TIN TỨC

Lê Quang Trang và những trang viết về lý luận phê bình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-09-15 07:10:43
mail facebook google pos stwis
3813 lượt xem

MAI QUÔC LIÊN

Sau khi học xong khoa Văn đại học Tổng hợp Hà Nội và dự một lớp viết văn do nhà văn Nguyên Hồng làm Giám đốc, Lê Quang Trang và các bạn cùng đi vượt Trường Sơn vào chiến khu Nam bộ, công tác ở Ban tuyên huấn Trung ương cục Miền Nam. Ấy thế mà đã qua 50 năm...

Những trang viết này đã được tích lũy trong khoảng 50 năm ấy, kinh qua công tác, sống, tham gia viết văn làm. Chừng ấy sự tích lũy, va chạm, suy ngẫm…đã cho anh những trang viết này.


Về tình hình lý luận phê bình hiện nay, tác giả nhận xét: “...tình hình văn học nghệ thuật hiện nay có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại. Không những đỉnh cao không xuất hiện mà ngay cả các tác phẩm vượt mức trung bình cũng ngày càng thưa thớt…” (trang 13). Không những sáng tác có dấu hiệu sụt giảm đáng lo ngại mà lý luận phê bình văn nghệ cũng sụt giảm theo. Vì sao vậy?Trước hết, nói về những trang lý luận. Đây là những suy ngẫm về những vấn đề của nền văn học nghệ thuật hiện thời, những vấn đề nóng và bức thiết, theo cách nhìn của tác giả. Phải có một tầm nhìn, sự quan tâm sâu sắc, trách nhiệm đối với sự nghiệp văn nghệ và cách diễn đạt nhuần nhị để viết được những trang này. Lê Quang Trang không viết lý luận thuần túy; đây là lý luận thực hành. Từ những diễn biến phong phú, phức tạp của hoạt động văn nghệ, tác giả lọc ra một số vấn đề đáng bàn, đáng quan tâm và có ý kiến. Ngoài những bàn luận về chính chủ đề được đặt ra, tác giả còn nêu lên những nhận xét chung về tình hình. Điều này là cần thiết.

Không khó để bàn về nguyên nhân của sự đi xuống đó, từ cảm hứng chủ đạo của văn nghệ hiện nay trong bối cảnh thị trường cho đến khâu tổ chức chỉ đạo: “Việc bố trí nhân sự lãnh đạo văn hóa văn học nghệ thuật nhiều khi thiếu chuyên môn sâu cần thiết nên cũng có những vướng mắt nhất định, dẫn đến mối quan hệ giữa người lãnh đạo và nghệ sĩ thiếu sự thắm thiết, tạo sự khích lệ sáng tạo tình nguyện" (trang 14). “Thứ hai là lúng túng trong phương thức lãnh đạo, quản lý, từ đó chưa tạo được cách thức phù hợp nhất trong đầu tư chăm lo”. “Thứ ba là tư duy nhiệm kỳ"... (trang 18).

Qua những trang viết này, tác giả chứng tỏ tầm nhìn bao quát tình hình, một tầm nhìn không dễ có nếu không có nhiệt huyết và trách nhiệm. Vẻ ngoài điềm tĩnh, nhẹ nhàng tuy không bàng quan, tác giả dường như vẫn còn thiếu đi một chút sắc bén để lây lan sang người đọc một năng lượng tích cực hơn.

Phần chân dung (phê bình văn học) chiếm tới gần 200 trang, một nửa cuốn sách, là phần đặc sắc và tâm huyết nhất của tác giả. Cái đáng quý nhất là những trang này được viết với sự trải nghiệm, tích lũy từ những ấn tượng do tiếp xúc trực tiếp, sống với nhân vật. Họ là những người đồng thời với tác giả, cũng tham gia công cuộc chống Mỹ cứu nước và sau đó tiếp tục viết, gánh vác trách nhiệm xã hội. Tính theo tuổi tác, đó là Chế Lan Viên (1920-1989). Ông đã di dời từ Hà Nội vào Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục sáng tác ở đó cho đến khi từ giã cuộc đời. Tiếp đó là Nguyễn Văn Bổng, Lý Văn Sâm... Kể ra, nếu lấy lý lịch sáng tác ở Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh, miền Nam thì còn có thể phải viết thêm về Bảo Định Giang, Nguyễn Chí Trung... Bảo Định Giang vừa sáng tác vừa quản lý đã để lại những dấu ấn đáng nhớ. Nguyễn Chí Trung sáng tác Bức thư Làng Mực, Tiếng khóc của nàng Út, đáng ghi nhận. Nhưng đáng ghi nhận nhất là cuộc đời chống Pháp, chống Mỹ, chống Pol Pot của anh, một cuộc đời lính kiên trung báo quốc.

Qua những bức chân dung văn học, tác giả làm ta yêu mến thêm các tác giả và tác phẩm. Tôi nghĩ rằng đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng của phê bình văn học. Lê Quang Trang độc đáo ngay từ cách đặt đầu đề, sau đó dẫn dắt ta đi vào thế giới nghệ thuật của các tác giả tác phẩm. Đó là một thế giới thân quen, cuốn hút đối với tác giả vì những năm tháng sống, chiến đấu, sáng tác của họ cũng chính là của tác giả. Ở đây có một cuộc hẹn hò tuyệt đẹp giữa người vẽ chân dung phê bình và các nhà văn. Đây là một lợi thế lớn lao, một thuận lợi của ngòi bút phê bình. Và chính Lê Quang Trang cũng trở thành nhà văn qua các chân dung này.

Một yêu cầu không thể thiếu là các bức chân dung tuy có những nét phổ quát của một thời đại, phải bật lên được những cá tính sáng tạo nghệ thuật. Tác giả đã hoàn thành tương đối tốt nhiệm vụ này để người đọc có thể thích thú, say sưa đọc một hơi những chân dung này. Trong phê bình, Lê Quang Trang thiên về cổ vũ, động viên dù lúc này mọi cái đã lắng lại, ta có thể bình tĩnh nhìn mọi việc từ nhiều chiều. Biểu dương, ca ngợi văn hóa văn nghệ thời kháng chiến cách mạng, với những con người ở thế hệ vàng này là trách nhiệm lương tâm nhưng không nên một chiều bỏ qua những hạn chế, dù là phải giải thích từ hoàn cảnh, từ hạn chế tất yếu. Có thế mới thuyết phục ngươi đọc hơn.

Dù sao trước tiên phải ghi nhận ở đây tấm lòng trong cuộc của ngòi bút Lê Quang Trang - nhà phê bình cách mạng. Nội việc đọc chừng ấy tác giả tác phẩm rồi rút ra được tiến trình sáng tác, đặc điểm sáng tác của từng người là một việc khổ công. Viết ra được thành văn chương hấp dẫn được bạn đọc cũng không dễ…Phải có một ngòi bút đã được luyện nhiều qua những trang văn báo chí, văn nghệ ngần ấy năm từ tuổi 20 đến tuổi 70 mới làm được.

Trong tình hình văn đàn hình như đang thiếu vắng những tiếng nói chính trực, hiểu biết, những bề sâu từ trong bếp núc của sáng tác văn học, có trách nhiệm cao với văn nghệ và với cuộc sống, Lê Quang Trang là một cây bút quý hiếm...

Giữa mùa dịch Covid-19

(Nguồn: Văn nghệ số 37/2021).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm