TIN TỨC

“Kẻ sĩ thời loạn” một diễn giải về lịch sử và kẻ sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-06 12:07:23
mail facebook google pos stwis
2326 lượt xem

NGUYỄN HOÀI NAM

Tiểu thuyết "Kẻ sĩ thời loạn" đã chuyển tải bức tranh toàn cảnh về chính trị xã hội thời Lê mạt, một thời đại đầy biến động trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Cách nay trên mười lăm năm, năm 2008, lấy cảm hứng từ việc đọc những nghiên cứu về loại hình học tác giả văn học trung đại Việt Nam của học giả Trần Ngọc Vương, và công trình Việt Nam thời Tây Sơn, Lịch sử nội chiến 1771-1802 của sử gia Tạ Chí Đại Trường, tôi đã viết một tiểu luận về Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-1788), đăng trên chuyên đề An ninh thế giới cuối tháng của báo Công an nhân dân, lấy tên Cánh chim bằng giữa trời loạn. Bài viết có đoạn kết: “Loạn thế xuất anh hùng, thời đại loạn lạc đã sản sinh Nguyễn Hữu Chỉnh, và đến lượt mình, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã kịp để lại dấu ấn đậm trên gương mặt thời đại. Mô hình nhân cách mà Nguyễn Hữu Chỉnh tự thể hiện, tự bộc lộ bằng chính cuộc đời mình, đó là kiểu con người vượt thoát ra ngoài sự ràng buộc của những tiêu chí thông thường, con người hành động với khát vọng tìm kiếm mọi con đường giải phóng mọi năng lực và tham vọng của mình - con người tự do. Chung cục không may mắn của cánh chim bằng giữa trời loạn này không có nghĩa là sự lựa chọn ấy sai lầm, mà chỉ có nghĩa là tầm cỡ tài năng ấy chưa đủ cho một sự lựa chọn như vậy mà thôi. Để kết lại bài viết nhỏ này, xin được nêu ra đây một suy nghĩ của cá nhân người viết: cái bi kịch của sự lỡ dở mà cuộc đời đầy sóng gió của Nguyễn Hữu Chỉnh bày ra trong lịch sử, đó là mảnh đất tuyệt vời cho các nhà tiểu thuyết khai thác. Vì, hơn cứ một thể loại nào khác, tiểu thuyết thực sự phù hợp với những điều không bao giờ hoàn kết. Nhưng không hiểu tại sao cho đến giờ phút này, các nhà tiểu thuyết lịch sử của chúng ta vẫn tỏ ra thiếu mặn mà với nhân vật lịch sử đầy hứa hẹn Nguyễn Hữu Chỉnh?”

“Lời kêu gọi” ấy, có thể nói như vậy, hoặc là không đủ sức mạnh dẫn dụ, hoặc đơn giản là không được nghe đến, nên nó dần trôi vào im lặng và lãng quên. Bất đồ, mười năm sau, vào hạ tuần tháng 4 năm 2018, trong một lần tao ngộ, nhà văn Vũ Ngọc Tiến thông báo với tôi rằng ông vừa mới hoàn thành tác phẩm Kẻ sĩ thời loạn, một cuốn tiểu thuyết lịch sử về thời cuối Lê, lấy Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh làm nhân vật trung tâm. Viết xong ông mới vô tình đọc được bài viết của tôi, thấy “xem ra cả hai có nhiều điểm chung khi nhìn nhận con người đầy phức tạp, rất khó đoán định này”. Và đấy, chính là cơ duyên khiến tôi được đọc Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến ngay khi nó còn ở dạng bản thảo.


Nhà văn Vũ Ngọc Tiến - Ảnh: Hội Nhà văn Việt Nam

Thật ra thì khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” - tức tiểu thuyết về một “quá khứ xa”, như trong quan niệm mang tính phổ biến - là không đủ để ôm trọn Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến. Tác phẩm bộn bề hơn thế. Vì ở tiểu thuyết này, ngoài truyện kể về thời Lê mạt với nhân vật trung tâm là Nguyễn Hữu Chỉnh, còn có truyện kể về thời hiện tại với cặp nhân vật chính là nhà di truyền học Duy Thiện và bà Hoàng Lan, hồng nhan tri kỷ của ông. Hai mạch truyện kể gắn với nhau theo cấu trúc truyện lồng trong truyện: Duy Thiện của thời hiện tại là người viết cuốn sách kể lại lịch sử cuộc đời của cụ tổ mình, tức Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh.

Cuốn sách ấy chiếm chín chương, từ chương 3 đến chương 11, trên tổng số mười hai chương của Kẻ sĩ thời loạn. Nhìn ở phương diện mô hình hóa tiểu thuyết, không quan tâm đến “lịch sử” hay không “lịch sử”, thì cấu trúc truyện lồng trong truyện và kiểu nhân vật - nhà văn mà Vũ Ngọc Tiến phô diễn ở đây không hề là một độc sáng đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Trước đấy, ít nhất, ta đã chứng kiến những điều này qua Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, “Made in Vietnam” của Thuận, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Khải huyền muộnCơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, và đương nhiên, không thể không kể đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.

Tuy nhiên, có một điểm khác: nếu các tác giả của những tiểu thuyết kể trên bị hút theo mỹ học của mê cung văn bản, của cái mờ nhòe mù mịt rối lẫn giữa các giọng kể, các mạch truyện trong cùng một tác phẩm, thì hiệu quả tự sự mà Vũ Ngọc Tiến muốn chiếm lĩnh trong Kẻ sĩ thời loạn lại là tính mạch lạc và sự sáng rõ. Để làm gì? Để hiện thực hóa kiểu tiểu thuyết giáo trình (Lesson novel) của văn chương Mỹ và phương Tây hiện đại mà ông vốn rất tâm đắc, nghĩa là dùng tiểu thuyết như một hình thức “mềm hóa” cho việc chuyển tải một giáo trình hoặc một lý thuyết chính trị học, xã hội học, kinh tế học, quân sự học, thậm chí sinh thái học... nào đó.

Ở đây, trong Kẻ sĩ thời loạn, cái được chuyển tải chính là bức tranh toàn cảnh về chính trị xã hội thời Lê mạt, một thời đại đầy biến động trong tiến trình lịch sử Việt Nam, một thời đại được đặc trưng bằng sự phân liệt và tranh chấp mạnh mẽ về quyền lực giữa các thế lực quân sự: Lê - Mạc, rồi Trịnh - Nguyễn, rồi cái thế chân vạc Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn. Một thời loạn. Được/bị hấp dẫn bởi ý niệm “giáo trình”, nên mặc lòng, từ giọng kể ngôi thứ ba hay chuyển dịch vào giọng kể của các nhân vật, nhà văn Vũ Ngọc Tiến vẫn luôn rất cặn kẽ khi trình bày từng diễn biến thời cuộc, từng bước tiến bước thoái, từng đoạn trồi sụt trong tương quan lực lượng giữa các bên, từng trận đánh, từng khúc rẽ mang ý nghĩa tác động đến kết quả toàn cục. Thậm chí, ngay cả những ngoại đề như việc xây dựng Hoàng thành và phủ Chúa (Trịnh) cũng được ông kể hết sức chi tiết, kỹ càng như trong một cuốn giáo khoa thư lịch sử.

Nhưng lịch sử vốn chẳng là gì khác ngoài là lịch sử của những diễn giải về lịch sử (F. Nietzsche: Lịch sử như nó vốn có là một cánh đồng lúa mì, lịch sử như ta biết (qua sự diễn giải) là những chiếc bánh mì). Bởi thế, dẫu có đặt mục tiêu vào một giáo trình lịch sử thì Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến cũng chỉ là diễn giải của riêng ông, trong tổng số những diễn giải lịch sử khả thể, về thời Lê mạt. Diễn giải ấy tập trung ở nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh, người mà theo các nguồn sử liệu khả tín hiện có, luôn phải chịu những đánh giá rất nặng từ phía những người sống cùng thời. Vũ Văn Nhậm từng nói với Nguyễn Huệ khi Nguyễn Hữu Chỉnh tham mưu cho Nguyễn Huệ đem quân đánh ra Thăng Long: “Kẻ kia lấy thân phận người tôi trốn tránh mà về đầu hàng với ta, trong bụng chỉ muốn được hả lòng với nước cũ, nên nhờ uy lực của ta để thành công” (Khâm định Việt sử Thông giám cương mục). Hay như Dực Tôn hoàng đế của nhà Nguyễn, tức vua Tự Đức, khi đọc sử đến đoạn Lê Chiêu Thống phải dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh để giữ yên ngai vàng: “Tình thế đã đến thế này, còn cứ nương tựa vào Chỉnh là thằng giặc tráo trở, lật lọng, khác nào chất củi lên giàn lửa thì còn phút nào yên được” (Sđd). Hay như lời hai viên Nội hàn của vua Lê trong “Hoàng Lê nhất thống chí”: “Chỉnh là hạng người ý nghĩ cực kỳ hiểm độc, bụng dạ quá ư tàn nhẫn, mưu mô hết sức sâu sắc, giả trá rất đỗi khôn ngoan, mà ứng biến thì mau lẹ tuyệt vời. Con người ấy thực là một kẻ gian hùng ở đời loạn”. Nếu xét từ hệ quy chiếu Nho giáo với những tín niệm thép về chữ “trung”, chữ “nghĩa”, trước những quy kết kể trên, hiển nhiên Nguyễn Hữu Chỉnh đã bị coi là một trong những gương mặt khả ố nhất của lịch sử Việt Nam thời trung đại.

Do vậy, diễn giải lịch sử của Vũ Ngọc Tiến trước hết là sự chiêu tuyết cho Nguyễn Hữu Chỉnh, và có thể thấy, đó là sự chiêu tuyết trên chính những nguyên tắc Nho giáo. Trong Kẻ sĩ thời loạn, nói đúng hơn, trong cuốn sách mà nhà di truyền học Duy Thiện viết để kể lại cuộc đời của cụ tổ mình, Nguyễn Hữu Chỉnh không hề là kẻ gian hùng, người phản phúc, lật lọng. Ông bỏ Trịnh theo Tây Sơn, đưa quân Tây Sơn ra đánh Bắc Hà, rồi lại bỏ Tây Sơn để diệt Trịnh phò Lê, nghênh ngang một cõi cho đến lúc bị Tây Sơn tận diệt, tất cả những quyết định ấy với Nguyễn Hữu Chỉnh đều là quyết định ở thế chân tường, là ngộ biến thì phải tòng quyền, không còn cách nào khác.

Tác giả đã hơn một lần cắt nghĩa về ý chí quyền lực và niềm khao khát tạo lập thân danh với đời của Nguyễn Hữu Chỉnh: ông nhập thế, thoạt tiên chỉ mong tìm được minh chủ để cống hiến toàn bộ tài năng và những phẩm chất cá nhân hơn người của mình. Nhưng không có minh chủ, hoặc có nhưng không xứng đáng, hoặc xứng đáng nhưng ông lại không được tin dùng.

Những sự cắc cớ ấy cứ lần lượt diễn ra, để rồi Nguyễn Hữu Chỉnh phải đi đến quyết định chung cục: ông sẽ tự mình làm minh chủ cho chính mình, không phụ thuộc bất cứ kẻ nào, tự mình trở thành một quyền lực dưới gầm trời này, tự mình thống nhất sơn hà, làm nên nghiệp lớn. Không phải để thỏa mãn cái nhu cầu được chi phối vận mệnh của muôn người trong thiên hạ, mà là để phụng vụ hết mình cho sự nghiệp “vì dân”. “Vì dân”, có thể nói, chính là tư tưởng xuyên suốt, là cái đích quan trọng nhất đời của Nguyễn Hữu Chỉnh, và cũng là hạt nhân trong sự tạo thành nhân cách “kẻ sĩ” nơi ông. Nói cách khác, đặt tư tưởng “vì dân” vào Nguyễn Hữu Chỉnh, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không những đã thực hiện một diễn giải khác về nhân vật lịch sử đầy phức tạp và rất khó đoán định này, hơn thế, ông còn tái kiến tạo một Nguyễn Hữu Chỉnh như hình mẫu cho “kẻ sĩ thời loạn” theo quan niệm của riêng mình: đó là người trí thức (Nho giáo) lập thân giữa cảnh đời biến loạn đảo điên, kẻ đã biết buông bỏ sách vở thánh hiền và những trầm tư đạo lý để trở thành con người hành động trong thực tế, hành động liên tục, quyết liệt, với một sự kiên trì hiếm thấy, một lòng dũng cảm vô bờ, một niềm đam mê cháy bỏng, hành động như một hy sinh đến cùng để đất nước được thái bình, muôn dân được yên ấm.

Trong Kẻ sĩ thời loạn, Nguyễn Hữu Chỉnh còn được soi rọi từ nhiều mối quan hệ với các nhân vật khác - đặc biệt là với nhân vật Nguyễn Huệ - theo nhiều chiều thời gian, cả đồng đại và lịch đại. Không khó để nhận thấy thời hiện tại ở đây đã hiện diện như một hình đồng dạng, hoặc một phiên bản của thời quá khứ - lịch sử tái lặp - với một vài chỉnh sửa nho nhỏ. Đây cũng là một thời loạn với tất cả những đặc trưng của nó: quan tham lại nhũng hoành hành, công lý bị chà đạp, pháp luật bị coi thường, người có thực tài bị dìm dập để cho kẻ cơ hội được ngạo mạn ngoi lên, dân lành bị bóc lột và hành hạ đến tận cùng, lòng người ly tán, tiếng cười đắc thắng của đồng tiền đã lấn át tiếng nói yếu ớt của lương tri.

Ở cái thời loạn hiện đại này, nhà di truyền học/kẻ sĩ Duy Thiện và các bạn của mình dĩ nhiên không thể thực hiện những công việc mà cụ tổ Nguyễn Hữu Chỉnh đã thực hiện: chiêu binh mãi mã, rèn kiếm luyện quân, sẵn sàng xông pha chiến địa để tranh hùng cùng các thế lực quân sự cát cứ khác. Nhưng tâm thế và mục tiêu hành động của họ thì không khác: đó là “vì dân”. “Vì dân” nên họ chấp nhận dấn thân vào một cuộc chiến không cân sức với tập đoàn tham nhũng họ Trịnh ở tỉnh H, những “ông vua con” nhân danh cán bộ đầy quyền lực, những kẻ “ăn hết của dân không chừa một cái gì”. “Vì dân” nên họ sẵn sàng chịu đựng mọi bầm dập về tinh thần và thể xác, thậm chí cả tính mạng, để tìm kiếm, tập hợp bằng chứng tố cáo tội ác của bè lũ quan tham, đặng trả lại danh dự và công lý cho những người dân thấp cổ bé họng. Nếu Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh “vì dân” đến tận lúc bị tứ mã phanh thây, thì Duy Thiện cháu ông cũng “vì dân” trong cả giấc mơ bất chợt sau bao năm tháng quằn quại trong bệnh viện tâm thần. “Vì dân”, với kẻ sĩ ở cả thời này và thời kia trong tác phẩm, đó không phải là khẩu hiệu, mà là một sự đặt cọc bằng máu.


Tiểu thuyết "Kẻ sĩ thời loạn" của nhà văn Vũ Ngọc Tiến - Ảnh: PN

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, tự sự lịch sử (tiểu thuyết, truyện ngắn) luôn nổi lên như một khuynh hướng sáng tác rất mạnh vào những thời điểm mang tính bản lề của tiến trình lịch sử xã hội, như giai đoạn 1920-1940 hay giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay. Đó là những thời điểm nước Việt Nam từ giã một môi sinh cũ để bước vào một môi sinh mới, mang tính quốc tế hóa rộng hơn, đa dạng và phức tạp hơn. Cuộc cọ xát quốc tế ấy đặt ra nhiều câu hỏi bức thiết, buộc người Việt Nam phải tự nhìn lại, tái phát hiện và tái định vị căn cước dân tộc của mình.

Nhiều nhà văn đã quay về, đào sâu vào những vỉa tầng hồi ức trong quá khứ là vì thế. Có thể kể ra ở đây vài cái tên: Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Thái Bá Lợi, Lưu Sơn Minh, Trần Thanh Cảnh, Thiên Sơn, Nguyễn Hữu Nam, v.v... và không thể thiếu Vũ Ngọc Tiến (trước đấy ông cũng đã có hai tiểu thuyết lịch sử đáng kể là Sóng hận sông LôQuỷ vương). Có thể nói, tìm câu trả lời cho hiện tại ở quá khứ đã thực sự là một hướng đi khả thi. Khi ấy, lịch sử được trưng dụng bằng nhiều cách: thêm vào, làm cho rõ hơn, phản biện, tái diễn giải, thậm chí tái kiến tạo. Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh trong tác phẩm Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến, theo tôi, thuộc về kiểu nhân vật lịch sử được tái kiến tạo. Người đọc có thể sẽ phải tranh luận khá nhiều về tư tưởng “vì dân” của nhân vật này, nhưng không thể phủ nhận đấy chính là một đòi hỏi đau đớn của thời hiện tại, của một xã hội dân sự mà quyền công dân của nhiều bộ phận cư dân còn chưa được tôn trọng đúng mức.

Nói lịch sử cũng chính là hiện tại, là vì thế.

Nguồn: Văn nghệ điện tử

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm