TIN TỨC

Tôi đọc hiểu bài thơ “Vô minh” của Trương Xuân Thiên như thế nào?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-12 10:43:51
mail facebook google pos stwis
3945 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

VÔ MINH là một bài thơ được rút từ tập thơ ÁO HỒ LY của Trương Xuân Thiên, do Nhà xuất bản VĂN HỌC ấn hành năm 2017. Đó là bài thơ đầu tiên, ở trang 11, trong tập thơ này:
 

VÔ MINH

Thánh thần từ độ vô minh

Trần gian tuyệt chủng ân tình đêm nay

Tin yêu chịu kiếp lưu đày

Lời thề quẫn bách ăn mày tứ phương

 

Đất trời từ độ tang thương

Chân tình gieo rắc tai ương khắp miền

Khát khao tỏa sáng muộn phiền

Mặt trời xõa tóc dại điên khóc cười

 

Ô kìa một lũ mặt người

Ngời trong hốc mắt con ngươi mù lòa

Thật thà nô lệ điêu ngoa

Mùa xuân bức tử nhành hoa cuối cùng

 

Nấm mồ chôn xác thủy chung

Hồn ma oan khuất cháy bùng thương đau

 

Tôi đã đọc VÔ MINH … đến...

Thôi đành níu áng mây trôi

Thắp mùa ân ái lên môi người tình

Tháng Ba nhỡ hẹn sân đình

Chỉ mầu hoa gạo vô minh cháy òa

(bài HOA GẠO, tr 122)
 

để rồi… thức tỉnh khi đọc nốt một bài thơ, chỉ có hai câu, ở cuối tập thơ:

Ta về ngủ dưới tàng cây

Trời xanh vừa nở đóa mây đầu lòng

(bài ĐÓA MÂY, tr 123)
 

thì dừng lại mãi ở hai bài thơ cuối cùng kia … để lại trở lên đọc lại VÔ MINH...

Và, tôi biết mình vừa mới đi hết một vòng thức nhận!?...

 

1.Tôi nghĩ mình sẽ có được gợi mở thêm, để đi tiếp hành trình đọc hiểu VÔ MINH nữa, một khi xem lại lời giới thiệu tập thơ chăng?...

Đây là lời ấy của nhà thơ Du Tử Lê, được trích vào tập thơ, với chỉ một câu, như sau:

“Lục bát của Trương được ngọn hải – đăng – siêu – thực dẫn đường cho mọi lênh đênh tìm về của thể Sáu Tám, vốn đẫm đẫm tâm cảnh và, cảm thức lạc lõng, bấp bênh của tuổi trẻ đương thời, trước những vấn nạn lớn lao, muôn đời của kiếp nhân sinh”

(ÁO HỒ LY, tr 5)

Nhưng những… “đẫm đẫm tâm cảnh và, cảm thức lạc lõng, bấp bênh”… hay… “những vấn nạn lớn lao, muôn đời của kiếp nhân sinh”, cũng chưa giúp được gì nhiều cho tôi trước thách thức MINH!..

Tôi tìm đến nhà thơ. Trương Xuân Thiên tự bạch:

“Với tôi, tôi muốn kiến trúc một thế giới khác. Một lục bát khác. Một cảnh giới khác. Ở đó tôi là vị Giáo chủ quyền năng. Hết thảy mọi sự trong cõi giới đó, phó thác linh hồn bằng những rung động vi diệu. Hỗn độn. Dung thông.

ÁO HỒ LY là một thế giới như vậy.”

(ÁO HỒ LY, tr8).

Là thế giới của những HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG được tạo bởi “những rung động vi diệu” của “linh hồn”; hay là “linh hồn” “rung động vi diệu” trước những HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG mà ai đó đã tạo ra? Tôi thấy vẫn chưa dễ thức nhận VÔ MINH ! Cái tấm choàng U TỐI vẫn chưa thể được vén lên, nhờ một lời giới thiệu, với dăm câu tự bạch, tuồng như vẫn nhằm né tránh.

Tại sao?!

Đành lại phải dẫn dụ thêm, giờ là chính THI NHÂN trong cuộc, bài thơ rút từ ÁO HỒ LY, trang 83:

 

THI NHÂN

Đêm nay con chữ rối bời

Thi nhân ngồi khóc bên trời tha hương

Gỡ từng sợi nhớ niềm thương

Mà đa đoan buộc vô thường truân chuyên

 

Chữ về tắm động lâm truyền

Mà ngôi lời sáng thượng huyền hoang vu

Vần thơ lạc chốn âm u

Tin yêu chịu kiếp lao tù hàm oan

 

Mười năm ngôn ý bất hoàn

Trăm năm thi tứ vẫn hoàn ái ân

Xuân thì một đóa thanh tân

Mà lời trong cõi phù vân khóc thầm
 

Bên song cơn gió mọc mầm

Vì sao côi cút lặng câm nói cười

 

Nhưng THI NHÂN ấy là ai? Tác phẩm THI NHÂN kia vẫn chỉ giúp tôi nhìn nhận ra một vài trong muôn vàn HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG nơi VÔ MINH ÁO HỒ LY mà thôi. Phải chăng là bởi THI NHÂN cũng chỉ là một trong cái thế giới HỖN ĐỘN của ÁO HỒ LY ?...

 

2. ÁO HỒ LY ! Tại sao lại là ÁO HỒ LY ?

Cái tên của tập thơ đã gợi lên một thoáng trách cứ trong tôi, rằng ai lại lấy cái thứ “quái đản” như thế để đặt tên cho “những rung động vi diệu” của “linh hồn” ?! Rồi tôi lại tự hỏi: ÁO HỒ LY có phải là cái áo của con Hồ Ly nó mặc không? Chợt cái định danh “quái đản” kia khiến tôi vỡ ra cái nhẽ rằng, đó là một cái vỏ (ÁO), trùm chứa bên trong là cái biến ảo (HỒ LY), hay có thể hiểu, đó là một nội dung, trong một hình thức, của một CÁI BIẾN ẢO...

Nhưng CÁI BIẾN ẢO kia là cái gì?

Rất may là trong tập thơ ÁO HỒ LY, ở trang 56 có một bài thơ có tên là ÁO HỒ LY. Bài thơ có “bật mí” được gì cho tôi không? Tôi xin dẫn dụ ra đây:

 

ÁO HỒ LY

Hồ Ly đan áo cho chồng

Mỗi đêm đan một mặn nồng lên môi

Thanh tân biếc biếc đâm chồi

Lụa là buốt buốt núi đồi linh linh

 

Ôi!... Đến cả bài thơ này cũng chỉ cho tôi được vài tia sáng, mấy vạch dấu hiện lên trên cái giải trường phổ nghĩa thâm u của VÔ MINH mà thôi. Bởi đó chỉ là chuyện riêng, rất điển hình, nhưng cũng rất riêng tư của Hồ Ly. Thì đấy, "...đan áo cho chồng" mà “Mỗi đêm đan một mặn nồng lên môi”, thì đâu có phải là đan áo; mà đó là câu chuyện “…biếc biếc đâm chồi” ; là cái chuyện ở bên trong cái áo; còn cái áo thì… đã cởi ra treo ở đầu kia rồi!...

Đành phải như Ngộ Không, nhưng tôi trở về không phải để nói với Đức Phật là đã “cân đẩu vân” vượt thoát bàn tay của Ngài; mà để nói với chính tôi rằng mình vẫn chưa ra khỏi cái ÁO HỒ LY, nếu chưa đi hết cung đường mã hóa VÔ MINH. Đúng! cái sự VÔ MINH ở đây nếu chưa được mã hóa, thì sẽ chẳng có chìa khóa, chẳng có sáng soi để đi tiếp... sẽ chỉ đứng ngoài ÁO HỒ LY mà thôi !...

 

3. VÔ MINH, tên của bài thơ đưa tôi đến một niệm căn Phật giáo. Chỉ một cái “nhắp chuột vi tính”, trong chỉ 0,52 giây, tôi đã có đến 220 triệu kết quả giải nghĩa VÔ MINH là gì. Tựu trung thì VÔ MINH u tối là mặt đối lập với TRÍ TUỆ sáng suốt; là sự nhận thức lầm lẫn, không đúng về bản ngã và thế giới, căn cốt của mọi bất thiện, khổ đau và bất hạnh…

Và tôi lại một lần nữa bắt đầu đọc hiểu lại bài thơ…

3.1. Ngay câu thơ đầu tiên: “Thánh thần từ độ vô minh”, tôi đã phải dừng lại. Bởi VÔ MINH lại xuất hiện! Có điều, giờ đây, nó chỉ định THÁNH THẦN, chứ không phải là một thứ “dân ngu khu đen” nào đó. Vậy THÁNH THẦN ở đây là ai?

Có phải là Thần thánh siêu nhiên vô hình, hoặc một chính vị Thần linh hữu thể... là những bậc Thần quyền Sinh – Sát chúng sinh vô thường, theo quan niệm dân gian không nhỉ?

Không phải! Chữ trong bài thơ viết rõ là “Thánh thần”, vậy có thể là dẫn chỉ đến Chúa Thánh Thần trong Kitô giáo chăng?

“Trong Kinh Tín Kính, Giáo hội tuyên xưng rằng: Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng Ban Sự Sống. Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người cùng được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Đó là Ngôi Ba Thiên Chúa, xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con, cùng bản tính Ngôi Cha và Ngôi Con, nên Người là Đấng Vô Hình, không ai thấy Người bằng giác quan, nhưng có thể nhận ra Người qua những dấu chỉ và các tác động”. (Thí dụ như hơi thở, như gió…).

Nhưng CHÚA SÁNG THẾ thì làm sao có thể là VÔ MINH !?... Tuyệt đối không! Đức tin Kitô hữu không cho ai, cũng chẳng ai, có thể nghi ngờ về SÁNG THẾ cả! Đọc kỹ câu thơ tôi mới nhận ra cái “từ độ” lọt giữa một trước, là Đấng Vô hình Quyền năng Sáng Thế; và một sau, là “vô minh” – mặt đối lập của TRÍ TUỆ sáng suốt... "từ độ" ở giữa kia chính là một cái phiếm định.

"Từ độ" rõ ràng là không xác định thời gian khi nào, lúc nào, ngày tháng năm nào…địa chỉ nơi chốn nào… số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao… thảy đều phiếm chỉ, phiếm định… Ôi, chẳng có xác định gì cả !...

“Thánh thần từ độ…” làm gì có chuyện hồ đồ ấy ?! Cái “từ độ” tố với tôi là bài thơ mượn chữ “Thánh thần” để ẩn chỉ con người mà thôi. Vì chỉ con người mới có lúc thế này, có khi thế khác, hồ đồ lầm lẫn, chứ “Thánh thần” thì làm sao lại thế được, nhất là THÁNH THẦN CỨU THẾ !
 

Mặt khác, dùng chữ “Thánh thần” còn là thủ pháp “cáo mượn oai hùm” của bài thơ. Ở đây là mượn cái ngữ nghĩa Quyền lực sinh – sát bất lương của Cường quyền VÔ MINH. Do đó có thể nhận thấy từ cấu trúc câu thơ “Thánh thần từ độ vô minh”, những sắc thái ngữ nghĩa tự vị (nghĩa đen), đã chuyển đổi thành những Ẩn dụ, những Hình tượng, đã thành Ngôn ngữ Thơ; chuyển tải và truyền đi không chỉ là THÔNG TIN “Thánh thần từ độ vô minh”; mà chính là THÔNG ĐIỆP “Chính thể Quyền lực từ độ U TỐI” –  tư tưởng của bài thơ !...

Nhưng, tôi xin nói trước và nói ngay ở đây, rằng cả cái vỏ hình thức (ÁO), lẫn cái ruột nội dung biến ảo (HỒ LY), thì như tác giả đã có lời tự bạch, rằng đó là cả “một thế giới” đã lại vào độ HỖN ĐỘN, DUNG THÔNG. Vì thế câu thơ “Thánh thần từ độ vô minh” còn chuyển tải một thông điệp rộng lớn hơn cái thông điệp Độc quyền ngụ ý mà tôi vừa nêu ra trên kia.

3.2. Rằng câu thơ “Thánh thần từ độ vô minh” mở đầu bài thơ, mở đầu tập thơ, như một công cáo được tuyên ở đây, khiến tôi liên tưởng đến tuyên bố “CHÚA ĐÃ CHẾT” (tiếng Đức: Gott ist tot) cách đây hơn 130 năm của Friedrich Nietzsche. VÔ MINH“Thánh thần từ độ vô minh” có phải là tiệt diệt, có phải là cái thời điểm không còn, không có “Thánh thần” nữa, đúng không? Có phải là "từ độ" xuất hiện vụ nổ lớn “Binh bang” khiến HỖN ĐỘN lại trở về HỖN ĐỘN... phải không? “Thánh thần từ độ vô minh” ấy đã khiến mọi ngọn nguồn của ĐẠO LÝ, GIÁ TRỊ, TRẬT TỰ… đã có không còn nữa, cũng không còn cần đến nữa, đúng không!...

CHÚA là một NIỆM CĂN, cũng giống như THỂ CHẾ CẦM QUYỀN là một ĐỊNH CHẾ. NIỆM CĂN về cái TOÀN THỂ của ĐẤNG SÁNG THẾ đã không còn tồn tại, thì cái TOÀN THỂ cũng sụp đổ một cách hiển nhiên… Và, đó là căn nguyên của cái HỖN ĐỘN, khởi thủy cho cái DUNG THÔNG trong một VÔ CÙNG BIẾN ẢO “ÁO HỒ LY”, đúng không?!...

3.3. Thế nên, hiện tồn sau cái “từ độ” ấy là “tuyệt chủng ân tình”, “lưu đày” “tin yêu”, “quẫn bách” “lời thề”; là “chân tình” lại “gieo rắc” “tai ương”, “khát khao” chỉ biết “tỏa sáng muộn phiền”, và trời ơi, đến như cả “mặt trời” cũng “dại điên” “xõa tóc” “khóc cười” như ai…

Thế đấy!... Và đây, hiện ra là “một lũ mặt người”, mà từ thẳm sâu “hốc mắt” đã chỉ còn “ngời” lên tăm tối “mù lòa”… Còn gì khốn nạn và đau khổ hơn là khi “thật thà nô lệ điêu ngoa”; là khi cái ác thản nhiên “bức tử nhành hoa...” có lẽ là còn sót lại của ...mùa xuân” “...cuối cùng”

… Và rồi, cái gì đến đã đến! Ấy là “Nấm mồ chôn xác thủy chung”. Chính là xác của cái TOÀN THỂ, từ khởi đầu: Thủy phát, đến kết thúc: Chung cuộc; tất cả đã chết, đã VÔ MINH ! Tuy nhiên, Sinh - Trụ - Dị - Diệt… bóng tối VÔ MINH vẫn chỉ như là tấm choàng (ÁO) bao phủ, ủ ấp cái bên trong đó, chính là cái “Hồn ma oan khuất” đã và mãi vẫn “cháy bùng thương đau”...

“Hồn ma” ở câu thơ này, trong bài thơ MINH này, còn có thể là cái khác cái BIẾN ẢO (Hồ Ly) của CÁI THỰC TỒN đích thực chăng?...

3.4. Cái đích thực đó là gì? Đó là “một thế giới khác”, “một lục bát khác”, “một cảnh giới khác”... mà rất tiếc là tôi không thể nói đủ hết ra đây được, về cái thức nhận TOÀN THỂ của mình, trong một bài viết ngắn, được giới hạn chỉ về đọc hiểu bài thơ VÔ MINH ở đây. Bởi đó chính là “linh hồn”, là vi diệu” “rung động” cuộc tồn sinh trong cái “hỗn độn” “dung thông” diễn ra trong suốt cả tập thơ và hơn thế... với hàng trăm ngàn “rung động” “vi diệu” của những “linh hồn” vẫn “cháy bùng” biết mấy “thương đau” “oan khuất” vì đã phải như chết ngay giữa cõi sống đang sống…

Đó là lý do vì sao đọc VÔ MINHÁO HỒ LY của Trương Xuân Thiên, tôi đã nghĩ đến cáo chung “Chúa đã chết” của Friedrich Nietzsche. Thế giới sẽ như thế nào, tồn tại sẽ ra sao khi không còn, cũng không cần có CHÚA, thì tôi đã thấy từ người phát ngôn của F. Nietzsche: “Zarathustra đã nói như thế” (Also Sprach Zarathustra, tiếng Đức); cũng như một THỂ CHẾ sẽ như thế nào một khi nó VÔ MINH; và thay đổi nó ra sao, là cái mà tôi đã nhìn thấy ở ÁO HỒ LY của Trương Xuân Thiên!...

Đọc bài thơ MINH, tôi thấy đó như là một ĐỀ TỪ của tập thơ ÁO HỒ LY, cũng như một TUYÊN THÔNG về một THỰC TỒN đang sắp sửa…

Tôi nghĩ, một thế giới BIẾN ẢO như vậy, thì cần phải xông vào để sống trong nó, đồng cảm thông, cùng thức tỉnh với nó, Sinh - Trụ - Dị - Diệt cùng nó…, nghĩa là phải đọc cả tập thơ, cảm nhận hết, thức nhận đủ cả tập thơ, thì mới nhận thức được vì sao ÁO HỒ LY khởi thủy bằng việc “Thánh thần từ độ vô minh”; rằng VÔ MINH tồn tại như thế nào, TỒN TẠI sẽ ra sao trong VÔ MINHTỒN TẠI làm sao thoát khỏi VÔ MINH để tồn tại…

Nghĩ thế mà tôi đưa ra đây thức nhận của tôi về bài thơ MINH của Trương Xuân Thiên, như một khảo chiếu về THÔNG ĐIỆP của bài thơ, với ai đó khác, đã cùng đọc tập thơ ÁO HỒ LY với tôi và như tôi…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm