TIN TỨC

“Kẻ sĩ thời loạn” một diễn giải về lịch sử và kẻ sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-06 12:07:23
mail facebook google pos stwis
1632 lượt xem

NGUYỄN HOÀI NAM

Tiểu thuyết "Kẻ sĩ thời loạn" đã chuyển tải bức tranh toàn cảnh về chính trị xã hội thời Lê mạt, một thời đại đầy biến động trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Cách nay trên mười lăm năm, năm 2008, lấy cảm hứng từ việc đọc những nghiên cứu về loại hình học tác giả văn học trung đại Việt Nam của học giả Trần Ngọc Vương, và công trình Việt Nam thời Tây Sơn, Lịch sử nội chiến 1771-1802 của sử gia Tạ Chí Đại Trường, tôi đã viết một tiểu luận về Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-1788), đăng trên chuyên đề An ninh thế giới cuối tháng của báo Công an nhân dân, lấy tên Cánh chim bằng giữa trời loạn. Bài viết có đoạn kết: “Loạn thế xuất anh hùng, thời đại loạn lạc đã sản sinh Nguyễn Hữu Chỉnh, và đến lượt mình, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã kịp để lại dấu ấn đậm trên gương mặt thời đại. Mô hình nhân cách mà Nguyễn Hữu Chỉnh tự thể hiện, tự bộc lộ bằng chính cuộc đời mình, đó là kiểu con người vượt thoát ra ngoài sự ràng buộc của những tiêu chí thông thường, con người hành động với khát vọng tìm kiếm mọi con đường giải phóng mọi năng lực và tham vọng của mình - con người tự do. Chung cục không may mắn của cánh chim bằng giữa trời loạn này không có nghĩa là sự lựa chọn ấy sai lầm, mà chỉ có nghĩa là tầm cỡ tài năng ấy chưa đủ cho một sự lựa chọn như vậy mà thôi. Để kết lại bài viết nhỏ này, xin được nêu ra đây một suy nghĩ của cá nhân người viết: cái bi kịch của sự lỡ dở mà cuộc đời đầy sóng gió của Nguyễn Hữu Chỉnh bày ra trong lịch sử, đó là mảnh đất tuyệt vời cho các nhà tiểu thuyết khai thác. Vì, hơn cứ một thể loại nào khác, tiểu thuyết thực sự phù hợp với những điều không bao giờ hoàn kết. Nhưng không hiểu tại sao cho đến giờ phút này, các nhà tiểu thuyết lịch sử của chúng ta vẫn tỏ ra thiếu mặn mà với nhân vật lịch sử đầy hứa hẹn Nguyễn Hữu Chỉnh?”

“Lời kêu gọi” ấy, có thể nói như vậy, hoặc là không đủ sức mạnh dẫn dụ, hoặc đơn giản là không được nghe đến, nên nó dần trôi vào im lặng và lãng quên. Bất đồ, mười năm sau, vào hạ tuần tháng 4 năm 2018, trong một lần tao ngộ, nhà văn Vũ Ngọc Tiến thông báo với tôi rằng ông vừa mới hoàn thành tác phẩm Kẻ sĩ thời loạn, một cuốn tiểu thuyết lịch sử về thời cuối Lê, lấy Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh làm nhân vật trung tâm. Viết xong ông mới vô tình đọc được bài viết của tôi, thấy “xem ra cả hai có nhiều điểm chung khi nhìn nhận con người đầy phức tạp, rất khó đoán định này”. Và đấy, chính là cơ duyên khiến tôi được đọc Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến ngay khi nó còn ở dạng bản thảo.


Nhà văn Vũ Ngọc Tiến - Ảnh: Hội Nhà văn Việt Nam

Thật ra thì khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” - tức tiểu thuyết về một “quá khứ xa”, như trong quan niệm mang tính phổ biến - là không đủ để ôm trọn Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến. Tác phẩm bộn bề hơn thế. Vì ở tiểu thuyết này, ngoài truyện kể về thời Lê mạt với nhân vật trung tâm là Nguyễn Hữu Chỉnh, còn có truyện kể về thời hiện tại với cặp nhân vật chính là nhà di truyền học Duy Thiện và bà Hoàng Lan, hồng nhan tri kỷ của ông. Hai mạch truyện kể gắn với nhau theo cấu trúc truyện lồng trong truyện: Duy Thiện của thời hiện tại là người viết cuốn sách kể lại lịch sử cuộc đời của cụ tổ mình, tức Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh.

Cuốn sách ấy chiếm chín chương, từ chương 3 đến chương 11, trên tổng số mười hai chương của Kẻ sĩ thời loạn. Nhìn ở phương diện mô hình hóa tiểu thuyết, không quan tâm đến “lịch sử” hay không “lịch sử”, thì cấu trúc truyện lồng trong truyện và kiểu nhân vật - nhà văn mà Vũ Ngọc Tiến phô diễn ở đây không hề là một độc sáng đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Trước đấy, ít nhất, ta đã chứng kiến những điều này qua Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, “Made in Vietnam” của Thuận, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Khải huyền muộnCơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, và đương nhiên, không thể không kể đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.

Tuy nhiên, có một điểm khác: nếu các tác giả của những tiểu thuyết kể trên bị hút theo mỹ học của mê cung văn bản, của cái mờ nhòe mù mịt rối lẫn giữa các giọng kể, các mạch truyện trong cùng một tác phẩm, thì hiệu quả tự sự mà Vũ Ngọc Tiến muốn chiếm lĩnh trong Kẻ sĩ thời loạn lại là tính mạch lạc và sự sáng rõ. Để làm gì? Để hiện thực hóa kiểu tiểu thuyết giáo trình (Lesson novel) của văn chương Mỹ và phương Tây hiện đại mà ông vốn rất tâm đắc, nghĩa là dùng tiểu thuyết như một hình thức “mềm hóa” cho việc chuyển tải một giáo trình hoặc một lý thuyết chính trị học, xã hội học, kinh tế học, quân sự học, thậm chí sinh thái học... nào đó.

Ở đây, trong Kẻ sĩ thời loạn, cái được chuyển tải chính là bức tranh toàn cảnh về chính trị xã hội thời Lê mạt, một thời đại đầy biến động trong tiến trình lịch sử Việt Nam, một thời đại được đặc trưng bằng sự phân liệt và tranh chấp mạnh mẽ về quyền lực giữa các thế lực quân sự: Lê - Mạc, rồi Trịnh - Nguyễn, rồi cái thế chân vạc Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn. Một thời loạn. Được/bị hấp dẫn bởi ý niệm “giáo trình”, nên mặc lòng, từ giọng kể ngôi thứ ba hay chuyển dịch vào giọng kể của các nhân vật, nhà văn Vũ Ngọc Tiến vẫn luôn rất cặn kẽ khi trình bày từng diễn biến thời cuộc, từng bước tiến bước thoái, từng đoạn trồi sụt trong tương quan lực lượng giữa các bên, từng trận đánh, từng khúc rẽ mang ý nghĩa tác động đến kết quả toàn cục. Thậm chí, ngay cả những ngoại đề như việc xây dựng Hoàng thành và phủ Chúa (Trịnh) cũng được ông kể hết sức chi tiết, kỹ càng như trong một cuốn giáo khoa thư lịch sử.

Nhưng lịch sử vốn chẳng là gì khác ngoài là lịch sử của những diễn giải về lịch sử (F. Nietzsche: Lịch sử như nó vốn có là một cánh đồng lúa mì, lịch sử như ta biết (qua sự diễn giải) là những chiếc bánh mì). Bởi thế, dẫu có đặt mục tiêu vào một giáo trình lịch sử thì Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến cũng chỉ là diễn giải của riêng ông, trong tổng số những diễn giải lịch sử khả thể, về thời Lê mạt. Diễn giải ấy tập trung ở nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh, người mà theo các nguồn sử liệu khả tín hiện có, luôn phải chịu những đánh giá rất nặng từ phía những người sống cùng thời. Vũ Văn Nhậm từng nói với Nguyễn Huệ khi Nguyễn Hữu Chỉnh tham mưu cho Nguyễn Huệ đem quân đánh ra Thăng Long: “Kẻ kia lấy thân phận người tôi trốn tránh mà về đầu hàng với ta, trong bụng chỉ muốn được hả lòng với nước cũ, nên nhờ uy lực của ta để thành công” (Khâm định Việt sử Thông giám cương mục). Hay như Dực Tôn hoàng đế của nhà Nguyễn, tức vua Tự Đức, khi đọc sử đến đoạn Lê Chiêu Thống phải dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh để giữ yên ngai vàng: “Tình thế đã đến thế này, còn cứ nương tựa vào Chỉnh là thằng giặc tráo trở, lật lọng, khác nào chất củi lên giàn lửa thì còn phút nào yên được” (Sđd). Hay như lời hai viên Nội hàn của vua Lê trong “Hoàng Lê nhất thống chí”: “Chỉnh là hạng người ý nghĩ cực kỳ hiểm độc, bụng dạ quá ư tàn nhẫn, mưu mô hết sức sâu sắc, giả trá rất đỗi khôn ngoan, mà ứng biến thì mau lẹ tuyệt vời. Con người ấy thực là một kẻ gian hùng ở đời loạn”. Nếu xét từ hệ quy chiếu Nho giáo với những tín niệm thép về chữ “trung”, chữ “nghĩa”, trước những quy kết kể trên, hiển nhiên Nguyễn Hữu Chỉnh đã bị coi là một trong những gương mặt khả ố nhất của lịch sử Việt Nam thời trung đại.

Do vậy, diễn giải lịch sử của Vũ Ngọc Tiến trước hết là sự chiêu tuyết cho Nguyễn Hữu Chỉnh, và có thể thấy, đó là sự chiêu tuyết trên chính những nguyên tắc Nho giáo. Trong Kẻ sĩ thời loạn, nói đúng hơn, trong cuốn sách mà nhà di truyền học Duy Thiện viết để kể lại cuộc đời của cụ tổ mình, Nguyễn Hữu Chỉnh không hề là kẻ gian hùng, người phản phúc, lật lọng. Ông bỏ Trịnh theo Tây Sơn, đưa quân Tây Sơn ra đánh Bắc Hà, rồi lại bỏ Tây Sơn để diệt Trịnh phò Lê, nghênh ngang một cõi cho đến lúc bị Tây Sơn tận diệt, tất cả những quyết định ấy với Nguyễn Hữu Chỉnh đều là quyết định ở thế chân tường, là ngộ biến thì phải tòng quyền, không còn cách nào khác.

Tác giả đã hơn một lần cắt nghĩa về ý chí quyền lực và niềm khao khát tạo lập thân danh với đời của Nguyễn Hữu Chỉnh: ông nhập thế, thoạt tiên chỉ mong tìm được minh chủ để cống hiến toàn bộ tài năng và những phẩm chất cá nhân hơn người của mình. Nhưng không có minh chủ, hoặc có nhưng không xứng đáng, hoặc xứng đáng nhưng ông lại không được tin dùng.

Những sự cắc cớ ấy cứ lần lượt diễn ra, để rồi Nguyễn Hữu Chỉnh phải đi đến quyết định chung cục: ông sẽ tự mình làm minh chủ cho chính mình, không phụ thuộc bất cứ kẻ nào, tự mình trở thành một quyền lực dưới gầm trời này, tự mình thống nhất sơn hà, làm nên nghiệp lớn. Không phải để thỏa mãn cái nhu cầu được chi phối vận mệnh của muôn người trong thiên hạ, mà là để phụng vụ hết mình cho sự nghiệp “vì dân”. “Vì dân”, có thể nói, chính là tư tưởng xuyên suốt, là cái đích quan trọng nhất đời của Nguyễn Hữu Chỉnh, và cũng là hạt nhân trong sự tạo thành nhân cách “kẻ sĩ” nơi ông. Nói cách khác, đặt tư tưởng “vì dân” vào Nguyễn Hữu Chỉnh, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không những đã thực hiện một diễn giải khác về nhân vật lịch sử đầy phức tạp và rất khó đoán định này, hơn thế, ông còn tái kiến tạo một Nguyễn Hữu Chỉnh như hình mẫu cho “kẻ sĩ thời loạn” theo quan niệm của riêng mình: đó là người trí thức (Nho giáo) lập thân giữa cảnh đời biến loạn đảo điên, kẻ đã biết buông bỏ sách vở thánh hiền và những trầm tư đạo lý để trở thành con người hành động trong thực tế, hành động liên tục, quyết liệt, với một sự kiên trì hiếm thấy, một lòng dũng cảm vô bờ, một niềm đam mê cháy bỏng, hành động như một hy sinh đến cùng để đất nước được thái bình, muôn dân được yên ấm.

Trong Kẻ sĩ thời loạn, Nguyễn Hữu Chỉnh còn được soi rọi từ nhiều mối quan hệ với các nhân vật khác - đặc biệt là với nhân vật Nguyễn Huệ - theo nhiều chiều thời gian, cả đồng đại và lịch đại. Không khó để nhận thấy thời hiện tại ở đây đã hiện diện như một hình đồng dạng, hoặc một phiên bản của thời quá khứ - lịch sử tái lặp - với một vài chỉnh sửa nho nhỏ. Đây cũng là một thời loạn với tất cả những đặc trưng của nó: quan tham lại nhũng hoành hành, công lý bị chà đạp, pháp luật bị coi thường, người có thực tài bị dìm dập để cho kẻ cơ hội được ngạo mạn ngoi lên, dân lành bị bóc lột và hành hạ đến tận cùng, lòng người ly tán, tiếng cười đắc thắng của đồng tiền đã lấn át tiếng nói yếu ớt của lương tri.

Ở cái thời loạn hiện đại này, nhà di truyền học/kẻ sĩ Duy Thiện và các bạn của mình dĩ nhiên không thể thực hiện những công việc mà cụ tổ Nguyễn Hữu Chỉnh đã thực hiện: chiêu binh mãi mã, rèn kiếm luyện quân, sẵn sàng xông pha chiến địa để tranh hùng cùng các thế lực quân sự cát cứ khác. Nhưng tâm thế và mục tiêu hành động của họ thì không khác: đó là “vì dân”. “Vì dân” nên họ chấp nhận dấn thân vào một cuộc chiến không cân sức với tập đoàn tham nhũng họ Trịnh ở tỉnh H, những “ông vua con” nhân danh cán bộ đầy quyền lực, những kẻ “ăn hết của dân không chừa một cái gì”. “Vì dân” nên họ sẵn sàng chịu đựng mọi bầm dập về tinh thần và thể xác, thậm chí cả tính mạng, để tìm kiếm, tập hợp bằng chứng tố cáo tội ác của bè lũ quan tham, đặng trả lại danh dự và công lý cho những người dân thấp cổ bé họng. Nếu Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh “vì dân” đến tận lúc bị tứ mã phanh thây, thì Duy Thiện cháu ông cũng “vì dân” trong cả giấc mơ bất chợt sau bao năm tháng quằn quại trong bệnh viện tâm thần. “Vì dân”, với kẻ sĩ ở cả thời này và thời kia trong tác phẩm, đó không phải là khẩu hiệu, mà là một sự đặt cọc bằng máu.


Tiểu thuyết "Kẻ sĩ thời loạn" của nhà văn Vũ Ngọc Tiến - Ảnh: PN

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, tự sự lịch sử (tiểu thuyết, truyện ngắn) luôn nổi lên như một khuynh hướng sáng tác rất mạnh vào những thời điểm mang tính bản lề của tiến trình lịch sử xã hội, như giai đoạn 1920-1940 hay giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay. Đó là những thời điểm nước Việt Nam từ giã một môi sinh cũ để bước vào một môi sinh mới, mang tính quốc tế hóa rộng hơn, đa dạng và phức tạp hơn. Cuộc cọ xát quốc tế ấy đặt ra nhiều câu hỏi bức thiết, buộc người Việt Nam phải tự nhìn lại, tái phát hiện và tái định vị căn cước dân tộc của mình.

Nhiều nhà văn đã quay về, đào sâu vào những vỉa tầng hồi ức trong quá khứ là vì thế. Có thể kể ra ở đây vài cái tên: Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Thái Bá Lợi, Lưu Sơn Minh, Trần Thanh Cảnh, Thiên Sơn, Nguyễn Hữu Nam, v.v... và không thể thiếu Vũ Ngọc Tiến (trước đấy ông cũng đã có hai tiểu thuyết lịch sử đáng kể là Sóng hận sông LôQuỷ vương). Có thể nói, tìm câu trả lời cho hiện tại ở quá khứ đã thực sự là một hướng đi khả thi. Khi ấy, lịch sử được trưng dụng bằng nhiều cách: thêm vào, làm cho rõ hơn, phản biện, tái diễn giải, thậm chí tái kiến tạo. Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh trong tác phẩm Kẻ sĩ thời loạn của Vũ Ngọc Tiến, theo tôi, thuộc về kiểu nhân vật lịch sử được tái kiến tạo. Người đọc có thể sẽ phải tranh luận khá nhiều về tư tưởng “vì dân” của nhân vật này, nhưng không thể phủ nhận đấy chính là một đòi hỏi đau đớn của thời hiện tại, của một xã hội dân sự mà quyền công dân của nhiều bộ phận cư dân còn chưa được tôn trọng đúng mức.

Nói lịch sử cũng chính là hiện tại, là vì thế.

Nguồn: Văn nghệ điện tử

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm