TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 02:54:31
mail facebook google pos stwis
343 lượt xem

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.

 

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn

 

Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ sáng tác văn học, ông còn viết kịch bản phim truyện điện ảnh; Kịch bản phim VIDEO; Kịch bản phim truyền hình và cả kịch bản sân khấu. Các tác phẩm của Nguyễn Manh Tuấn trở thành hiện tượng, nói hơi hình ảnh một chút, cái mẹ vừa ra đời không lâu đã đẻ ngay ra cái con, nó nhanh và nhiều đến mức không còn gọi là nở rộ nữa, mà là bùng nổ trên nhiều phương diện, chiếm sóng truyền thông ở nhiều loại hình khi đó. Ở đây tiểu thuyết được xem như là chất xúc tác đầu tiên, xuất bản liên tục, dựa vào đấy để điện ảnh ăn theo, đặc biệt thể loạt phim truyền hình gần như rất đắt sô. Điều này có vẻ đúng với quẻ tử vi của nhà văn Lê Phương, tác giả nổi tiếng với tiểu thuyết “Thung Lũng Cô Tan” lúc bấy giờ phán câu chắc nịch: “Số ông chỉ có hành phương Nam mới là đất dụng võ”. Vậy câu hỏi đặt ra, tại sao nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn làm được? Tôi cho rằng đấy là sự khác biệt.  

Hơn nửa thế kỷ sau năm 2025, trong cuốn “Chua ngọt đời văn”, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thanh thiên bạch nhật cả vui, lẫn buồn, rất đáng để chúng ta suy ngẫm? Tôi có cảm giác viết văn chưa hẳn là ánh hào quang như ta tưởng, đôi khi nó là một canh bạc, cho những ai đam mê theo đuổi nghiệp văn chương?

Và đây, xin bắt đầu từ một câu hỏi:  

Nhà văn có thể sống bằng nghề?

Câu hỏi này thực ra không mới, ngay cả khi các nhà văn tên tuổi gạo cội, dù ngày đó số lượng vẫn còn chưa nhiều, cũng phải thốt lên chua chát: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu). Với cụ Tản Đà lại còn thảm hại hơn một bậc: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Nhìn rộng ra thế giới để hiểu họ có như mình hay không? Có đấy, người sống được bằng nghề viết văn cũng rất khiêm tốn như J.K.Rowling sinh năm 1965, người Anh, nổi tiếng với bộ truyện giả tưởng Harry Potter; Stephen King sinh năm 1947, người Mỹ, với văn phong lôi cuốn, sức viết kinh khủng có tới hơn 60 tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm kinh điển như It, Shining, Carrie và được chuyển thành phim cực hót; Châu Á có Haruki Murakami sing năm 1949, người Nhật, từng nhận nhiều giải thưởng, nhưng giải Noben văn học từng nhiều lần tham gia vẫn chưa thành công, đáng chú ý ông có hẳn một tác phẩm về nghề viết tiểu thuyết.

Nhìn chung, đại đa số viết văn để sống được, phải nhờ vào nguồn thu nhập ngoài việc bán sách hoặc được sự hỗ trợ từ giải thưởng. Đúng thế, Daid Foen Kinos nhà văn đương đại nổi tiếng Pháp cho biết: “có tới 99% ở Pháp không sống được bằng nghề của mình được”(Tần Tần, phỏng vấn David Foenkinos, 99% nhà văn Pháp không sống bằng nghề viết văn znews.vn).   

Bàn về tuổi thọ của mỗi tác phẩm, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn cho rằng: “hiện đa số các tác phẩm - cả văn học, sân khấu lẫn điện ảnh – đã sống được lâu hơn ba năm, chắc nhờ may mắn? Còn viết được tác phẩm để đời và lưu danh muôn thuở, tôi tin không ít người cầm bút cũng biết điều sơ đẳng là: hàng triệu nhà văn trên thế giới mới có một người đạt được cái đích ấy. Rồi trong vạn người ở cái đích ấy, chỉ có chừng 30% là chân tài; còn 70% nhờ cơ hội và ăn theo môi trường”. Một người như nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, cầm bút lâu như thế, kinh nghiệm trận mạc dày như thế, vẫn chỉ đoán mình “chắc nhờ may mắn?”. Nói như vậy tôi cho rằng là khá chính sác như trường hợp J.K Rowling, tên thật của bà là Joanne Rowling như đã nói ở trên. Để đạt được đỉnh cao lưu danh muôn thuở, bà từng rất bầm dập khi bản thảo đầu tay từng gửi qua 12 nhà xuất bản đều bị từ chối. Thật tuyệt vời, hiện nay chẳng những hơn ba năm, Hary Potter gần như trường tồn, cả thế giới gần như đọc tác phẩm của bà và xem nó trên phim, đặc biệt với trẻ em là vô cùng hấp dẫn.   

Như vậy có thể nói, người viết văn rất khó sống bằng nghề. Đấy là cái “chua” thứ nhất, trong tác phẩm “Chua ngọt đời văn” của Nguyễn Mạnh Tuấn.  

 

Nhà văn Đỗ Viết Nghiệm

 

Những phần tiếp theo, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn muốn bạn đọc biết thêm chi tiết về cái sự “chua”, cái sự “ngọt” mà thôi. Chuyện làm phim triệu USD với Hollywood – Mỹ, là vị ngọt đầu tiên được đặt hàng kịch bản phim điện ảnh, nhưng không phải như mộng tưởng triệu đô ban đầu, bởi đồng tiền của một đại đế quốc giàu bậc nhất thế giới cũng không dễ sơi của nó đâu. Lối viết hài hước, hấp dẫn, một thằng con Mỹ tuềnh toàng thích ăn cà pháo mắm tôm, còn rành hơn cả chủ nhà bản địa, xuất hiện như trên trời rơi xuống.

Ở đây vấn đề đặt ra không còn là chuyện kịch bản phim nữa, mà là câu hỏi làm sao một gã lạ hoắc người Mỹ lại tìm tới Nguyễn Mạnh Tuấn? Thế mới biết những kẻ làm nghề chuyên nghiệp nó rất tinh, do vậy cũng chẳng bất ngờ với Nguyễn Mạnh Tuấn và cả chúng ta là vì thế! Vào giai đoạn này những kẻ “săn đầu người” rất hiểu nhà văn viết cái gì, vì tên tuổi Nguyễn Mạnh Tuấn đang gây bão tại Việt Nam với phim “Biển Sáng”, chuyển thể từ tiểu thuyết “Đứng trước biển” và sau đó là “Cù Lao Tràm”. Ông cũng có ba cuốn tiểu thuyết được dịch ra tiếng nước ngoài bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Anh (Mỹ), nên cũng là nguồn để họ nắm bắt. Nhân đây cũng xin trích lại một đoạn, lời nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thổ lộ để làm rõ thêm: “Ở nước ta, nhà văn muốn sống bằng nghề, đừng bận tâm về sự thật giả lẫn lộn, từ mọi nguồn thông tin các giá trị tác phẩm. Nhiều nhà văn ta, hễ có bài thơ, truyện ngắn dịch ra tiếng một nước có nền văn học rất khiêm tốn, là lập tức cả nước biết. Thực tình, tác phẩm nào của mình trúng số xuất ngoại cũng đáng được chúc mừng. Nếu có, điều không đáng mừng chỉ ở chỗ phần nhiều các tác giả này lại lấy đó làm thước đo, coi mình hơn hẳn những tác giả, tác phẩm chưa ra ngoài biên giới. Rồi khi sách được dịch sang một nước tư bản giàu mạnh nào đó, các nhà văn này lập tức tin mình thuộc tầm cỡ thế giới”.

Vậy ở đây thông điệp với các người viết văn là gì? Nếu mình có tài, thì dù xa mấy, chân trời góc bể nào, họ cũng sẽ nhận ra! Thú vị thật, cú này dù không đúng như giấc mơ đầu tiên, chỉ vài ngàn đô thôi, nhưng lại là mở màn cho hàng loạt trái ngọt, trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Mạnh Tuấn.

Chuyện bảy năm đi hầu tòa, là cú chua thứ hai mới khiếp. Tôi vốn là một người cực nhát, nên khi đọc xong tập sách cũng rờn rợn nổi hết cả gai gà. Chuyện gặp phải một tên lưu manh đúng nghĩa, vu cho Nguyễn Mạnh Tuấn ăn cắp bản quyền vở cải lương Bạch Hải Đường. Cái đáng trách nhất đứng đằng sau kẻ lưu manh ấy, có cả những nhân vật có máu mặt trong làng nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giật dây, chỉ lối. Bảy năm đi hầu tòa hao tâm khổ tứ đầy chua chát. Nhưng mừng, cuối cùng lẽ phải đã thắng! Và đúng như ông cụ thân sinh Nguyễn Mạnh Tuấn từng nói: “viết văn là một nghề bất an”.

Từ “Chua ngọt đời văn” tôi nhận ra, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là một người có cá tính mạnh. Rất có thể là vậy, ngày Nguyễn Mạnh Tuấn viết “Những khoảnh khắc còn lại”; “Đứng trước biển”; “Cù Lao Tràm” còn khá trẻ, nếu không nhầm ngày ấy ông mới chừng ba mươi, hay già vài ba năm tuổi gì đó. Những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà văn chúng ta phần nhiều vẫn viết theo lối cũ, như đã nói ở trên. Theo tôi bước ngoặt đột phá đối với Nguyễn Mạnh Tuấn đều đến từ những đơn đặt hàng, mà “đặt hàng” người ta thường vẫn hay định kiến đó là một loại sản phẩm có kế hoạch, phải viết theo nhà đầu tư nêu ra, nên không có gì vẻ vang cả. Sòng phẳng mà nói, viết như vậy là viết vì tiền! Nguyễn Mạnh Tuấn thì khác, vẫn nhận đặt hàng xem đấy là cơ hội, nhưng khi thực hiện thì ông viết hoàn toàn khác. Nguyễn Mạnh Tuấn viết với thái độ tôn trọng sự thực, rồi sáng tạo, biến hóa, rồi tung tẩy, có lẽ vậy ông nhanh chóng định danh tên tuổi mình. Đấy là điều cũng không giống ai, bầm dập ban đầu, nhưng chói sáng về sau.

Vậy gợi ý ở đây là gì? Là nhà văn phải luôn làm mới chính mình trước, nếu không muốn bị tụt lại phía sau.

Viết câu chuyện nhuận bút Liên Xô có khủng; hay đường đi khoản nhuận bút cuốn sách đầu tiên. Thực ra viết điều này, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chỉ là để chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu cho chính mình và cho bạn bè mà thôi. Ngày đó Nguyễn Mạnh Tuấn cùng nhiều nhà văn khác Việt Nam, đang theo học tại trường Gorki, Liên Xô cũ, bất ngờ được thông báo tới nhận tiền nhuận bút cho tiểu thuyết “Những khoảnh khắc còn lại” và một truyện ngắn “Thanh bình” dịch sang tiếng Nga là 4.000 rúp. Mừng quá, nếu đánh quả làm con buôn một chuyến, mua hàng điện tử rẻ như bèo, về Việt Nam bán thu tiền cả đống, nhưng không sao chở nổi và có muốn họ cũng chẳng cho. Đúng như quan niệm rất nhân văn của người Việt “lộc bất tận hưởng”, 4.000 rúp là một số tiền khủng, nhưng sau đó vợ chồng nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có cách ứng xử trên cả tuyệt vời, “xả bớt lộc cũng là cơ trời” giúp những người bạn lúc khó khăn mới khiến ta nể phục.  

Nhưng “Hậu Đứng trước biển” và “Hậu Cù Lao Tràm”, lại cho tôi nhiều suy tư trăn trở. Đó là trong giới văn chương chúng ta vẫn thường mắc phải một cái bệnh đố kỵ, kiểu “văn mình vợ người” là quá lớn. Chuyện đồn tiểu thuyết “Đứng trước biển”, không phải của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết, mà của nhà văn Lê Phương, hay ông Y bà Z… . Khá buồn cười, có người còn cho rằng tác giả chính là nhà văn Hà Phương vợ nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, anh ta chỉ đứng tên thôi.

Làm sao lại có chuyện ấy? vì bấy giờ “Cù Lao Tràm” đang làm dậy sóng Hậu Giang và các tỉnh miền Tây. Rõ ràng họ nghi ngờ tài năng của Nguyễn Manh Tuấn, một người siêu rượu, như nhà văn tự bạch vào thời còn ở miền Bắc, những năm chiến tranh ông tham gia Thanh niên tình nguyện đi lên vùng tây Bắc, chủ yếu là công việc cơ bắp, giờ nghỉ việc ban chiều uống rượu suông, mong có được giấc ngủ ngon qua đêm để lấy lại sức cho ngày hôm sau. Nhưng từ khi vào Sài Gòn, Nguyễn Mạnh Tuấn gần như bỏ rượu hẳn. Lạ thật, rượu chẳng bao giờ liên quan tới văn chương, nhưng vẫn bị thiên hạ vu cho cái tội không rượu, không trà, không thuốc, thiếu ba thứ ấy không là nhà văn? Hồi năm 1986, 1987 người ta còn bảo là may, nhờ có các ông ở Trung ương và tp. Hồ Chí Minh dàn xếp, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thoát không đi cải tạo. Thế đấy, đừng quá mộng mơ nhiều vào nghề viết văn, nó không bằng phẳng trơn tru, nó cũng chẳng ngon ngọt như vị Chocola thơm phức, ngược lại có khi còn gặp nhiều sui xẻo. Đấy là cái chua thứ ba, rất buồn nên cẩn trọng.

“Chua ngọt đời văn” viết theo phương pháp hỏi và đáp, dù không phải là thủ pháp tối ưu nhất, nhưng theo tôi đó là một kiểu lựa chọn sắc sảo! Bởi chỉ có thủ pháp này Nguyễn Mạnh Tuấn, mới bọc bạch được hết điều đọc giả cần biết, nó chua như thế nào, và ngọt ra sao trong nghề viết văn. Bản chất của hỏi và đáp là tạo ra được sự tương tác, thu hút và giữ chân người đọc, khơi dậy sự tò mò, khiến họ muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở những trang viết.

Đa số các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, có số lượng trang viết khá dài, vậy có đi ngược với xu hướng “tối giản” trong văn học hiện đại? Chủ nghĩa tối giản (Minimalism) nhấn mạnh sự đơn giản hóa, loại bỏ chi tiết thừa, để tập trung vào yếu tố cốt lõi. Trên thực tế “tối giản” có một phần dành cho bạn đọc, tùy vào cảm xúc nhận thức. Ví dụ gần đây nhất nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có “Linh Ứng”; “Kẻ khôn hơn vua” đều dày trên bảy trăm trang. Cuốn “Chua ngọt đời văn” dù không tới mức ấy, nhưng vẫn là dài. Dù vậy, tôi vẫn khẳng định tối giản hay không tối giản, đâu quan trọng? Dài mà hay, hấp dẫn, vẫn là số một! Với Nguyễn Mạnh Tuấn, một nhà văn thuộc lớp “chân tài” trên văn đàn văn chương Việt Nam đương đại, viết dài là một đặc điểm của ông.

Tp. HCM, tháng 11/2025.

Đ.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm