TIN TỨC

“Lời của gió” - Lời của nước mắt, nụ cười

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-30 10:48:36
mail facebook google pos stwis
1511 lượt xem

Nguyễn Thế Kỷ (*)

Tôi may mắn được người anh, người đồng nghiệp quý mến - Nhà thơ, Nhà báo Trần Thế Tuyển gửi bản thảo trường ca “Lời của gió” với tin nhắn giản dị, mộc mạc “Gửi chú đọc và thẩm cho anh”. Đọc thì đương nhiên rồi, nhưng không dám “thẩm”. Mấy lời sau đây tôi viết với tư cách là bạn đọc, là người em của Nhà thơ Trần Thế Tuyển. 

Đại tá, nhà thơ, nhà báo Trần Thế Tuyển

Trần Thế Tuyển và thế hệ của mình, cả trước đó, sinh ra và lớn lên khi chưa kịp nhìn thấy giảng đường đại học đã phải ôm cây súng lặn lội trong bom đạn vượt Trường Sơn vô miền Nam đánh Mỹ, vừa đánh giặc, vừa tập làm báo, làm thơ khi có thể, may mắn đi tới tận Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, và không dám nghĩ có thể cùng quân và dân ta đi đến trận thắng lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng.

Phải có một vốn sống dày dặn với nhiều đau thương, mất mát, những trận đánh ác liệt, những cơn sốt rét rừng dữ dằn, những trận địch càn tàn khốc…Trần Thế Tuyển mới có cho mình một vốn liếng báo chí và văn chương đáng tự hào. Về văn chương, đến nay, anh có 17 cuốn sách gồm các thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, truyện ký...Riêng thơ, là các tập “Dấu chân của Mẹ”, “Ngực Đá”, “Câu hỏi đời người”, “Dấu ấn” và các trường ca “Phía sau mặt trời”, “Gió thổi miền ký ức”, “Mẹ”, “Quốc giỗ"…

Trường ca mới “Lời của gió” của Trần Thế Tuyển mang đậm tính sử thi, hào hùng, bi hùng, bay bổng, đằm sâu với chiều kích thời gian và không gian rộng lớn. Ở chương 5, chương cuối trường ca, anh viết “Ngọn gió lang thang bến Nhà Rồng/Nhân chứng “Người ra đi tìm đường cứu nước”/Phượng vẫn đỏ như lời hẹn ước/Ra đi và trở về…”. Hình tượng gió trong trường ca “Lời của gió” thổi dọc đất nước, xuyên suốt bài thơ “từ núi rừng Tây Ninh..”, “từ những cánh đồng/ Hướng Tây Nam, trận Cầu Voi máu lửa”, “Gió từ Vàm Cỏ Đông”, “Gió trong Dinh Độc Lập”, “Gió nơi miền biên ải”, “Gió và sóng lừng Thủ Thiêm”, “Gió từ Bến Nhà Rồng”. Trần Thế Tuyển nói những điều lớn lao về đất nước, về con người, về chiến tranh, về mất mát, đau thương, về chiến thắng, về niềm kiêu hãnh… bằng những hình ảnh, những chi tiết thật giản dị, xúc động và đầy mỹ cảm “Gió theo những binh đoàn từ núi rừng Tây Nguyên/Hướng Tây Bắc tràn vào Thành phố/Những Đồng Dù, Lái Thiêu ... còn đó/Khói bom chưa tan, chim én đã bay về”...hay “Có bà mẹ Sài Gòn đi tìm con/Thằng Bảy, thằng Ba, con Năm, con Sáu.../Hòa bình rồi, ở nơi đâu các con yêu dấu/Về nhà đi, má nấu canh chua”… Nhà thơ khắc họa Ngày đại thắng 30/4/1975 thật riêng, thật gợi“Chính ủy Bùi Văn Tùng không thể nào quên/Những người lính lấy máu mình nhuốm thân hình đất nước/Những Thiềng, những Khơi, những Hoàng Thọ Mạc.../Những “cánh đồng chó ngáp” máu và xương.../Trưa nay Đài phát thanh, bên mình đanh thép/Chấp nhận lời Tuyên bố đầu hàng”. Ngọn gió chiến chinh mà dân tộc, mà Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh phải hứng chịu, phải vượt qua đâu chỉ dừng lại ở đó. Hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc đến gần ngay sau đó do sự phản bội đớn hèn và dã tâm bành trướng, bá quyền của láng giềng“Chưa trọn vui sau ngày toàn thắng/Kẻ thù phía Tây Nam lửa biên ải đau thương/Những Lò Gò, Xóm Giữa, Tân Biên/Những Ba Chúc, Tịnh Biên, Hồng Ngự…” và “Tiếng súng đã vang…”/Ngày mười bảy tháng hai năm ấy/Một dải biên cương máu đỏ Kỳ Cùng…”. Chiến tranh với kẻ thù xâm lược lắng xuống, nhưng đất nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng lại phải đương đầu với giặc nội xâm. Đó là “Gió và sóng lừng Thủ Thiêm” (Chương IV).

Từ vùng đất anh hùng “Thủ Thiêm như mũi tàu rẽ sóng/Căn cứ xưa, nơi xuất phát bao trận đánh/Khách sạn Ca Ra Ven, toà Đại sứ, Đài Phát thanh…/Những chiến sĩ biệt động Thành: Chín Nghĩa, Tư Tăng…/Những Nguyễn Văn Thương, Thu Trang, Đoàn Ánh Tuyết…/Từ Thủ Thiêm, bất thần xuất kích/Nổ tung căn cứ quân thù…”. Vậy mà khi đi vào cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập, vùng đất ấy cũng bị những “viên đạn bọc đường”, những mũi dao từ bóng tối xuyên vào cơ thể “Gió tạo sóng lừng dưới đáy sông/Sóng không ai nhìn thấy, hư không/Mà lật tàu như bàn tay trở/Dự án Thủ Thiêm như món nợ/Ước mơ xanh hoá hệ luỵ trầm kha…”. Nhưng, như hàng ngàn, hàng trăm năm đã đi qua, đất nước này, Thành phố này luôn vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió “Gió từ bến Nhà Rồng/Kể chuyện những thăng trầm/Con đường đi lên đâu chỉ là thảm đỏ/Mà chông gai, thách thức khó lường/Gió nổi lên từ bến cảng Nhà Rồng/Cho hạm tàu Thành phố/Vì cả nước, cùng cả nước…cánh buồm no gió/Ra khơi, đầy ắp những niềm vui”.

Đọc “Lời của gió”, ta nghe tiếng dịu dàng, lắng sâu, cả tiếng ầm ào, cháy bỏng của “con sóng dưới lòng sâu/con sóng trên mặt nước” (Thơ Xuân Quỳnh). Hình tượng thơ thật đẹp, đôi khi dữ dội, nhưng đằng sau câu chữ, hình ảnh, hình tượng ấy là tấm lòng thao thiết, đau đáu yêu thương của nhà thơ; trách nhiệm của một công dân gương mẫu, nhiều trăn trở, nhiều trắc ẩn. Với trường ca này, Trần Thế Tuyển đã có một món quà thật ý nghĩa dâng đất nước, cho thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu nhân kỷ niệm tròn 50 năm đất nước hòa bình, thống nhất, đổi mới, phát triển; Thành phố Hồ Chí Minh như con tàu vượt thác ghềnh, đón ngọn gió đổi mới thuận nhân, thuận thiên để ra khơi “Gió từ bến cảng Nhà Rồng thổi bùng lên/Thành phố mang tên Người/Năm mươi năm ngời sáng”./. 

 

Hà Nội, 6-2024

      N.T.K 

————

(*) PGS TS, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam - Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm