TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lê Văn Thảo: “Khi viết tôi rất ít khi chịu áp lực của thời thượng

Lê Văn Thảo: “Khi viết tôi rất ít khi chịu áp lực của thời thượng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-08 16:00:07
mail facebook google pos stwis
2666 lượt xem

CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

Tiểu thuyết Cơn giông được NXB Trẻ ấn hành lần đầu vào năm 2002, NXB Hội Nhà văn tái bản năm 2006. Cũng năm ấy Cơn giông nhận Giải thưởng văn học Đông Nam Á. Có thể nói thẳng điều này: ở cả ba thời điểm  kể  trên Cơn giông không khuấy động được bao nhiêu dư luận của bạn đọc, của giới phê bình. Chuyện không có gì lạ khi thiên hạ đang nháo nhác, tất bật tìm kế mưu sinh mà bỗng trở nên ghẻ lạnh, xa lánh với văn hoá đọc.

Thành thử cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với nhà văn Lê Văn Thảo xung quanh Cơn giông hôm nay tựa như một sự vớt vát muộn màng đối với những hạt vàng đã vô tình để lọt qua kẽ tay...

“… đâu hồi năm sáu tuổi gì đó. Tôi đang ở dưới ghe, một cơn giông nổi lên,ba má không thấy đâu, chiếc ghe trôi đi tôi nằm bất tỉnh, có người cứu giúp nuôi tôi lớn lên,đời tôi cũng trôi giạt từ đó...Người đàn ông sau thành ông già nuôi, bán chiếc ghe lấy tiền nuôi tôi, thật ra gởi tôi chỗ này chỗ nọ,đem tôi lên chợ Cà Mau, lên thành phố,tôi lấy được vợ giàu làm giám đốc rồi đi tù ...”. Quá khứ của Bằng- nhân vật chính trong tiểu thuyết Cơn giông đã được nhà văn tóm tắt gọn gàng chừng ấy. Còn hiện tại của Bằng ư? Hiện tại ấy sẽ là 300 trang sách đang trong tay bạn. Mà cũng có thể tóm tắt một lần nữa như thế này: Bằng tìm về cội nguồn, giữa vùng sông nước Cà Mau để bắt đầu một cuộc sống như cha mẹ anh, như thuở anh mới chào đời. Mươi lăm trang đầu, Cơn giônghứa hẹn đưa chúng ta theo bước chân của một chàng Robinson hiện đại. Đọc tiếp thêm chục trang nữa, có cảm tưởng nhân vật khinh miệt cuộc sống bon chen, chụp giật nơi thị thành, muốn sống những năm tháng cuối đời ở nơi “cỏ sạch, nước trong”. Hay ông nhà văn muốn theo gương Nikos Kazntzaki để Bằng sẽ là một Alexis Zorba đi tìm những thú vui trần thế?

Trái với tất cả những dự liệu đó, Cơn giông khai lối đi riêng của mình. Và lối đi ấy đầy vẫy gọi, đầy hấp dụ! 

* Chúng ta hãy bắt đầu với chính Bằng... Nhân vật này có nguyên mẫu trong cuộc đời không?

- Nhân vật trong các truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết của tôi không bao giờ có nguyên mẫu. Hoặc nếu có nguyên mẫu thì đó là hàng trăm, hàng ngàn con người tôi đã từng gặp, từng sống, từng chia ngọt sẻ bùi. Trong chiến tranh chống Mỹ, dù không mặc áo lính, tôi như thuộc quân số của Trung đoàn Miền Tây của Sư đoàn 9. Trung đoàn này rặt lính nông dân quê ở miền Tây Nam bộ, chuyên tác chiến ở vùng sông rạch.Ngay từ thuở đó, dường như đã hình thành trong tôi những nét cơ bản thuộc tính cách của Bằng. Dĩ nhiên Bằng không trải qua chiến tranh. Nhưng khát khao vẫy vùng, ưa tự do, tính cách ngang tàng, bất cần; lòng thương người, sự thô nhám, ăn sóng nói gió...-nghĩa là những gì tiêu biểu cho bản chất của những người “dân ấp, dân lân”đi khai khẩn đất hoang ở Nam bộ-nổi bật ở những người lính miền Tây cũng như ở nhân vật Bằng. 

*Và trong độ đậm đặc, khái quát hơn là nhân vật ông già Sáu Thiên?

- Vâng, tôi không giấu anh,tôi rất thích nhân vật này. Trải qua cả hai cuộc chiến tranh. Về hưu không vợ con, không nhà cửa. Vẫn một bộ đồ lính, một chiếc ba lô lính. Vẫn hết lòng lo cho thiên hạ. Một kiểu Nagunốp trong Đất vỡ hoang của nhà văn Xô viết Mikhail Solokhov. Hết sức trong sáng mà cũng hết sức lông bông. Những xứ sở muốn làm “cách mạng thế giới” bao giờ cũng có rất nhiều những con người đáng yêu, đáng kính trọng như vậy! 

*Những tính cách ấy lại được đặt trên bối cảnh của sống rạch, rừng đước, rừng mắm Cà Mau...

- Tôi không cố ý chọn bối cảnh để tạo dựng nhân vật của mình đâu. Nói thế nào đây nhỉ? Đất ấy sinh ra người ấy mà! Nếu mảnh đất phía Nam mới có lịch sử hơn ba trăm năm khai thiên lập địa thì Cà Mau là vùng đất tiêu biểu nhất cho Nam Bộ. Vùng Năm Căn cho tới hôm nay hầu như vẫn chưa có đường bộ, biển bồi đắp phù sa tới đâu người dân tràn tới đó, mang theo tiếng chó sủa, tiếng gà gáy trưa... Vì thế bản tính là thích thiên di, không thích cái gì đã trở thành quen, thành cũ. Đáng tiếc rằng văn chương, phim ảnh của nước mình khai phá chưa nhiều mảnh đất và con người của xứ sở rất lạ này. 

* Trong Cơn giông ngoài Bằng, ông Sáu Thiên còn có ông già Trăm tuổi, ông già trông coi trại tù, cô Thùy và còn nhiều hình bóng khác hình như có chung một tính cách. Anh có sợ các nhân vật ấy cùng một “típ” người?

- Nếu bạn đọc cảm thấy như vậy thì đó có thể là sự non tay của tôi chăng? Nhưng thú thật tôi chỉ rành về những nhân vật mà mình yêu thương, tâm đắc. Hay nói thế này được không, nhà văn ví như thỏi nam châm chỉ hút vào mình thứ mạt sắt hợp với “tạng”của mình. Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của tôi số đông nhân vật thường là những con người bé nhỏ, bị hắt hủi, gặp nhiều bất hạnh ở đời. Và đề tài tôi hay khai thác bao giờ cũng là cái tâm, cái thiện ẩn náu phía trong mỗi con người không may ấy. Tôi thích viết và tâm niệm phải viết như thế. Tôi ít khi bị áp đặt bởi thời thượng (kể cả thời thượng chính trị).

* Trong Cơn giông có những trận ẩu đả,  trộm cắp, có nhà tù... có cả một cơn giông như muốn giật sập đổ tất cả. Ấy thế nhưng ngòi bút nhà văn như muốn né tránh mọi sự dữ dằn,mọi mưu chước. Liệu phương pháp lựa chọn chất liệu như vậy có làm giảm cái thực của văn chương như nhà văn vẫn thường hướng tới? 

- Với Cơn giông tôi không nhắm tới cốt truyện cũng như sự phân tuyến thiện ác giữa các nhân vật. Tôi cũng không cố ý miêu tả tính chất quyết liệt, gay gắt của các mâu thuẫn xã hội. Tôi muốn viết một cách khác, mới mẻ hơn, lạ hơn, tránh thuyết giáo hơn – chí ít là so với những cuốn truyện trước của tôi. Tôi chỉ muốn miêu tả những tính cách lạ nẩy sinh trong những hòan cảnh lạ. Còn tại sao các nhân vật chính, phụ của tôi dù trải qua bao vùi dập, thăng trầm, nếm trải rất nhiều cay đắng của cuộc đời họ vẫn giữ được cái tâm, vẫn là những con người hướng  thiện ư? Anh có nhớ văn hào Pháp Romanh Rolăng đã nói về Macxim Gorki như thế nào không? Đời ông ta dã quá nhiều đau khổ, ông ta có quyền ác độc, vị kỷ đến tàn nhẫn, độc địa; ấy thế nhưng ông ta lại rất nhân ái, rất độ lượng, bao dung với mọi người. Tôi rất thích sự phát hiện ấy của Romanh Rolăng!

* Nhiều bạn đọc,đặc biệt là các bạn đọc trẻ, đã nói với tôi đọc đến trang cuối cuốn Cơn giông của anh họ muốn òa khóc. Không phải khóc vì xót thương số phận chìm nổi của các nhân vật đâu. Họ khóc vì giữa cuộc sống cái ác hình như đang được tháo cũi sổ lồng như hiện nay, tại sao tấm lòng nhà văn vẫn ấm áp, tin yêu đến thế để mà còn nhận ra, còn rung động và cổ súy cho lòng nhân ái, điều thiện căn?

- Xin cám ơn những bạn đọc nào đó đã dành sự ưu ái cho tôi. Không phải chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả anh em cầm bút thuộc thế hệ tôi ngay từ khi dấn thân vào con đường cách mạng đã học được bài học đầu tiên - quần chúng lao động nghèo khổ không chỉ là cội nguồn của sức mạnh, của sức chịu đựng, hy sinh, mà còn là gốc rễ  của đạo đức, của lẽ phải và lòng bao dung, nhân ái. Xưa cũng thế mà nay cũng thế. Người cầm bút làm sao trượt xa khỏi đường rây đó được?

* Ấy vậy mà đã thấy xuất hiện những ý kiến hạ thấp giá trị của những cuốn tiểu thuyết thời chống Pháp, chống Mỹ. Lại cũng đã thấy đây đó một kiểu viết nhân vật hay khoe khoang nội ngọai của mình là những ông thông bà phán... Khi miêu tả chiến tranh thì nhân vật biện bạch chưa hề cầm súng hạ một địch thủ nào hoặc đã mấy lần ngấm ngầm thả tù binh của đối phương… Có người đã gọi đó là thứ “văn chương sám hối”.

- Có gì sai đâu mà phải sám hối! Trong chiến tranh chỉ có hậu phương và tiền tuyến; Ta và Địch, một nhiệm vụ duy nhất là đánh địch. Văn chương thời ấy có đơn giản một chút, “kêu gọi”một chút cũng là chuyện thường tình. Ngày nay, cuộc sống và tâm lý con người bộc lộ ra đa chiều, phức tạp hơn,lẽ dĩ nhiên nhà văn có thêm vũ đài để tử thí hơn lại cũng là chuyện thường tình. Tôi viết được những cuốn sách như ngày hôm nay vì tôi đã đọc Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Xung kích của Nguyễn Đình Thi... sau  này đọc tiểu thuyết của Nguyễn Thi, Phan Tứ, Anh Đức... Xét xa hơn nữa, còn là vì tôi đã đọc Lan Khai, Khái Hưng, Nhất Linh...; đọc Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên thời Thơ Mới. 

* Trở lại với tiểu thuyết Cơn giông, có thể nói như thế này: Chất trữ tình, lời kêu gọi hãy hướng tới vẻ đẹp của tâm hồn, của cuộc đời thấm đẫm từng trang. Mà cũng có thể coi Cơn giông là một bài thơ dài bằng văn xuôi. Rất nhiều chủ đề.  Rất nhiều điều muốn nói, ngập ngừng định nói mà bỗng như nghẹn lời...

Mà này nhà văn ơi, nẫy giờ gương mặt và nụ cười của nhạc sĩ Từ Huy bỗng nhiên cứ  ám  ảnh tôi. Bởi chính lời ca trong một bài hát của ông bạn mệnh yểu ấy lại khiến tôi hiểu ra cảm hứng của anh; cả cơn nhập đồng anh không tài nào cưỡng nổi khi viết Cơn giông. Đây nhé: “Thuyền anh đó em cứ cuốn đi, cứ cuốn đi...Thuyền anh đó con sóng cứ xô. Thuyền anh đó cứ mãi nhấp nhô. Giữa biển khơi không bờ không bến...”

Anh Bằng ơi! Anh may mắn lắm vì đã có cô Thùy đợi anh ở khu ruộng nuôi tôm rồi!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm