TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 02:54:31
mail facebook google pos stwis
521 lượt xem

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.

 

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn

 

Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ sáng tác văn học, ông còn viết kịch bản phim truyện điện ảnh; Kịch bản phim VIDEO; Kịch bản phim truyền hình và cả kịch bản sân khấu. Các tác phẩm của Nguyễn Manh Tuấn trở thành hiện tượng, nói hơi hình ảnh một chút, cái mẹ vừa ra đời không lâu đã đẻ ngay ra cái con, nó nhanh và nhiều đến mức không còn gọi là nở rộ nữa, mà là bùng nổ trên nhiều phương diện, chiếm sóng truyền thông ở nhiều loại hình khi đó. Ở đây tiểu thuyết được xem như là chất xúc tác đầu tiên, xuất bản liên tục, dựa vào đấy để điện ảnh ăn theo, đặc biệt thể loạt phim truyền hình gần như rất đắt sô. Điều này có vẻ đúng với quẻ tử vi của nhà văn Lê Phương, tác giả nổi tiếng với tiểu thuyết “Thung Lũng Cô Tan” lúc bấy giờ phán câu chắc nịch: “Số ông chỉ có hành phương Nam mới là đất dụng võ”. Vậy câu hỏi đặt ra, tại sao nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn làm được? Tôi cho rằng đấy là sự khác biệt.  

Hơn nửa thế kỷ sau năm 2025, trong cuốn “Chua ngọt đời văn”, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thanh thiên bạch nhật cả vui, lẫn buồn, rất đáng để chúng ta suy ngẫm? Tôi có cảm giác viết văn chưa hẳn là ánh hào quang như ta tưởng, đôi khi nó là một canh bạc, cho những ai đam mê theo đuổi nghiệp văn chương?

Và đây, xin bắt đầu từ một câu hỏi:  

Nhà văn có thể sống bằng nghề?

Câu hỏi này thực ra không mới, ngay cả khi các nhà văn tên tuổi gạo cội, dù ngày đó số lượng vẫn còn chưa nhiều, cũng phải thốt lên chua chát: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu). Với cụ Tản Đà lại còn thảm hại hơn một bậc: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Nhìn rộng ra thế giới để hiểu họ có như mình hay không? Có đấy, người sống được bằng nghề viết văn cũng rất khiêm tốn như J.K.Rowling sinh năm 1965, người Anh, nổi tiếng với bộ truyện giả tưởng Harry Potter; Stephen King sinh năm 1947, người Mỹ, với văn phong lôi cuốn, sức viết kinh khủng có tới hơn 60 tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm kinh điển như It, Shining, Carrie và được chuyển thành phim cực hót; Châu Á có Haruki Murakami sing năm 1949, người Nhật, từng nhận nhiều giải thưởng, nhưng giải Noben văn học từng nhiều lần tham gia vẫn chưa thành công, đáng chú ý ông có hẳn một tác phẩm về nghề viết tiểu thuyết.

Nhìn chung, đại đa số viết văn để sống được, phải nhờ vào nguồn thu nhập ngoài việc bán sách hoặc được sự hỗ trợ từ giải thưởng. Đúng thế, Daid Foen Kinos nhà văn đương đại nổi tiếng Pháp cho biết: “có tới 99% ở Pháp không sống được bằng nghề của mình được”(Tần Tần, phỏng vấn David Foenkinos, 99% nhà văn Pháp không sống bằng nghề viết văn znews.vn).   

Bàn về tuổi thọ của mỗi tác phẩm, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn cho rằng: “hiện đa số các tác phẩm - cả văn học, sân khấu lẫn điện ảnh – đã sống được lâu hơn ba năm, chắc nhờ may mắn? Còn viết được tác phẩm để đời và lưu danh muôn thuở, tôi tin không ít người cầm bút cũng biết điều sơ đẳng là: hàng triệu nhà văn trên thế giới mới có một người đạt được cái đích ấy. Rồi trong vạn người ở cái đích ấy, chỉ có chừng 30% là chân tài; còn 70% nhờ cơ hội và ăn theo môi trường”. Một người như nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, cầm bút lâu như thế, kinh nghiệm trận mạc dày như thế, vẫn chỉ đoán mình “chắc nhờ may mắn?”. Nói như vậy tôi cho rằng là khá chính sác như trường hợp J.K Rowling, tên thật của bà là Joanne Rowling như đã nói ở trên. Để đạt được đỉnh cao lưu danh muôn thuở, bà từng rất bầm dập khi bản thảo đầu tay từng gửi qua 12 nhà xuất bản đều bị từ chối. Thật tuyệt vời, hiện nay chẳng những hơn ba năm, Hary Potter gần như trường tồn, cả thế giới gần như đọc tác phẩm của bà và xem nó trên phim, đặc biệt với trẻ em là vô cùng hấp dẫn.   

Như vậy có thể nói, người viết văn rất khó sống bằng nghề. Đấy là cái “chua” thứ nhất, trong tác phẩm “Chua ngọt đời văn” của Nguyễn Mạnh Tuấn.  

 

Nhà văn Đỗ Viết Nghiệm

 

Những phần tiếp theo, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn muốn bạn đọc biết thêm chi tiết về cái sự “chua”, cái sự “ngọt” mà thôi. Chuyện làm phim triệu USD với Hollywood – Mỹ, là vị ngọt đầu tiên được đặt hàng kịch bản phim điện ảnh, nhưng không phải như mộng tưởng triệu đô ban đầu, bởi đồng tiền của một đại đế quốc giàu bậc nhất thế giới cũng không dễ sơi của nó đâu. Lối viết hài hước, hấp dẫn, một thằng con Mỹ tuềnh toàng thích ăn cà pháo mắm tôm, còn rành hơn cả chủ nhà bản địa, xuất hiện như trên trời rơi xuống.

Ở đây vấn đề đặt ra không còn là chuyện kịch bản phim nữa, mà là câu hỏi làm sao một gã lạ hoắc người Mỹ lại tìm tới Nguyễn Mạnh Tuấn? Thế mới biết những kẻ làm nghề chuyên nghiệp nó rất tinh, do vậy cũng chẳng bất ngờ với Nguyễn Mạnh Tuấn và cả chúng ta là vì thế! Vào giai đoạn này những kẻ “săn đầu người” rất hiểu nhà văn viết cái gì, vì tên tuổi Nguyễn Mạnh Tuấn đang gây bão tại Việt Nam với phim “Biển Sáng”, chuyển thể từ tiểu thuyết “Đứng trước biển” và sau đó là “Cù Lao Tràm”. Ông cũng có ba cuốn tiểu thuyết được dịch ra tiếng nước ngoài bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Anh (Mỹ), nên cũng là nguồn để họ nắm bắt. Nhân đây cũng xin trích lại một đoạn, lời nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thổ lộ để làm rõ thêm: “Ở nước ta, nhà văn muốn sống bằng nghề, đừng bận tâm về sự thật giả lẫn lộn, từ mọi nguồn thông tin các giá trị tác phẩm. Nhiều nhà văn ta, hễ có bài thơ, truyện ngắn dịch ra tiếng một nước có nền văn học rất khiêm tốn, là lập tức cả nước biết. Thực tình, tác phẩm nào của mình trúng số xuất ngoại cũng đáng được chúc mừng. Nếu có, điều không đáng mừng chỉ ở chỗ phần nhiều các tác giả này lại lấy đó làm thước đo, coi mình hơn hẳn những tác giả, tác phẩm chưa ra ngoài biên giới. Rồi khi sách được dịch sang một nước tư bản giàu mạnh nào đó, các nhà văn này lập tức tin mình thuộc tầm cỡ thế giới”.

Vậy ở đây thông điệp với các người viết văn là gì? Nếu mình có tài, thì dù xa mấy, chân trời góc bể nào, họ cũng sẽ nhận ra! Thú vị thật, cú này dù không đúng như giấc mơ đầu tiên, chỉ vài ngàn đô thôi, nhưng lại là mở màn cho hàng loạt trái ngọt, trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Mạnh Tuấn.

Chuyện bảy năm đi hầu tòa, là cú chua thứ hai mới khiếp. Tôi vốn là một người cực nhát, nên khi đọc xong tập sách cũng rờn rợn nổi hết cả gai gà. Chuyện gặp phải một tên lưu manh đúng nghĩa, vu cho Nguyễn Mạnh Tuấn ăn cắp bản quyền vở cải lương Bạch Hải Đường. Cái đáng trách nhất đứng đằng sau kẻ lưu manh ấy, có cả những nhân vật có máu mặt trong làng nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giật dây, chỉ lối. Bảy năm đi hầu tòa hao tâm khổ tứ đầy chua chát. Nhưng mừng, cuối cùng lẽ phải đã thắng! Và đúng như ông cụ thân sinh Nguyễn Mạnh Tuấn từng nói: “viết văn là một nghề bất an”.

Từ “Chua ngọt đời văn” tôi nhận ra, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là một người có cá tính mạnh. Rất có thể là vậy, ngày Nguyễn Mạnh Tuấn viết “Những khoảnh khắc còn lại”; “Đứng trước biển”; “Cù Lao Tràm” còn khá trẻ, nếu không nhầm ngày ấy ông mới chừng ba mươi, hay già vài ba năm tuổi gì đó. Những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà văn chúng ta phần nhiều vẫn viết theo lối cũ, như đã nói ở trên. Theo tôi bước ngoặt đột phá đối với Nguyễn Mạnh Tuấn đều đến từ những đơn đặt hàng, mà “đặt hàng” người ta thường vẫn hay định kiến đó là một loại sản phẩm có kế hoạch, phải viết theo nhà đầu tư nêu ra, nên không có gì vẻ vang cả. Sòng phẳng mà nói, viết như vậy là viết vì tiền! Nguyễn Mạnh Tuấn thì khác, vẫn nhận đặt hàng xem đấy là cơ hội, nhưng khi thực hiện thì ông viết hoàn toàn khác. Nguyễn Mạnh Tuấn viết với thái độ tôn trọng sự thực, rồi sáng tạo, biến hóa, rồi tung tẩy, có lẽ vậy ông nhanh chóng định danh tên tuổi mình. Đấy là điều cũng không giống ai, bầm dập ban đầu, nhưng chói sáng về sau.

Vậy gợi ý ở đây là gì? Là nhà văn phải luôn làm mới chính mình trước, nếu không muốn bị tụt lại phía sau.

Viết câu chuyện nhuận bút Liên Xô có khủng; hay đường đi khoản nhuận bút cuốn sách đầu tiên. Thực ra viết điều này, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chỉ là để chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu cho chính mình và cho bạn bè mà thôi. Ngày đó Nguyễn Mạnh Tuấn cùng nhiều nhà văn khác Việt Nam, đang theo học tại trường Gorki, Liên Xô cũ, bất ngờ được thông báo tới nhận tiền nhuận bút cho tiểu thuyết “Những khoảnh khắc còn lại” và một truyện ngắn “Thanh bình” dịch sang tiếng Nga là 4.000 rúp. Mừng quá, nếu đánh quả làm con buôn một chuyến, mua hàng điện tử rẻ như bèo, về Việt Nam bán thu tiền cả đống, nhưng không sao chở nổi và có muốn họ cũng chẳng cho. Đúng như quan niệm rất nhân văn của người Việt “lộc bất tận hưởng”, 4.000 rúp là một số tiền khủng, nhưng sau đó vợ chồng nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có cách ứng xử trên cả tuyệt vời, “xả bớt lộc cũng là cơ trời” giúp những người bạn lúc khó khăn mới khiến ta nể phục.  

Nhưng “Hậu Đứng trước biển” và “Hậu Cù Lao Tràm”, lại cho tôi nhiều suy tư trăn trở. Đó là trong giới văn chương chúng ta vẫn thường mắc phải một cái bệnh đố kỵ, kiểu “văn mình vợ người” là quá lớn. Chuyện đồn tiểu thuyết “Đứng trước biển”, không phải của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết, mà của nhà văn Lê Phương, hay ông Y bà Z… . Khá buồn cười, có người còn cho rằng tác giả chính là nhà văn Hà Phương vợ nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, anh ta chỉ đứng tên thôi.

Làm sao lại có chuyện ấy? vì bấy giờ “Cù Lao Tràm” đang làm dậy sóng Hậu Giang và các tỉnh miền Tây. Rõ ràng họ nghi ngờ tài năng của Nguyễn Manh Tuấn, một người siêu rượu, như nhà văn tự bạch vào thời còn ở miền Bắc, những năm chiến tranh ông tham gia Thanh niên tình nguyện đi lên vùng tây Bắc, chủ yếu là công việc cơ bắp, giờ nghỉ việc ban chiều uống rượu suông, mong có được giấc ngủ ngon qua đêm để lấy lại sức cho ngày hôm sau. Nhưng từ khi vào Sài Gòn, Nguyễn Mạnh Tuấn gần như bỏ rượu hẳn. Lạ thật, rượu chẳng bao giờ liên quan tới văn chương, nhưng vẫn bị thiên hạ vu cho cái tội không rượu, không trà, không thuốc, thiếu ba thứ ấy không là nhà văn? Hồi năm 1986, 1987 người ta còn bảo là may, nhờ có các ông ở Trung ương và tp. Hồ Chí Minh dàn xếp, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thoát không đi cải tạo. Thế đấy, đừng quá mộng mơ nhiều vào nghề viết văn, nó không bằng phẳng trơn tru, nó cũng chẳng ngon ngọt như vị Chocola thơm phức, ngược lại có khi còn gặp nhiều sui xẻo. Đấy là cái chua thứ ba, rất buồn nên cẩn trọng.

“Chua ngọt đời văn” viết theo phương pháp hỏi và đáp, dù không phải là thủ pháp tối ưu nhất, nhưng theo tôi đó là một kiểu lựa chọn sắc sảo! Bởi chỉ có thủ pháp này Nguyễn Mạnh Tuấn, mới bọc bạch được hết điều đọc giả cần biết, nó chua như thế nào, và ngọt ra sao trong nghề viết văn. Bản chất của hỏi và đáp là tạo ra được sự tương tác, thu hút và giữ chân người đọc, khơi dậy sự tò mò, khiến họ muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở những trang viết.

Đa số các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, có số lượng trang viết khá dài, vậy có đi ngược với xu hướng “tối giản” trong văn học hiện đại? Chủ nghĩa tối giản (Minimalism) nhấn mạnh sự đơn giản hóa, loại bỏ chi tiết thừa, để tập trung vào yếu tố cốt lõi. Trên thực tế “tối giản” có một phần dành cho bạn đọc, tùy vào cảm xúc nhận thức. Ví dụ gần đây nhất nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có “Linh Ứng”; “Kẻ khôn hơn vua” đều dày trên bảy trăm trang. Cuốn “Chua ngọt đời văn” dù không tới mức ấy, nhưng vẫn là dài. Dù vậy, tôi vẫn khẳng định tối giản hay không tối giản, đâu quan trọng? Dài mà hay, hấp dẫn, vẫn là số một! Với Nguyễn Mạnh Tuấn, một nhà văn thuộc lớp “chân tài” trên văn đàn văn chương Việt Nam đương đại, viết dài là một đặc điểm của ông.

Tp. HCM, tháng 11/2025.

Đ.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm