TIN TỨC

Tôi đọc hiểu bài thơ “Vô minh” của Trương Xuân Thiên như thế nào?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-12 10:43:51
mail facebook google pos stwis
3710 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

VÔ MINH là một bài thơ được rút từ tập thơ ÁO HỒ LY của Trương Xuân Thiên, do Nhà xuất bản VĂN HỌC ấn hành năm 2017. Đó là bài thơ đầu tiên, ở trang 11, trong tập thơ này:
 

VÔ MINH

Thánh thần từ độ vô minh

Trần gian tuyệt chủng ân tình đêm nay

Tin yêu chịu kiếp lưu đày

Lời thề quẫn bách ăn mày tứ phương

 

Đất trời từ độ tang thương

Chân tình gieo rắc tai ương khắp miền

Khát khao tỏa sáng muộn phiền

Mặt trời xõa tóc dại điên khóc cười

 

Ô kìa một lũ mặt người

Ngời trong hốc mắt con ngươi mù lòa

Thật thà nô lệ điêu ngoa

Mùa xuân bức tử nhành hoa cuối cùng

 

Nấm mồ chôn xác thủy chung

Hồn ma oan khuất cháy bùng thương đau

 

Tôi đã đọc VÔ MINH … đến...

Thôi đành níu áng mây trôi

Thắp mùa ân ái lên môi người tình

Tháng Ba nhỡ hẹn sân đình

Chỉ mầu hoa gạo vô minh cháy òa

(bài HOA GẠO, tr 122)
 

để rồi… thức tỉnh khi đọc nốt một bài thơ, chỉ có hai câu, ở cuối tập thơ:

Ta về ngủ dưới tàng cây

Trời xanh vừa nở đóa mây đầu lòng

(bài ĐÓA MÂY, tr 123)
 

thì dừng lại mãi ở hai bài thơ cuối cùng kia … để lại trở lên đọc lại VÔ MINH...

Và, tôi biết mình vừa mới đi hết một vòng thức nhận!?...

 

1.Tôi nghĩ mình sẽ có được gợi mở thêm, để đi tiếp hành trình đọc hiểu VÔ MINH nữa, một khi xem lại lời giới thiệu tập thơ chăng?...

Đây là lời ấy của nhà thơ Du Tử Lê, được trích vào tập thơ, với chỉ một câu, như sau:

“Lục bát của Trương được ngọn hải – đăng – siêu – thực dẫn đường cho mọi lênh đênh tìm về của thể Sáu Tám, vốn đẫm đẫm tâm cảnh và, cảm thức lạc lõng, bấp bênh của tuổi trẻ đương thời, trước những vấn nạn lớn lao, muôn đời của kiếp nhân sinh”

(ÁO HỒ LY, tr 5)

Nhưng những… “đẫm đẫm tâm cảnh và, cảm thức lạc lõng, bấp bênh”… hay… “những vấn nạn lớn lao, muôn đời của kiếp nhân sinh”, cũng chưa giúp được gì nhiều cho tôi trước thách thức MINH!..

Tôi tìm đến nhà thơ. Trương Xuân Thiên tự bạch:

“Với tôi, tôi muốn kiến trúc một thế giới khác. Một lục bát khác. Một cảnh giới khác. Ở đó tôi là vị Giáo chủ quyền năng. Hết thảy mọi sự trong cõi giới đó, phó thác linh hồn bằng những rung động vi diệu. Hỗn độn. Dung thông.

ÁO HỒ LY là một thế giới như vậy.”

(ÁO HỒ LY, tr8).

Là thế giới của những HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG được tạo bởi “những rung động vi diệu” của “linh hồn”; hay là “linh hồn” “rung động vi diệu” trước những HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG mà ai đó đã tạo ra? Tôi thấy vẫn chưa dễ thức nhận VÔ MINH ! Cái tấm choàng U TỐI vẫn chưa thể được vén lên, nhờ một lời giới thiệu, với dăm câu tự bạch, tuồng như vẫn nhằm né tránh.

Tại sao?!

Đành lại phải dẫn dụ thêm, giờ là chính THI NHÂN trong cuộc, bài thơ rút từ ÁO HỒ LY, trang 83:

 

THI NHÂN

Đêm nay con chữ rối bời

Thi nhân ngồi khóc bên trời tha hương

Gỡ từng sợi nhớ niềm thương

Mà đa đoan buộc vô thường truân chuyên

 

Chữ về tắm động lâm truyền

Mà ngôi lời sáng thượng huyền hoang vu

Vần thơ lạc chốn âm u

Tin yêu chịu kiếp lao tù hàm oan

 

Mười năm ngôn ý bất hoàn

Trăm năm thi tứ vẫn hoàn ái ân

Xuân thì một đóa thanh tân

Mà lời trong cõi phù vân khóc thầm
 

Bên song cơn gió mọc mầm

Vì sao côi cút lặng câm nói cười

 

Nhưng THI NHÂN ấy là ai? Tác phẩm THI NHÂN kia vẫn chỉ giúp tôi nhìn nhận ra một vài trong muôn vàn HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG nơi VÔ MINH ÁO HỒ LY mà thôi. Phải chăng là bởi THI NHÂN cũng chỉ là một trong cái thế giới HỖN ĐỘN của ÁO HỒ LY ?...

 

2. ÁO HỒ LY ! Tại sao lại là ÁO HỒ LY ?

Cái tên của tập thơ đã gợi lên một thoáng trách cứ trong tôi, rằng ai lại lấy cái thứ “quái đản” như thế để đặt tên cho “những rung động vi diệu” của “linh hồn” ?! Rồi tôi lại tự hỏi: ÁO HỒ LY có phải là cái áo của con Hồ Ly nó mặc không? Chợt cái định danh “quái đản” kia khiến tôi vỡ ra cái nhẽ rằng, đó là một cái vỏ (ÁO), trùm chứa bên trong là cái biến ảo (HỒ LY), hay có thể hiểu, đó là một nội dung, trong một hình thức, của một CÁI BIẾN ẢO...

Nhưng CÁI BIẾN ẢO kia là cái gì?

Rất may là trong tập thơ ÁO HỒ LY, ở trang 56 có một bài thơ có tên là ÁO HỒ LY. Bài thơ có “bật mí” được gì cho tôi không? Tôi xin dẫn dụ ra đây:

 

ÁO HỒ LY

Hồ Ly đan áo cho chồng

Mỗi đêm đan một mặn nồng lên môi

Thanh tân biếc biếc đâm chồi

Lụa là buốt buốt núi đồi linh linh

 

Ôi!... Đến cả bài thơ này cũng chỉ cho tôi được vài tia sáng, mấy vạch dấu hiện lên trên cái giải trường phổ nghĩa thâm u của VÔ MINH mà thôi. Bởi đó chỉ là chuyện riêng, rất điển hình, nhưng cũng rất riêng tư của Hồ Ly. Thì đấy, "...đan áo cho chồng" mà “Mỗi đêm đan một mặn nồng lên môi”, thì đâu có phải là đan áo; mà đó là câu chuyện “…biếc biếc đâm chồi” ; là cái chuyện ở bên trong cái áo; còn cái áo thì… đã cởi ra treo ở đầu kia rồi!...

Đành phải như Ngộ Không, nhưng tôi trở về không phải để nói với Đức Phật là đã “cân đẩu vân” vượt thoát bàn tay của Ngài; mà để nói với chính tôi rằng mình vẫn chưa ra khỏi cái ÁO HỒ LY, nếu chưa đi hết cung đường mã hóa VÔ MINH. Đúng! cái sự VÔ MINH ở đây nếu chưa được mã hóa, thì sẽ chẳng có chìa khóa, chẳng có sáng soi để đi tiếp... sẽ chỉ đứng ngoài ÁO HỒ LY mà thôi !...

 

3. VÔ MINH, tên của bài thơ đưa tôi đến một niệm căn Phật giáo. Chỉ một cái “nhắp chuột vi tính”, trong chỉ 0,52 giây, tôi đã có đến 220 triệu kết quả giải nghĩa VÔ MINH là gì. Tựu trung thì VÔ MINH u tối là mặt đối lập với TRÍ TUỆ sáng suốt; là sự nhận thức lầm lẫn, không đúng về bản ngã và thế giới, căn cốt của mọi bất thiện, khổ đau và bất hạnh…

Và tôi lại một lần nữa bắt đầu đọc hiểu lại bài thơ…

3.1. Ngay câu thơ đầu tiên: “Thánh thần từ độ vô minh”, tôi đã phải dừng lại. Bởi VÔ MINH lại xuất hiện! Có điều, giờ đây, nó chỉ định THÁNH THẦN, chứ không phải là một thứ “dân ngu khu đen” nào đó. Vậy THÁNH THẦN ở đây là ai?

Có phải là Thần thánh siêu nhiên vô hình, hoặc một chính vị Thần linh hữu thể... là những bậc Thần quyền Sinh – Sát chúng sinh vô thường, theo quan niệm dân gian không nhỉ?

Không phải! Chữ trong bài thơ viết rõ là “Thánh thần”, vậy có thể là dẫn chỉ đến Chúa Thánh Thần trong Kitô giáo chăng?

“Trong Kinh Tín Kính, Giáo hội tuyên xưng rằng: Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng Ban Sự Sống. Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người cùng được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Đó là Ngôi Ba Thiên Chúa, xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con, cùng bản tính Ngôi Cha và Ngôi Con, nên Người là Đấng Vô Hình, không ai thấy Người bằng giác quan, nhưng có thể nhận ra Người qua những dấu chỉ và các tác động”. (Thí dụ như hơi thở, như gió…).

Nhưng CHÚA SÁNG THẾ thì làm sao có thể là VÔ MINH !?... Tuyệt đối không! Đức tin Kitô hữu không cho ai, cũng chẳng ai, có thể nghi ngờ về SÁNG THẾ cả! Đọc kỹ câu thơ tôi mới nhận ra cái “từ độ” lọt giữa một trước, là Đấng Vô hình Quyền năng Sáng Thế; và một sau, là “vô minh” – mặt đối lập của TRÍ TUỆ sáng suốt... "từ độ" ở giữa kia chính là một cái phiếm định.

"Từ độ" rõ ràng là không xác định thời gian khi nào, lúc nào, ngày tháng năm nào…địa chỉ nơi chốn nào… số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao… thảy đều phiếm chỉ, phiếm định… Ôi, chẳng có xác định gì cả !...

“Thánh thần từ độ…” làm gì có chuyện hồ đồ ấy ?! Cái “từ độ” tố với tôi là bài thơ mượn chữ “Thánh thần” để ẩn chỉ con người mà thôi. Vì chỉ con người mới có lúc thế này, có khi thế khác, hồ đồ lầm lẫn, chứ “Thánh thần” thì làm sao lại thế được, nhất là THÁNH THẦN CỨU THẾ !
 

Mặt khác, dùng chữ “Thánh thần” còn là thủ pháp “cáo mượn oai hùm” của bài thơ. Ở đây là mượn cái ngữ nghĩa Quyền lực sinh – sát bất lương của Cường quyền VÔ MINH. Do đó có thể nhận thấy từ cấu trúc câu thơ “Thánh thần từ độ vô minh”, những sắc thái ngữ nghĩa tự vị (nghĩa đen), đã chuyển đổi thành những Ẩn dụ, những Hình tượng, đã thành Ngôn ngữ Thơ; chuyển tải và truyền đi không chỉ là THÔNG TIN “Thánh thần từ độ vô minh”; mà chính là THÔNG ĐIỆP “Chính thể Quyền lực từ độ U TỐI” –  tư tưởng của bài thơ !...

Nhưng, tôi xin nói trước và nói ngay ở đây, rằng cả cái vỏ hình thức (ÁO), lẫn cái ruột nội dung biến ảo (HỒ LY), thì như tác giả đã có lời tự bạch, rằng đó là cả “một thế giới” đã lại vào độ HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG. Vì thế câu thơ “Thánh thần từ độ vô minh” còn chuyển tải một thông điệp rộng lớn hơn cái thông điệp Độc quyền ngụ ý mà tôi vừa nêu ra trên kia.

3.2. Rằng câu thơ “Thánh thần từ độ vô minh” mở đầu bài thơ, mở đầu tập thơ, như một công cáo được tuyên ở đây, khiến tôi liên tưởng đến tuyên bố “CHÚA ĐÃ CHẾT” (tiếng Đức: Gott ist tot) cách đây hơn 130 năm của Friedrich Nietzsche. VÔ MINH“Thánh thần từ độ vô minh” có phải là tiệt diệt, có phải là cái thời điểm không còn, không có “Thánh thần” nữa, đúng không? Có phải là "từ độ" xuất hiện vụ nổ lớn “Binh bang” khiến HỖN ĐỘN lại trở về HỖN ĐỘN... phải không? “Thánh thần từ độ vô minh” ấy đã khiến mọi ngọn nguồn của ĐẠO LÝ, GIÁ TRỊ, TRẬT TỰ… đã có không còn nữa, cũng không còn cần đến nữa, đúng không!...

CHÚA là một NIỆM CĂN, cũng giống như THỂ CHẾ CẦM QUYỀN là một ĐỊNH CHẾ. NIỆM CĂN về cái TOÀN THỂ của ĐẤNG SÁNG THẾ đã không còn tồn tại, thì cái TOÀN THỂ cũng sụp đổ một cách hiển nhiên… Và, đó là căn nguyên của cái HỖN ĐỘN, khởi thủy cho cái DUNG THÔNG trong một VÔ CÙNG BIẾN ẢO “ÁO HỒ LY”, đúng không?!...

3.3. Thế nên, hiện tồn sau cái “từ độ” ấy là “tuyệt chủng ân tình”, “lưu đày” “tin yêu”, “quẫn bách” “lời thề”; là “chân tình” lại “gieo rắc” “tai ương”, “khát khao” chỉ biết “tỏa sáng muộn phiền”, và trời ơi, đến như cả “mặt trời” cũng “dại điên” “xõa tóc” “khóc cười” như ai…

Thế đấy!... Và đây, hiện ra là “một lũ mặt người”, mà từ thẳm sâu “hốc mắt” đã chỉ còn “ngời” lên tăm tối “mù lòa”… Còn gì khốn nạn và đau khổ hơn là khi “thật thà nô lệ điêu ngoa”; là khi cái ác thản nhiên “bức tử nhành hoa...” có lẽ là còn sót lại của ...mùa xuân” “...cuối cùng”

… Và rồi, cái gì đến đã đến! Ấy là “Nấm mồ chôn xác thủy chung”. Chính là xác của cái TOÀN THỂ, từ khởi đầu: Thủy phát, đến kết thúc: Chung cuộc; tất cả đã chết, đã VÔ MINH ! Tuy nhiên, Sinh - Trụ - Dị - Diệt… bóng tối VÔ MINH vẫn chỉ như là tấm choàng (ÁO) bao phủ, ủ ấp cái bên trong đó, chính là cái “Hồn ma oan khuất” đã và mãi vẫn “cháy bùng thương đau”...

“Hồn ma” ở câu thơ này, trong bài thơ MINH này, còn có thể là cái khác cái BIẾN ẢO (Hồ Ly) của CÁI THỰC TỒN đích thực chăng?...

3.4. Cái đích thực đó là gì? Đó là “một thế giới khác”, “một lục bát khác”, “một cảnh giới khác”... mà rất tiếc là tôi không thể nói đủ hết ra đây được, về cái thức nhận TOÀN THỂ của mình, trong một bài viết ngắn, được giới hạn chỉ về đọc hiểu bài thơ VÔ MINH ở đây. Bởi đó chính là “linh hồn”, là vi diệu” “rung động” cuộc tồn sinh trong cái “hỗn độn” “dung thông” diễn ra trong suốt cả tập thơ và hơn thế... với hàng trăm ngàn “rung động” “vi diệu” của những “linh hồn” vẫn “cháy bùng” biết mấy “thương đau” “oan khuất” vì đã phải như chết ngay giữa cõi sống đang sống…

Đó là lý do vì sao đọc VÔ MINHÁO HỒ LY của Trương Xuân Thiên, tôi đã nghĩ đến cáo chung “Chúa đã chết” của Friedrich Nietzsche. Thế giới sẽ như thế nào, tồn tại sẽ ra sao khi không còn, cũng không cần có CHÚA, thì tôi đã thấy từ người phát ngôn của F. Nietzsche: “Zarathustra đã nói như thế” (Also Sprach Zarathustra, tiếng Đức); cũng như một THỂ CHẾ sẽ như thế nào một khi nó VÔ MINH; và thay đổi nó ra sao, là cái mà tôi đã nhìn thấy ở ÁO HỒ LY của Trương Xuân Thiên!...

Đọc bài thơ MINH, tôi thấy đó như là một ĐỀ TỪ của tập thơ ÁO HỒ LY, cũng như một TUYÊN THÔNG về một THỰC TỒN đang sắp sửa…

Tôi nghĩ, một thế giới BIẾN ẢO như vậy, thì cần phải xông vào để sống trong nó, đồng cảm thông, cùng thức tỉnh với nó, Sinh - Trụ - Dị - Diệt cùng nó…, nghĩa là phải đọc cả tập thơ, cảm nhận hết, thức nhận đủ cả tập thơ, thì mới nhận thức được vì sao ÁO HỒ LY khởi thủy bằng việc “Thánh thần từ độ vô minh”; rằng VÔ MINH tồn tại như thế nào, TỒN TẠI sẽ ra sao trong VÔ MINHTỒN TẠI làm sao thoát khỏi VÔ MINH để tồn tại…

Nghĩ thế mà tôi đưa ra đây thức nhận của tôi về bài thơ MINH của Trương Xuân Thiên, như một khảo chiếu về THÔNG ĐIỆP của bài thơ, với ai đó khác, đã cùng đọc tập thơ ÁO HỒ LY với tôi và như tôi…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm