TIN TỨC

Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-02-11 19:45:13
mail facebook google pos stwis
2209 lượt xem

NGUYỄN THANH

Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”. Tư tưởng đúng đắn này được minh họa rõ nét qua cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp và bằng sự nghiệp văn chương đặc biệt của Bác. Riêng “tâm hồn lớn” của Bác, vị lãnh tụ yêu nước lỗi lạc mang tâm hồn thi sĩ tài hoa được thể hiện trong văn thơ của Người.


Ảnh: Internet

Tập thơ “Ngục trung nhật ký” (chữ Hán), Bác sáng tác khi bị giam giữ trong nhà lao của chế độ Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943 và nhiều bài thơ khác bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhất là những bài thơ xuân sẽ giúp ta cảm nhận được hồn xuân bàng bạc trong sáng tác của Người.

Đề tài mùa xuân luôn phong phú và vô tận. Thi ca Việt Nam và thế giới xưa nay có nhiều áng thơ xuân tuyệt bút. Nhưng từ một nguồn cảm xúc riêng đậm nét chủ quan, mỗi tác giả đã miêu tả chân dung, suy nghĩ một cách khác biệt về mùa xuân. Vào những ngày đầu năm, trong không khí ấm áp tươi vui của đất trời và cảnh vật, người người hồ hởi viếng thăm, chúc tụng nhau, dù bận rộn việc nước, năm nào Bác cũng không quên đọc thơ xuân chúc mừng chiến sĩ đồng bào cả nước vào đêm ba mươi Tết. Những vần thơ trong sáng, dạt dào tình cảm, qua giọng đọc quen thuộc, trìu mến của Người, lòng ta luôn bồi hồi như cảm nhận sâu xa được hồn xuân thiêng liêng sông núi biểu trưng bởi tấm lòng mênh mông của vị lãnh tụ vĩ đại muôn vàn kính yêu. Bác không chủ ý khai bút đề thơ xuân như các nhà thơ từ trước tới nay thường làm mà chỉ kỳ vọng mượn lời thơ chúc Tết đầu năm, thăm hỏi, nhắc nhở, động viên nhân dân hăng hái tham gia chiến đấu chống kẻ thù chung của dân tộc là Đế Quốc Mỹ:

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi.
(Mừng xuân 1967)

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.
(Mừng xuân 1968)

Bác luôn tin tưởng vào ngày chiến thắng vẻ vang, giải phóng dân tộc, đem độc lập tự do về cho Tổ quốc yêu thương:

Tin mừng thắng trận nở như hoa.
Mừng xuân 1967
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
(Mừng xuân 1968)

Hồn xuân trong thơ Bác chan hòa tinh thần đấu tranh cao đẹp luôn vang vọng như điệp khúc hùng tráng của bản khải hoàn ca:

Kháng chiến dân ta đang thắng lớn.
(Không đề, 20-3-1968)

Mỗi vần thơ xuân của Người là những giai điệu lạc quan ngập tràn âm hưởng rộn ràng tin yêu và hy vọng:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
(Mừng xuân 1969)

Sau những chiến thắng to lớn của quân dân ta vào cuối năm 1948 thời kháng Pháp, lúc còn ở Việt Bắc, thơ xuân của Bác càng biểu lộ phong thái ung dung đĩnh đạc của vị thống soái thiên tài giữa khung cảnh sông nước hữu tình trong một đêm nguyên tiêu lịch sử:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàng bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
(Nguyên tiêu, 1948)

Ngày xuân, theo tập quán truyền thống, mọi người thăm viếng để chúc nhau muôn điều tốt lành, Bác luôn làm thơ gởi tặng bầu bạn, đồng chí, thể hiện nỗi sung sướng nồng nàn của mình sau khi nghe tin vui thắng trận:

Tin vui thắng trận dồn chân ngựa,
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.
(Tặng cụ Bùi, 1948)

Son sắt một lòng với Đảng, ân tình thủy chung với nhân dân từng đùm bọc dưỡng nuôi trong kháng chiến gian khổ hiểm nguy, Bác cùng nhân dân tự hào được hưởng trọn vẹn niềm vui hội tụ non sông sau khi cuộc kháng chiến thành công:

Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa hạc cũ với xuân này.
(Cánh rừng Việt Bắc, 1947)

Thơ xuân của Bác thật bát ngát tình người, tình dân tộc và đậm đà tính nhân văn, tất cả ngần ấy yếu tố đã tạo nên những nét hồn xuân trong sáng, phơi phới và thanh cao trong những vần thơ tuyệt tác, thắm tươi cao quí như hoa mai hoa đào.

Thơ xuân của Bác không mang giá trị đơn thuần của những họa phẩm ấn tượng xinh tươi ngoạn mục với ánh sáng phất phới và màu sắc rực rỡ của hoa lá núi sông mà là những bức tranh thủy mặc linh động có hồn. Vì Bác làm thơ ngụ tình chủ yếu để gửi gấm tâm tư hoài bão của đời mình. Những chi tiết trong lời thơ của Người ở đây như sinh vật có hồn, nói thay cho con người những tuyệt vọng, niềm tin và ý chí không bao giờ thay đổi. Những vần thơ hào sảng mang hơi thở con người của Bác cũng khẳng định mạnh mẽ trước sự thắng lợi tất yếu của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đuổi giặc cứu nước và xây dựng non sông tự chủ ấm no hôm nay:

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.
(Không đề, 3-1968)

Phải chăng hồn xuân hòa quyện trong thơ Bác đã thể hiện dũng khí của trận chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu (1789) của Quang Trung, khí thế tiến công mãnh liệt của quân dân ta vào mùa xuân Mậu Thân lịch sử (1968) hoặc sức mạnh thần kỳ của chiến sĩ, cán bộ và nhân dân ta trong trận đại thắng mùa xuân 1975. Thơ xuân của Bác mãi mãi sẽ là tiền đề của bao nhiêu chiến thắng rực rỡ sau này của nhân dân Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội phồn thịnh vinh quang theo đúng như ước mong của Người trong di chúc:
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.

Xuân Tân Sửu, 2021

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm