ là: những cuốn sổ tay của Camus không phải nhật kí theo nghĩa thông thường. Chúng hầu như không chứa thông tin về gia đình, bạn bè, các mối quan hệ cá nhân hay đời sống thường nhật của ông. Camus là một con người cực kì kín đáo, ghét những lời đồn đoán và tránh mọi hình thức tự thú.

Sự dè dặt ấy thể hiện rõ trong những ghi chép xung quanh sự kiện ông nhận giải Nobel Văn học năm 1957, khi mới 44 tuổi. Thay vì niềm vui hay tự hào, Camus viết trong sổ tay: “Sợ hãi trước những gì đang xảy ra với mình, những điều mình không hề mong muốn.” Ông thừa nhận mình bị những cơn hoảng loạn. Vài ngày sau, ông ghi thêm: “Đừng bao giờ nói về tác phẩm của mình” và “Những người thực sự có điều muốn nói thì không bao giờ nói ra.”

Nếu không phải là nhật kí, vậy các sổ tay này là gì? Chúng chính là nơi Camus thử nghiệm tư tưởng, ghi lại những phác thảo triết học và mầm mống văn chương cho các tác phẩm lớn như Kẻ xa lạ, Dịch hạch và Sự sa ngã. Những chủ đề làm nên tên tuổi Camus – sự phi lí của tồn tại, cảm giác cô lập, tội lỗi, sự chuộc lỗi và khả năng phục hồi của con người – đều xuất hiện ở đây trong trạng thái chưa hoàn chỉnh, nhưng đầy sức nặng.

Tuyển tập sổ tay hoàn chỉnh. Tác giả: Albert Camus, Dịch giả: Ryan Bloom

 

Không có những lập luận triết học hệ thống, cũng không có tham vọng xây dựng học thuyết. Thay vào đó là những mảnh suy nghĩ, những câu hỏi bỏ ngỏ, những hình ảnh ám ảnh. Camus dường như chống lại chính việc trở thành “nhà tư tưởng” theo nghĩa hàn lâm, dù tư tưởng của ông lại có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều triết gia cùng thời.

Trong đại dịch Covid-19, không ít độc giả đã tìm đọc lại Dịch hạch và nhận ra sự thời sự đáng kinh ngạc của cuốn tiểu thuyết này. Nhân vật bác sĩ Rieux – người làm việc bền bỉ, từ chối vai trò anh hùng đã nói một câu trở thành biểu tượng: “Cách duy nhất để chống lại dịch bệnh là bằng sự tử tế.” Đó chính là đạo đức Camus: không cao giọng, không anh hùng ca, chỉ là trách nhiệm của con người trước con người.

Một Camus rất người: khoái lạc, mỉa mai và tinh thần Địa Trung Hải

Bên cạnh sự nghiêm cẩn và khắc kỉ, các sổ tay cũng hé lộ một Camus rất đời thường. Bản năng hưởng lạc của ông đôi khi được phép bộc lộ: những lần đi chơi với bạn bè, sự ngưỡng mộ vẻ đẹp phụ nữ trên đường phố, niềm vui của tình bạn nam giới bên điếu thuốc. Camus viết về “niềm vui tinh tế của việc cho hoặc xin lửa – một sự đồng lõa, một hội kín của điếu thuốc”.

Ông cũng không thiếu sự hài hước cay đắng. Năm 1949, Camus ghi lại: “Tôi luôn tự hỏi tại sao mình lại thu hút toàn những người thuộc giới thượng lưu. Toàn những chiếc mũ!” Những câu viết như vậy cho thấy một trí tuệ tỉnh táo, luôn giữ khoảng cách với chính danh tiếng của mình.

Tinh thần Địa Trung Hải – ánh nắng, biển cả, bơi lội – hiện diện đậm nét trong các sổ tay. Camus yêu du lịch nhưng ghét sự xa hoa phô trương. Ông cho rằng nỗi sợ hãi mới làm cho du lịch có giá trị, biến nó thành một “trải nghiệm khổ hạnh”. Ông ca ngợi thành phố Oran, Algeria, bởi những quán cà phê bụi bặm, những chiếc cốc sứt mẻ, nơi đời sống hiện ra trần trụi và chân thật.

Những cuốn sổ tay này, xét cho cùng, giống như mặt bàn bếp sau một bữa ăn: lộn xộn, không trật tự, nhưng vẫn còn lại hạt giống. Có những ngày thế giới nói dối, có những ngày nó nói thật – Camus viết khi mới 24 tuổi. Chính trong sự dang dở ấy, người đọc có thể gặp một Camus bằng xương bằng thịt: không phải tượng đài triết học, mà là một con người không ngừng nghi ngờ, tìm kiếm và chống lại cái phi lí bằng sự tử tế.

Bình Nguyên dịch

Văn Nghệ Quận Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Sự thật” về đại văn hào William Shakespeare đang khiến cả thế giới chấn động
Một cuốn sách mới vừa được xuất bản đang gây chấn động giới học thuật khi đưa ra tuyên bố gây tranh cãi rằng đại văn hào William Shakespeare thực chất là một phụ nữ Do Thái da màu.
Xem thêm
Mircea Cărtărescu: Thời vàng son của văn chương Đông Âu đang đến
Là một trong những nhà văn đương đại lớn nhất Romania nói riêng và châu Âu nói chung, mới đây, Solenoid thuộc bộ trilogy Blinding đã được phát hành tại Vương Quốc Anh. Trong bài phỏng vấn sau đây, Mircea Cărtărescu sẽ chia sẻ về tác phẩm đặc biệt này, sự ngưỡng mộ Vladimir Nabokov và những tin đồn quanh giải Nobel Văn chương.
Xem thêm
Nhà văn Peter Matthiessen: Ngọn núi lửa đã tắt
Peter Matthiessen là cây viết duy nhất tính cho đến nay đã đoạt giải Sách Quốc gia Mỹ ở cả hạng mục hư cấu lẫn phi hư cấu. Ông cũng chính là người đã sáng lập nên tạp chí văn chương The Paris Review nổi tiếng. Trong suốt một thời gian dài, việc liệu tờ tạp chí này có phải “bộ sậu” của Cục tình báo Mĩ CIA hay không vẫn là câu hỏi có phần bí ẩn. Trong cuốn tiểu sử mới True Nature: The Pilgrimage of Peter Matthiessen, tác giả Lance Richardson sẽ một lần nữa nhắc đến điều này.
Xem thêm
Tiếng nói không lời - Tiểu luận của Jon Fosse
Nhà văn Na Uy Jon Fosse bắt đầu sự nghiệp với văn xuôi, thơ ca, rồi sau là kịch. Trong dự án công diễn vở kịch Cái tên (de Namnet) ở Nhà hát Quốc gia Bergen, ông viết lời giới thiệu Tiếng nói không lời. Tiểu luận xoay quanh thứ ngôn ngữ lặng yên nằm giữa những dòng chữ, thứ ngôn ngữ không cất lời nhưng luôn mong mỏi được lắng nghe; cùng với đó là những suy tư về khả năng của sân khấu trong việc gìn giữ và mang đến tiếng nói như vậy. Vấn đề này sẽ còn liên tục trở lại trong những bài phỏng vấn, trao đổi hay cả trong diễn văn nhận giải Nobel Văn học năm 2023 của Fosse sau này.
Xem thêm
Han Kang: Viết là một cách để đặt câu hỏi
Giải Nobel Văn chương năm 2024 đã khẳng định vị thế của Han Kang như một trong những tiếng nói nổi bật nhất của văn chương Đông Á hiện nay. Tại Việt Nam, các tác phẩm của Han Kang đang ngày càng thu hút sự quan tâm và được đón nhận sâu rộng từ giới chuyên môn lẫn bạn đọc.
Xem thêm
Quang phổ con người
Tôi quen biết Micheal lần đầu tiên tại Hội chợ triển lãm sách lớn nhất hành tinh – Frankfurt messe năm 2023. Tôi dừng chân trước gian hàng sách của đất nước Ireland chỉ vì trong tuyển tập dịch thơ ca thế giới Thơ Không Tuổi của tôi có năm bài thơ của một thi sĩ lừng danh, người đoạt giải Nobel năm 1923, người con của đất nước này là William Butler Yeats.
Xem thêm
Chùm thơ Elisa Mascia
Elisa Mascia sinh tại Santa Croce di Magliano - Ý. Bà là nhà thơ, nhà văn, Người dẫn chương trình phát thanh, người đọc thơ song ngữ bằng tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, nhiếp ảnh gia, giảng viên và nhà phê bình, người đọc sách và người lồng tiếng. Là thành viên sáng lập và đã đăng ký tại WikiPoesia và Movimiento Poetas del Mundo. Chủ biên của tờ báo hàng ngày Alessandria today Magazine với hơn 2000 bài viết, blogger của nonsoloarteepoesiablog Magiche Emozioni dellanima, người thúc đẩy nghệ thuật, văn hóa thơ ca và văn học trên thế giới. Học giả - Quản trị viên - Giám đốc Truyền thông và Sự kiện - Điều phối viên của Ý tại Học viện Albap. Điều phối viên của Liên hoan Văn học Quốc tế Panorama (PILF) 2022-2023-2024, Điều phối viên của Liên hoan Nghệ thuật 2022-2023-2024, và là thành viên của Quỹ Văn chương Quốc tế (Writers Capital Foundation International). Người chịu trách nhiệm và là người lãnh đạo của International Biennial Agiography Iconography thuộc Writers Capital Foundation, Điều phối viên và Ban giám khảo của Giải thưởng Sách vàng Panorama của Ý năm 2024. Kể từ tháng 5 năm 2024, bà là thành viên chính thức của Ciesart do chủ tịch Tiến sĩ Lily Baylon Escritora bầu chọn, với sự ghi nhận về số lượng và sự công nhận của Đại sứ Văn hóa.
Xem thêm
Mối tình cuối cùng của Anton Chekhov
Những ngón tay gầy gò của cô có mùi phấn trang điểm và mùi cam thơm thơm. “Em là trang cuối cùng của anh,” Chekhov nói với cô. Và cô ấy khóc mỗi lần anh trở về Yalta. Chekhov cấm vợ rời bỏ sân khấu. Ông tin rằng tài năng của Olga lớn đến mức không thể bị chôn vùi. Hai người họ đã được định mệnh an bài sẽ có rất nhiều hạnh phúc nhưng lại chỉ còn ít năm tháng chung sống...
Xem thêm
Giới thiệu thơ Umid Najjari
Umid Najjari sinh ngày 15 tháng 4 năm 1989 tại Tabriz (Iran). Sau khi tốt nghiệp Đại học Hồi giáo Azad của Tabriz năm 2016, anh vào Đại học Baku Aurasia để tiếp tục học chuyên ngành Ngữ văn tại Cộng hòa Azerbaijan. Anh đã xuất bản “The land of the birds” (Tạm dịch: Vùng đất của những chú chim) và “Beyond the walls” (Tạm dịch: Bên kia những bức tường) bên cạnh một số bản dịch. Thơ của anh đã được xuất bản tại Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha, Ý, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Uzbekistan, Iraq, Kazakhstan, Georgia, Chile và trên các trang truyền thông Iran. Anh đã được trao bằng khen quốc tế đại hội LIFFT năm 2019. Anh giành Giải thưởng “IWA Bogdani” năm 2021, Giải thưởng “Mihai Eminescu” năm 2022. Anh cũng được trao Giải thưởng quốc tế Huy chương Alexandre Đại đế năm 2022. Najjari cũng đã được bầu làm Phó chủ tịch của hiệp hội các nhà văn quốc tế BOGDANI, có trụ sở tại Brussels và Pristina. Anh hiện là thành viên tích cực của Hiệp hội cây bút trẻ thế giới Turkic.
Xem thêm
Thơ Valentina Novkovich (Cộng hòa Serbia)
Nhà thơ Valentina Novkovich, đồng thời là nhà văn, dịch giả văn học, nhà báo của Cộng hòa Serbia. Chị tốt nghiệp Khoa Ngôn ngữ và Văn học Nga (ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh). Đã công bố thơ và văn xuôi trên nhiều tạp chí ở Serbia, như Književne novine, Trag, Književni pregled, Brankovina, Buktinja, Stremljenja, Savremenik, Istok, Balkanske vertikale; và trên các tạp chí điện tử Ekerman, Hyperboreja, Zvezdani kolod ở Nga, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Ba Lan, Romania, Macedonia, Kazakhstan.
Xem thêm
Giới thiệu thơ Maria Teresa Liuzzo (Italia)
Khâu những vạt áoMột dòng nước phun tràoRằng gió thắt nútBước đi của một đứa trẻ
Xem thêm
Quá trình trưởng thành đầy sóng gió của nhà thơ đoạt giải TS Eliot
Lớn lên ở Jamaica, từng nghĩ bà ngoại là mẹ mình, khi bà đã dạy anh học chữ viết trên hiên nhà với bảng đen. Bây giờ Jason Allen-Paisant dự định bay tới Ethiopia để gặp cha lần đầu tiên.
Xem thêm
Chùm thơ Oleg Ananyev (Cộng hòa Belarus)
Nhà thơ Ananyev Oleg Valentinovich, sinh ngày 12/9/1955, tại thị trấn Mordovo, vùng Tambov (Nga). Sống tại thành phố Gomel (thành phố lớn thứ hai của Belarus) từ năm 1957. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường đại học tổng hợp Francysk Skaryna, Gomel. Oleg Ananyev từng là nhà thiết kế đồ họa, người đề xướng trong Hội Tri thức Belarus, giáo viên văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thế giới, giám đốc phòng trưng bày nghệ thuật của BSH, phó giám đốc Thư viện khu vực Gomel. Ông là hội viên Hội Nhà văn Belarus, Hội Nghệ sĩ Belarus, Liên đoàn Nhà văn và Nghệ sĩ quốc tế; đồng thời là nhà phê bình nghệ thuật, nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch, nhà sử học địa phương. Oleg Ananyev là tác giả của một số tập thơ, người khởi xướng và tuyển chọn cuốn sách Исповедь в красках (tạm dịch: “Lời thú nhận trong màu sắc”, gồm 86 chương viết về các nghệ sĩ ở thành phố Gomel), Золотые купола (tạm dịch: Những mái vòm vàng. Viết về các nhà thờ ở Gomel); người khởi xướng và đồng tác giả dự án văn học nghệ thuật của Thư viện khu vực Gomel nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng vĩ đại Живая память моей семьи (tạm dịch: “Ký ức sống động của gia đình tôi”), đồng tác giả của tuyển tập vở kịch Последователи Макаёнка (tạm dịch: “Những người theo dõi Makayonka”). Đạt giải trong hơn 10 cuộc thi văn học ở các hạng mục “thơ” và “văn xuôi” (trong đó có hai lần mang tên Kirill Turovsky – “báo chí”). Ông đã được Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus trao tặng Huy hiệu Danh dự “Vì những đóng góp cho sự phát triển văn hóa Belarus”.
Xem thêm
Giới thiệu thơ Tetyana Hrytsan-Chonka (Ucraina)
Tetyana Vasylivna Hrytsan-Chonka - là nhà văn, nhà giáo dục người Ukraina. Bà sinh ngày 29 tháng 4 năm 1964 tại làng Vilkhivtsi, hiện đang cư trú tại Zakarpattia, phía tây nam của Ukraina. Bà là hội viên của Liên minh Nhà văn quốc gia Ukraina, thành viên Học viện Văn học, Nghệ thuật và Truyền thông quốc tế Gloria (Đức) và Tổ chức Công cộng Ukraina Kobzar. Tác giả của 12 tập thơ, tiểu thuyết và tiểu luận Những cánh cửa sống, hay tôi là quả táo mù của nhiều thế kỷ. Tôi là đàn bà.... Là đồng tác giả của 77 tuyển tập và niên giám, cả ấn phẩm của Ukraina và quốc tế, bao gồm Article - Tel Aviv, Soul (tuyển thơ Nhật Bản), Brzegi ognia I Wody (niên lịch Ba Lan), tạp chí văn học nghệ thuật TextOver; tuyển tập thơ quốc tế Lili Marleen (tiếng Hy Lạp); tuyển tập thơ Trung Quốc Thơ thế giới; có mặt trong tuyển tập thơ chống chiến tranh bằng tiếng Anh Những bài thơ cho nhân dân Ukraina; đồng tác giả cuốn sách giáo khoa dành cho học sinh Ukraina lớp 5 & 7 “Văn học hiện đại quê hương”. Là tác giả của tập thơ Azerbaijan-Ukraina Quả táo vàng, cùng những tập thơ khác. Các tác phẩm của bà đã được dịch sang tiếng Ba Lan, tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Azerbaijan và các ngôn ngữ khác. Bà là người Ukraina duy nhất tham gia tuyển tập Anatolian Wind IV - International Anthology (xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ). Là người duy nhất tham gia dự án Tạp chí quốc tế “Thần đồng” (Hoa Kỳ) tháng 10 năm 2023 trong chu kỳ “Thức tỉnh. Bà là người giữ kỷ lục, người tham gia tuyển tập quốc tế “HYPERPOEM” với 2000 người tham gia, đã được ghi vào kỷ lục của sách Guinness. Là đồng tác giả văn học thế giới trên báo quốc tế “Quốc gia toàn cầu” (Bangladesh). Các tác phẩm của bà được xuất bản trên các ấn phẩm quốc tế. Bà tham gia vào nhiều diễn đàn quốc tế Các nhà thơ của thế giới vì hòa bình ở Ukraina ở Ý, Đức, Anh, Trung Quốc, Canada, Mỹ, Bangladesh và Đức. Giải thưởng Văn học Hòa bình quốc tế (Đức-Ukraina). Là người đoạt các giải thưởng quốc tế và Ukraina, đồng thời là người chiến thắng trong nhiều cuộc thi, trong đó, đoạt Giải thưởng Văn học và Nghệ thuật quốc tế mang tên Panteleimon Kulish (2020) cho cuốn sách văn xuôi Những cánh cửa sống, hay tôi là một quả táo mù của nhiều thế kỷ. Tôi là phụ nữ, đoạt giải Franz Kafka quốc tế (Frankfurt-Vienna-Prague), đoạt giải Chiếc lông vàng quốc tế tại Azerbaijan, được trao bằng tốt nghiệp của Cộng đồng Nhân vật Văn học và Nghệ thuật Gloria, và được liệt kê trong bảng xếp hạng năm 2022 Người sáng tạo và Người giám hộ. Bà còn đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật quốc tế danh dự mang tên Heinrich Böll (2022); đoạt giải Cuộc thi Văn học Nghệ thuật quốc tế Ernest Hemingway tại Đức năm 2022, đoạt giải “Ngoại giao Văn hóa” quốc tế; được trao tặng danh hiệu Trật tự thế giới “Sao vàng ngoại giao văn hóa” (2023); đoạt Giải Văn học quốc tế mang tên Robert Burns (Scotland-Mỹ, Los Angeles) năm 2023; đoạt Giải Văn học Nghệ thuật mang tên Vasyl Yuhymovych (2023); được tờ báo nổi tiếng thế giới The Daily Global Nation Independent, Dhaka, Bangladesh vinh danh “Đại sứ hòa bình quốc tế” (Đức-Mỹ, 2023); giải “Cây cầu vàng” của Quỹ Văn học quốc tế ở Kyrgyzstan, đoạt giải thưởng quốc tế mang tên Dka de Rishelle ở hạng mục “Sách của năm” cho cuốn sách “Thời đại khác nhau” (Đức-Ukraina, 2023); giải thưởng của Quỹ Rahim Karimov (2023) ); Chủ tịch Quỹ Văn học quốc tế; đoạt Giải thưởng Văn học quốc tế mang tên Theodore Dreiser (Art Marathon, Bồ Đào Nha, 2023) và một số giải thưởng khác.
Xem thêm
Cuộc đời vẫn đẹp
Buổi sáng tôi thường dậy sớm để đi làm. Tôi thích nghe tiếng chim hót nên trên đường hay ngước mắt dõi theo những cánh chim dang rộng bay đi bắt côn trùng. Những chú chim sẻ ấy là các bạn đồng hành, giúp tôi thư giãn trước khi đến quảng trường nơi có thư viện mà tôi làm việc.
Xem thêm
Chùm thơ Trương Chí
Nhà thơ Trương Chí (张智, tên tiếng Anh: Zhang Zhi), sinh năm 1965 tại thị trấn Phượng Hoàng, huyện Đan Ba thuộc Châu tự trị dân tộc Tạng Cam Tư, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản, dịch giả uy tín của văn học Trung Quốc đương đại. Trương Chí là tiến sĩ văn học. Hiện là chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu và Dịch thuật quốc tế. Tổng biên tập Tạp chí Xuất bản Thơ quốc tế hàng quý (đa ngôn ngữ) và ấn bản tiếng Anh của Niên giám Thơ thế giới, đồng thời là cố vấn cho Trung tâm Toàn cầu hóa Thơ Trung Quốc bằng các ngôn ngữ quốc tế. Từ năm 1986, ông bắt đầu công bố tác phẩm văn học và dịch thuật của mình. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng quốc tế. Trương Chí từng đoạt giải thưởng Văn học của Hy Lạp, Brazil, Mỹ, Israel, Pháp, Ấn Độ, Ý, Áo, Lebanon, Macedonia, Nga, Nhật Bản, Ai Cập, Bỉ, Armenia và Kyrgyzstan. Các tác phẩm chính của ông bao gồm các tuyển tập thơ: Receita (tạm dịch: Mùa thu hoạch - Tiếng Bồ Đào Nha-Anh-Trung), Selected Poems of Diablo (tạm dịch: Những bài thơ chọn lọc của Diablo - Tiếng Anh), Poetry by Zhang Zhi (tạm dịch: Thơ Trương Chí - Tiếng Đức-Anh-Bồ Đào Nha), Những bài thơ chọn lọc của Diablo (tiếng Trung-Anh), A Jigsaw Picture of the World (tạm dịch Bức tranh ghép hình thế giới - Tiếng Albania), Feu Follet On Paper (tạm dịch: Làm yêu tinh trên giấy - Tiếng Ả Rập), Poison (tạm dịch: Chất độc - Tiếng Ả Rập) và The Mirror Image of Ghost City (tạm dịch: Hình phản chiếu của thành phố ma - Tiếng Serbia), Tuyển tập phê bình thơ có tựa đề Loạt bài tiểu luận về các nhà thơ Trung Quốc tiên phong, và bản dịch thơ A & 1 is the Founder (tạm dịch: A & 1 người sáng lập - Tiếng Anh-Trung), Tuyển tập các bài thơ của Tareq Samin (tiếng Anh-Trung), My Secret Lover, You (tạm dịch: Em, người tình bí mật của anh - Tiếng Trung), và dịch tiểu thuyết Назови имя бога của Savitskaya Svetlana Vasilievna, LB Nga (tạm dịch: Xưng danh Thiên Chúa - Tiếng Nga-Trung), v.v. Ngoài ra, ông còn biên tập cuốn sách Thơ chọn lọc của các nhà thơ quốc tế đương đại (tiếng Anh-Trung), Thơ Trung Quốc chọn lọc thế kỷ 20 (tiếng Trung-Anh), Từ điển các nhà thơ quốc tế đương đại (đa ngôn ngữ), Sách giáo khoa Trung-Anh: 300 bài thơ Trung Quốc đổi mới (1917 - 2012), và Kinh điển thế kỷ: 300 bài thơ Trung Quốc đổi mới (1917 - 2016), v.v.
Xem thêm
Mở vòng tay tình yêu | Chùm thơ Bill Wolak (Mỹ)
Bill Wolak là nhà thơ, nghệ sĩ tranh cắt dán kiêm nhiếp ảnh gia. Ông sinh sống tại New Jersey (Mỹ) và đã xuất bản 18 tập thơ.
Xem thêm