TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lê Văn Thảo: “Khi viết tôi rất ít khi chịu áp lực của thời thượng

Lê Văn Thảo: “Khi viết tôi rất ít khi chịu áp lực của thời thượng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-08 16:00:07
mail facebook google pos stwis
3002 lượt xem

CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

Tiểu thuyết Cơn giông được NXB Trẻ ấn hành lần đầu vào năm 2002, NXB Hội Nhà văn tái bản năm 2006. Cũng năm ấy Cơn giông nhận Giải thưởng văn học Đông Nam Á. Có thể nói thẳng điều này: ở cả ba thời điểm  kể  trên Cơn giông không khuấy động được bao nhiêu dư luận của bạn đọc, của giới phê bình. Chuyện không có gì lạ khi thiên hạ đang nháo nhác, tất bật tìm kế mưu sinh mà bỗng trở nên ghẻ lạnh, xa lánh với văn hoá đọc.

Thành thử cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với nhà văn Lê Văn Thảo xung quanh Cơn giông hôm nay tựa như một sự vớt vát muộn màng đối với những hạt vàng đã vô tình để lọt qua kẽ tay...

“… đâu hồi năm sáu tuổi gì đó. Tôi đang ở dưới ghe, một cơn giông nổi lên,ba má không thấy đâu, chiếc ghe trôi đi tôi nằm bất tỉnh, có người cứu giúp nuôi tôi lớn lên,đời tôi cũng trôi giạt từ đó...Người đàn ông sau thành ông già nuôi, bán chiếc ghe lấy tiền nuôi tôi, thật ra gởi tôi chỗ này chỗ nọ,đem tôi lên chợ Cà Mau, lên thành phố,tôi lấy được vợ giàu làm giám đốc rồi đi tù ...”. Quá khứ của Bằng- nhân vật chính trong tiểu thuyết Cơn giông đã được nhà văn tóm tắt gọn gàng chừng ấy. Còn hiện tại của Bằng ư? Hiện tại ấy sẽ là 300 trang sách đang trong tay bạn. Mà cũng có thể tóm tắt một lần nữa như thế này: Bằng tìm về cội nguồn, giữa vùng sông nước Cà Mau để bắt đầu một cuộc sống như cha mẹ anh, như thuở anh mới chào đời. Mươi lăm trang đầu, Cơn giônghứa hẹn đưa chúng ta theo bước chân của một chàng Robinson hiện đại. Đọc tiếp thêm chục trang nữa, có cảm tưởng nhân vật khinh miệt cuộc sống bon chen, chụp giật nơi thị thành, muốn sống những năm tháng cuối đời ở nơi “cỏ sạch, nước trong”. Hay ông nhà văn muốn theo gương Nikos Kazntzaki để Bằng sẽ là một Alexis Zorba đi tìm những thú vui trần thế?

Trái với tất cả những dự liệu đó, Cơn giông khai lối đi riêng của mình. Và lối đi ấy đầy vẫy gọi, đầy hấp dụ! 

* Chúng ta hãy bắt đầu với chính Bằng... Nhân vật này có nguyên mẫu trong cuộc đời không?

- Nhân vật trong các truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết của tôi không bao giờ có nguyên mẫu. Hoặc nếu có nguyên mẫu thì đó là hàng trăm, hàng ngàn con người tôi đã từng gặp, từng sống, từng chia ngọt sẻ bùi. Trong chiến tranh chống Mỹ, dù không mặc áo lính, tôi như thuộc quân số của Trung đoàn Miền Tây của Sư đoàn 9. Trung đoàn này rặt lính nông dân quê ở miền Tây Nam bộ, chuyên tác chiến ở vùng sông rạch.Ngay từ thuở đó, dường như đã hình thành trong tôi những nét cơ bản thuộc tính cách của Bằng. Dĩ nhiên Bằng không trải qua chiến tranh. Nhưng khát khao vẫy vùng, ưa tự do, tính cách ngang tàng, bất cần; lòng thương người, sự thô nhám, ăn sóng nói gió...-nghĩa là những gì tiêu biểu cho bản chất của những người “dân ấp, dân lân”đi khai khẩn đất hoang ở Nam bộ-nổi bật ở những người lính miền Tây cũng như ở nhân vật Bằng. 

*Và trong độ đậm đặc, khái quát hơn là nhân vật ông già Sáu Thiên?

- Vâng, tôi không giấu anh,tôi rất thích nhân vật này. Trải qua cả hai cuộc chiến tranh. Về hưu không vợ con, không nhà cửa. Vẫn một bộ đồ lính, một chiếc ba lô lính. Vẫn hết lòng lo cho thiên hạ. Một kiểu Nagunốp trong Đất vỡ hoang của nhà văn Xô viết Mikhail Solokhov. Hết sức trong sáng mà cũng hết sức lông bông. Những xứ sở muốn làm “cách mạng thế giới” bao giờ cũng có rất nhiều những con người đáng yêu, đáng kính trọng như vậy! 

*Những tính cách ấy lại được đặt trên bối cảnh của sống rạch, rừng đước, rừng mắm Cà Mau...

- Tôi không cố ý chọn bối cảnh để tạo dựng nhân vật của mình đâu. Nói thế nào đây nhỉ? Đất ấy sinh ra người ấy mà! Nếu mảnh đất phía Nam mới có lịch sử hơn ba trăm năm khai thiên lập địa thì Cà Mau là vùng đất tiêu biểu nhất cho Nam Bộ. Vùng Năm Căn cho tới hôm nay hầu như vẫn chưa có đường bộ, biển bồi đắp phù sa tới đâu người dân tràn tới đó, mang theo tiếng chó sủa, tiếng gà gáy trưa... Vì thế bản tính là thích thiên di, không thích cái gì đã trở thành quen, thành cũ. Đáng tiếc rằng văn chương, phim ảnh của nước mình khai phá chưa nhiều mảnh đất và con người của xứ sở rất lạ này. 

* Trong Cơn giông ngoài Bằng, ông Sáu Thiên còn có ông già Trăm tuổi, ông già trông coi trại tù, cô Thùy và còn nhiều hình bóng khác hình như có chung một tính cách. Anh có sợ các nhân vật ấy cùng một “típ” người?

- Nếu bạn đọc cảm thấy như vậy thì đó có thể là sự non tay của tôi chăng? Nhưng thú thật tôi chỉ rành về những nhân vật mà mình yêu thương, tâm đắc. Hay nói thế này được không, nhà văn ví như thỏi nam châm chỉ hút vào mình thứ mạt sắt hợp với “tạng”của mình. Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của tôi số đông nhân vật thường là những con người bé nhỏ, bị hắt hủi, gặp nhiều bất hạnh ở đời. Và đề tài tôi hay khai thác bao giờ cũng là cái tâm, cái thiện ẩn náu phía trong mỗi con người không may ấy. Tôi thích viết và tâm niệm phải viết như thế. Tôi ít khi bị áp đặt bởi thời thượng (kể cả thời thượng chính trị).

* Trong Cơn giông có những trận ẩu đả,  trộm cắp, có nhà tù... có cả một cơn giông như muốn giật sập đổ tất cả. Ấy thế nhưng ngòi bút nhà văn như muốn né tránh mọi sự dữ dằn,mọi mưu chước. Liệu phương pháp lựa chọn chất liệu như vậy có làm giảm cái thực của văn chương như nhà văn vẫn thường hướng tới? 

- Với Cơn giông tôi không nhắm tới cốt truyện cũng như sự phân tuyến thiện ác giữa các nhân vật. Tôi cũng không cố ý miêu tả tính chất quyết liệt, gay gắt của các mâu thuẫn xã hội. Tôi muốn viết một cách khác, mới mẻ hơn, lạ hơn, tránh thuyết giáo hơn – chí ít là so với những cuốn truyện trước của tôi. Tôi chỉ muốn miêu tả những tính cách lạ nẩy sinh trong những hòan cảnh lạ. Còn tại sao các nhân vật chính, phụ của tôi dù trải qua bao vùi dập, thăng trầm, nếm trải rất nhiều cay đắng của cuộc đời họ vẫn giữ được cái tâm, vẫn là những con người hướng  thiện ư? Anh có nhớ văn hào Pháp Romanh Rolăng đã nói về Macxim Gorki như thế nào không? Đời ông ta dã quá nhiều đau khổ, ông ta có quyền ác độc, vị kỷ đến tàn nhẫn, độc địa; ấy thế nhưng ông ta lại rất nhân ái, rất độ lượng, bao dung với mọi người. Tôi rất thích sự phát hiện ấy của Romanh Rolăng!

* Nhiều bạn đọc,đặc biệt là các bạn đọc trẻ, đã nói với tôi đọc đến trang cuối cuốn Cơn giông của anh họ muốn òa khóc. Không phải khóc vì xót thương số phận chìm nổi của các nhân vật đâu. Họ khóc vì giữa cuộc sống cái ác hình như đang được tháo cũi sổ lồng như hiện nay, tại sao tấm lòng nhà văn vẫn ấm áp, tin yêu đến thế để mà còn nhận ra, còn rung động và cổ súy cho lòng nhân ái, điều thiện căn?

- Xin cám ơn những bạn đọc nào đó đã dành sự ưu ái cho tôi. Không phải chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả anh em cầm bút thuộc thế hệ tôi ngay từ khi dấn thân vào con đường cách mạng đã học được bài học đầu tiên - quần chúng lao động nghèo khổ không chỉ là cội nguồn của sức mạnh, của sức chịu đựng, hy sinh, mà còn là gốc rễ  của đạo đức, của lẽ phải và lòng bao dung, nhân ái. Xưa cũng thế mà nay cũng thế. Người cầm bút làm sao trượt xa khỏi đường rây đó được?

* Ấy vậy mà đã thấy xuất hiện những ý kiến hạ thấp giá trị của những cuốn tiểu thuyết thời chống Pháp, chống Mỹ. Lại cũng đã thấy đây đó một kiểu viết nhân vật hay khoe khoang nội ngọai của mình là những ông thông bà phán... Khi miêu tả chiến tranh thì nhân vật biện bạch chưa hề cầm súng hạ một địch thủ nào hoặc đã mấy lần ngấm ngầm thả tù binh của đối phương… Có người đã gọi đó là thứ “văn chương sám hối”.

- Có gì sai đâu mà phải sám hối! Trong chiến tranh chỉ có hậu phương và tiền tuyến; Ta và Địch, một nhiệm vụ duy nhất là đánh địch. Văn chương thời ấy có đơn giản một chút, “kêu gọi”một chút cũng là chuyện thường tình. Ngày nay, cuộc sống và tâm lý con người bộc lộ ra đa chiều, phức tạp hơn,lẽ dĩ nhiên nhà văn có thêm vũ đài để tử thí hơn lại cũng là chuyện thường tình. Tôi viết được những cuốn sách như ngày hôm nay vì tôi đã đọc Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Xung kích của Nguyễn Đình Thi... sau  này đọc tiểu thuyết của Nguyễn Thi, Phan Tứ, Anh Đức... Xét xa hơn nữa, còn là vì tôi đã đọc Lan Khai, Khái Hưng, Nhất Linh...; đọc Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên thời Thơ Mới. 

* Trở lại với tiểu thuyết Cơn giông, có thể nói như thế này: Chất trữ tình, lời kêu gọi hãy hướng tới vẻ đẹp của tâm hồn, của cuộc đời thấm đẫm từng trang. Mà cũng có thể coi Cơn giông là một bài thơ dài bằng văn xuôi. Rất nhiều chủ đề.  Rất nhiều điều muốn nói, ngập ngừng định nói mà bỗng như nghẹn lời...

Mà này nhà văn ơi, nẫy giờ gương mặt và nụ cười của nhạc sĩ Từ Huy bỗng nhiên cứ  ám  ảnh tôi. Bởi chính lời ca trong một bài hát của ông bạn mệnh yểu ấy lại khiến tôi hiểu ra cảm hứng của anh; cả cơn nhập đồng anh không tài nào cưỡng nổi khi viết Cơn giông. Đây nhé: “Thuyền anh đó em cứ cuốn đi, cứ cuốn đi...Thuyền anh đó con sóng cứ xô. Thuyền anh đó cứ mãi nhấp nhô. Giữa biển khơi không bờ không bến...”

Anh Bằng ơi! Anh may mắn lắm vì đã có cô Thùy đợi anh ở khu ruộng nuôi tôm rồi!

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Nhân vật văn học của Đặng Hoàng Thám, những thông điệp sâu sắc
Với hai mươi ba truyện ngắn, cùng đa dạng nhân vật ở mọi ngành nghề, tầng lớp, “Lửa và trái tim” đã thuyết phục người đọc về tính khách quan cho sự phản ánh đời sống-xã hội và cả tâm tư con người bằng sự khéo léo và linh hoạt của điểm nhìn ở ngôi kể thứ ba. Từ “Trăng phía sau đình”, “Về từ cõi khác”, “Mua văn bán chữ”, “Trên đồi cỏ tranh” hay “Mưa trái mùa”... mỗi câu chuyện là một lát cắt sinh động của đời sống, nơi mỗi người đều có số phận và lý tưởng của riêng mình. Và điều đáng nói, họ đều hướng về cộng đồng, hướng về sự phát triển bản thân trên nền tảng của đạo đức và sự cống hiến, điểm mà tôi trân trọng ở ngòi bút này.
Xem thêm
Tìm về lời rạ rơm – Bến trú ngụ của những bão giông đời người
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm