TIN TỨC

Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-02-11 19:45:13
mail facebook google pos stwis
2187 lượt xem

NGUYỄN THANH

Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”. Tư tưởng đúng đắn này được minh họa rõ nét qua cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp và bằng sự nghiệp văn chương đặc biệt của Bác. Riêng “tâm hồn lớn” của Bác, vị lãnh tụ yêu nước lỗi lạc mang tâm hồn thi sĩ tài hoa được thể hiện trong văn thơ của Người.


Ảnh: Internet

Tập thơ “Ngục trung nhật ký” (chữ Hán), Bác sáng tác khi bị giam giữ trong nhà lao của chế độ Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943 và nhiều bài thơ khác bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhất là những bài thơ xuân sẽ giúp ta cảm nhận được hồn xuân bàng bạc trong sáng tác của Người.

Đề tài mùa xuân luôn phong phú và vô tận. Thi ca Việt Nam và thế giới xưa nay có nhiều áng thơ xuân tuyệt bút. Nhưng từ một nguồn cảm xúc riêng đậm nét chủ quan, mỗi tác giả đã miêu tả chân dung, suy nghĩ một cách khác biệt về mùa xuân. Vào những ngày đầu năm, trong không khí ấm áp tươi vui của đất trời và cảnh vật, người người hồ hởi viếng thăm, chúc tụng nhau, dù bận rộn việc nước, năm nào Bác cũng không quên đọc thơ xuân chúc mừng chiến sĩ đồng bào cả nước vào đêm ba mươi Tết. Những vần thơ trong sáng, dạt dào tình cảm, qua giọng đọc quen thuộc, trìu mến của Người, lòng ta luôn bồi hồi như cảm nhận sâu xa được hồn xuân thiêng liêng sông núi biểu trưng bởi tấm lòng mênh mông của vị lãnh tụ vĩ đại muôn vàn kính yêu. Bác không chủ ý khai bút đề thơ xuân như các nhà thơ từ trước tới nay thường làm mà chỉ kỳ vọng mượn lời thơ chúc Tết đầu năm, thăm hỏi, nhắc nhở, động viên nhân dân hăng hái tham gia chiến đấu chống kẻ thù chung của dân tộc là Đế Quốc Mỹ:

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi.
(Mừng xuân 1967)

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.
(Mừng xuân 1968)

Bác luôn tin tưởng vào ngày chiến thắng vẻ vang, giải phóng dân tộc, đem độc lập tự do về cho Tổ quốc yêu thương:

Tin mừng thắng trận nở như hoa.
Mừng xuân 1967
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
(Mừng xuân 1968)

Hồn xuân trong thơ Bác chan hòa tinh thần đấu tranh cao đẹp luôn vang vọng như điệp khúc hùng tráng của bản khải hoàn ca:

Kháng chiến dân ta đang thắng lớn.
(Không đề, 20-3-1968)

Mỗi vần thơ xuân của Người là những giai điệu lạc quan ngập tràn âm hưởng rộn ràng tin yêu và hy vọng:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
(Mừng xuân 1969)

Sau những chiến thắng to lớn của quân dân ta vào cuối năm 1948 thời kháng Pháp, lúc còn ở Việt Bắc, thơ xuân của Bác càng biểu lộ phong thái ung dung đĩnh đạc của vị thống soái thiên tài giữa khung cảnh sông nước hữu tình trong một đêm nguyên tiêu lịch sử:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàng bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
(Nguyên tiêu, 1948)

Ngày xuân, theo tập quán truyền thống, mọi người thăm viếng để chúc nhau muôn điều tốt lành, Bác luôn làm thơ gởi tặng bầu bạn, đồng chí, thể hiện nỗi sung sướng nồng nàn của mình sau khi nghe tin vui thắng trận:

Tin vui thắng trận dồn chân ngựa,
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.
(Tặng cụ Bùi, 1948)

Son sắt một lòng với Đảng, ân tình thủy chung với nhân dân từng đùm bọc dưỡng nuôi trong kháng chiến gian khổ hiểm nguy, Bác cùng nhân dân tự hào được hưởng trọn vẹn niềm vui hội tụ non sông sau khi cuộc kháng chiến thành công:

Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa hạc cũ với xuân này.
(Cánh rừng Việt Bắc, 1947)

Thơ xuân của Bác thật bát ngát tình người, tình dân tộc và đậm đà tính nhân văn, tất cả ngần ấy yếu tố đã tạo nên những nét hồn xuân trong sáng, phơi phới và thanh cao trong những vần thơ tuyệt tác, thắm tươi cao quí như hoa mai hoa đào.

Thơ xuân của Bác không mang giá trị đơn thuần của những họa phẩm ấn tượng xinh tươi ngoạn mục với ánh sáng phất phới và màu sắc rực rỡ của hoa lá núi sông mà là những bức tranh thủy mặc linh động có hồn. Vì Bác làm thơ ngụ tình chủ yếu để gửi gấm tâm tư hoài bão của đời mình. Những chi tiết trong lời thơ của Người ở đây như sinh vật có hồn, nói thay cho con người những tuyệt vọng, niềm tin và ý chí không bao giờ thay đổi. Những vần thơ hào sảng mang hơi thở con người của Bác cũng khẳng định mạnh mẽ trước sự thắng lợi tất yếu của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đuổi giặc cứu nước và xây dựng non sông tự chủ ấm no hôm nay:

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.
(Không đề, 3-1968)

Phải chăng hồn xuân hòa quyện trong thơ Bác đã thể hiện dũng khí của trận chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu (1789) của Quang Trung, khí thế tiến công mãnh liệt của quân dân ta vào mùa xuân Mậu Thân lịch sử (1968) hoặc sức mạnh thần kỳ của chiến sĩ, cán bộ và nhân dân ta trong trận đại thắng mùa xuân 1975. Thơ xuân của Bác mãi mãi sẽ là tiền đề của bao nhiêu chiến thắng rực rỡ sau này của nhân dân Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội phồn thịnh vinh quang theo đúng như ước mong của Người trong di chúc:
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.

Xuân Tân Sửu, 2021

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm