TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 02:54:31
mail facebook google pos stwis
211 lượt xem

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.

 

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn

 

Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ sáng tác văn học, ông còn viết kịch bản phim truyện điện ảnh; Kịch bản phim VIDEO; Kịch bản phim truyền hình và cả kịch bản sân khấu. Các tác phẩm của Nguyễn Manh Tuấn trở thành hiện tượng, nói hơi hình ảnh một chút, cái mẹ vừa ra đời không lâu đã đẻ ngay ra cái con, nó nhanh và nhiều đến mức không còn gọi là nở rộ nữa, mà là bùng nổ trên nhiều phương diện, chiếm sóng truyền thông ở nhiều loại hình khi đó. Ở đây tiểu thuyết được xem như là chất xúc tác đầu tiên, xuất bản liên tục, dựa vào đấy để điện ảnh ăn theo, đặc biệt thể loạt phim truyền hình gần như rất đắt sô. Điều này có vẻ đúng với quẻ tử vi của nhà văn Lê Phương, tác giả nổi tiếng với tiểu thuyết “Thung Lũng Cô Tan” lúc bấy giờ phán câu chắc nịch: “Số ông chỉ có hành phương Nam mới là đất dụng võ”. Vậy câu hỏi đặt ra, tại sao nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn làm được? Tôi cho rằng đấy là sự khác biệt.  

Hơn nửa thế kỷ sau năm 2025, trong cuốn “Chua ngọt đời văn”, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thanh thiên bạch nhật cả vui, lẫn buồn, rất đáng để chúng ta suy ngẫm? Tôi có cảm giác viết văn chưa hẳn là ánh hào quang như ta tưởng, đôi khi nó là một canh bạc, cho những ai đam mê theo đuổi nghiệp văn chương?

Và đây, xin bắt đầu từ một câu hỏi:  

Nhà văn có thể sống bằng nghề?

Câu hỏi này thực ra không mới, ngay cả khi các nhà văn tên tuổi gạo cội, dù ngày đó số lượng vẫn còn chưa nhiều, cũng phải thốt lên chua chát: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu). Với cụ Tản Đà lại còn thảm hại hơn một bậc: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Nhìn rộng ra thế giới để hiểu họ có như mình hay không? Có đấy, người sống được bằng nghề viết văn cũng rất khiêm tốn như J.K.Rowling sinh năm 1965, người Anh, nổi tiếng với bộ truyện giả tưởng Harry Potter; Stephen King sinh năm 1947, người Mỹ, với văn phong lôi cuốn, sức viết kinh khủng có tới hơn 60 tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm kinh điển như It, Shining, Carrie và được chuyển thành phim cực hót; Châu Á có Haruki Murakami sing năm 1949, người Nhật, từng nhận nhiều giải thưởng, nhưng giải Noben văn học từng nhiều lần tham gia vẫn chưa thành công, đáng chú ý ông có hẳn một tác phẩm về nghề viết tiểu thuyết.

Nhìn chung, đại đa số viết văn để sống được, phải nhờ vào nguồn thu nhập ngoài việc bán sách hoặc được sự hỗ trợ từ giải thưởng. Đúng thế, Daid Foen Kinos nhà văn đương đại nổi tiếng Pháp cho biết: “có tới 99% ở Pháp không sống được bằng nghề của mình được”(Tần Tần, phỏng vấn David Foenkinos, 99% nhà văn Pháp không sống bằng nghề viết văn znews.vn).   

Bàn về tuổi thọ của mỗi tác phẩm, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn cho rằng: “hiện đa số các tác phẩm - cả văn học, sân khấu lẫn điện ảnh – đã sống được lâu hơn ba năm, chắc nhờ may mắn? Còn viết được tác phẩm để đời và lưu danh muôn thuở, tôi tin không ít người cầm bút cũng biết điều sơ đẳng là: hàng triệu nhà văn trên thế giới mới có một người đạt được cái đích ấy. Rồi trong vạn người ở cái đích ấy, chỉ có chừng 30% là chân tài; còn 70% nhờ cơ hội và ăn theo môi trường”. Một người như nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, cầm bút lâu như thế, kinh nghiệm trận mạc dày như thế, vẫn chỉ đoán mình “chắc nhờ may mắn?”. Nói như vậy tôi cho rằng là khá chính sác như trường hợp J.K Rowling, tên thật của bà là Joanne Rowling như đã nói ở trên. Để đạt được đỉnh cao lưu danh muôn thuở, bà từng rất bầm dập khi bản thảo đầu tay từng gửi qua 12 nhà xuất bản đều bị từ chối. Thật tuyệt vời, hiện nay chẳng những hơn ba năm, Hary Potter gần như trường tồn, cả thế giới gần như đọc tác phẩm của bà và xem nó trên phim, đặc biệt với trẻ em là vô cùng hấp dẫn.   

Như vậy có thể nói, người viết văn rất khó sống bằng nghề. Đấy là cái “chua” thứ nhất, trong tác phẩm “Chua ngọt đời văn” của Nguyễn Mạnh Tuấn.  

 

Nhà văn Đỗ Viết Nghiệm

 

Những phần tiếp theo, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn muốn bạn đọc biết thêm chi tiết về cái sự “chua”, cái sự “ngọt” mà thôi. Chuyện làm phim triệu USD với Hollywood – Mỹ, là vị ngọt đầu tiên được đặt hàng kịch bản phim điện ảnh, nhưng không phải như mộng tưởng triệu đô ban đầu, bởi đồng tiền của một đại đế quốc giàu bậc nhất thế giới cũng không dễ sơi của nó đâu. Lối viết hài hước, hấp dẫn, một thằng con Mỹ tuềnh toàng thích ăn cà pháo mắm tôm, còn rành hơn cả chủ nhà bản địa, xuất hiện như trên trời rơi xuống.

Ở đây vấn đề đặt ra không còn là chuyện kịch bản phim nữa, mà là câu hỏi làm sao một gã lạ hoắc người Mỹ lại tìm tới Nguyễn Mạnh Tuấn? Thế mới biết những kẻ làm nghề chuyên nghiệp nó rất tinh, do vậy cũng chẳng bất ngờ với Nguyễn Mạnh Tuấn và cả chúng ta là vì thế! Vào giai đoạn này những kẻ “săn đầu người” rất hiểu nhà văn viết cái gì, vì tên tuổi Nguyễn Mạnh Tuấn đang gây bão tại Việt Nam với phim “Biển Sáng”, chuyển thể từ tiểu thuyết “Đứng trước biển” và sau đó là “Cù Lao Tràm”. Ông cũng có ba cuốn tiểu thuyết được dịch ra tiếng nước ngoài bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Anh (Mỹ), nên cũng là nguồn để họ nắm bắt. Nhân đây cũng xin trích lại một đoạn, lời nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thổ lộ để làm rõ thêm: “Ở nước ta, nhà văn muốn sống bằng nghề, đừng bận tâm về sự thật giả lẫn lộn, từ mọi nguồn thông tin các giá trị tác phẩm. Nhiều nhà văn ta, hễ có bài thơ, truyện ngắn dịch ra tiếng một nước có nền văn học rất khiêm tốn, là lập tức cả nước biết. Thực tình, tác phẩm nào của mình trúng số xuất ngoại cũng đáng được chúc mừng. Nếu có, điều không đáng mừng chỉ ở chỗ phần nhiều các tác giả này lại lấy đó làm thước đo, coi mình hơn hẳn những tác giả, tác phẩm chưa ra ngoài biên giới. Rồi khi sách được dịch sang một nước tư bản giàu mạnh nào đó, các nhà văn này lập tức tin mình thuộc tầm cỡ thế giới”.

Vậy ở đây thông điệp với các người viết văn là gì? Nếu mình có tài, thì dù xa mấy, chân trời góc bể nào, họ cũng sẽ nhận ra! Thú vị thật, cú này dù không đúng như giấc mơ đầu tiên, chỉ vài ngàn đô thôi, nhưng lại là mở màn cho hàng loạt trái ngọt, trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Mạnh Tuấn.

Chuyện bảy năm đi hầu tòa, là cú chua thứ hai mới khiếp. Tôi vốn là một người cực nhát, nên khi đọc xong tập sách cũng rờn rợn nổi hết cả gai gà. Chuyện gặp phải một tên lưu manh đúng nghĩa, vu cho Nguyễn Mạnh Tuấn ăn cắp bản quyền vở cải lương Bạch Hải Đường. Cái đáng trách nhất đứng đằng sau kẻ lưu manh ấy, có cả những nhân vật có máu mặt trong làng nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giật dây, chỉ lối. Bảy năm đi hầu tòa hao tâm khổ tứ đầy chua chát. Nhưng mừng, cuối cùng lẽ phải đã thắng! Và đúng như ông cụ thân sinh Nguyễn Mạnh Tuấn từng nói: “viết văn là một nghề bất an”.

Từ “Chua ngọt đời văn” tôi nhận ra, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là một người có cá tính mạnh. Rất có thể là vậy, ngày Nguyễn Mạnh Tuấn viết “Những khoảnh khắc còn lại”; “Đứng trước biển”; “Cù Lao Tràm” còn khá trẻ, nếu không nhầm ngày ấy ông mới chừng ba mươi, hay già vài ba năm tuổi gì đó. Những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà văn chúng ta phần nhiều vẫn viết theo lối cũ, như đã nói ở trên. Theo tôi bước ngoặt đột phá đối với Nguyễn Mạnh Tuấn đều đến từ những đơn đặt hàng, mà “đặt hàng” người ta thường vẫn hay định kiến đó là một loại sản phẩm có kế hoạch, phải viết theo nhà đầu tư nêu ra, nên không có gì vẻ vang cả. Sòng phẳng mà nói, viết như vậy là viết vì tiền! Nguyễn Mạnh Tuấn thì khác, vẫn nhận đặt hàng xem đấy là cơ hội, nhưng khi thực hiện thì ông viết hoàn toàn khác. Nguyễn Mạnh Tuấn viết với thái độ tôn trọng sự thực, rồi sáng tạo, biến hóa, rồi tung tẩy, có lẽ vậy ông nhanh chóng định danh tên tuổi mình. Đấy là điều cũng không giống ai, bầm dập ban đầu, nhưng chói sáng về sau.

Vậy gợi ý ở đây là gì? Là nhà văn phải luôn làm mới chính mình trước, nếu không muốn bị tụt lại phía sau.

Viết câu chuyện nhuận bút Liên Xô có khủng; hay đường đi khoản nhuận bút cuốn sách đầu tiên. Thực ra viết điều này, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chỉ là để chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu cho chính mình và cho bạn bè mà thôi. Ngày đó Nguyễn Mạnh Tuấn cùng nhiều nhà văn khác Việt Nam, đang theo học tại trường Gorki, Liên Xô cũ, bất ngờ được thông báo tới nhận tiền nhuận bút cho tiểu thuyết “Những khoảnh khắc còn lại” và một truyện ngắn “Thanh bình” dịch sang tiếng Nga là 4.000 rúp. Mừng quá, nếu đánh quả làm con buôn một chuyến, mua hàng điện tử rẻ như bèo, về Việt Nam bán thu tiền cả đống, nhưng không sao chở nổi và có muốn họ cũng chẳng cho. Đúng như quan niệm rất nhân văn của người Việt “lộc bất tận hưởng”, 4.000 rúp là một số tiền khủng, nhưng sau đó vợ chồng nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có cách ứng xử trên cả tuyệt vời, “xả bớt lộc cũng là cơ trời” giúp những người bạn lúc khó khăn mới khiến ta nể phục.  

Nhưng “Hậu Đứng trước biển” và “Hậu Cù Lao Tràm”, lại cho tôi nhiều suy tư trăn trở. Đó là trong giới văn chương chúng ta vẫn thường mắc phải một cái bệnh đố kỵ, kiểu “văn mình vợ người” là quá lớn. Chuyện đồn tiểu thuyết “Đứng trước biển”, không phải của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết, mà của nhà văn Lê Phương, hay ông Y bà Z… . Khá buồn cười, có người còn cho rằng tác giả chính là nhà văn Hà Phương vợ nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, anh ta chỉ đứng tên thôi.

Làm sao lại có chuyện ấy? vì bấy giờ “Cù Lao Tràm” đang làm dậy sóng Hậu Giang và các tỉnh miền Tây. Rõ ràng họ nghi ngờ tài năng của Nguyễn Manh Tuấn, một người siêu rượu, như nhà văn tự bạch vào thời còn ở miền Bắc, những năm chiến tranh ông tham gia Thanh niên tình nguyện đi lên vùng tây Bắc, chủ yếu là công việc cơ bắp, giờ nghỉ việc ban chiều uống rượu suông, mong có được giấc ngủ ngon qua đêm để lấy lại sức cho ngày hôm sau. Nhưng từ khi vào Sài Gòn, Nguyễn Mạnh Tuấn gần như bỏ rượu hẳn. Lạ thật, rượu chẳng bao giờ liên quan tới văn chương, nhưng vẫn bị thiên hạ vu cho cái tội không rượu, không trà, không thuốc, thiếu ba thứ ấy không là nhà văn? Hồi năm 1986, 1987 người ta còn bảo là may, nhờ có các ông ở Trung ương và tp. Hồ Chí Minh dàn xếp, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thoát không đi cải tạo. Thế đấy, đừng quá mộng mơ nhiều vào nghề viết văn, nó không bằng phẳng trơn tru, nó cũng chẳng ngon ngọt như vị Chocola thơm phức, ngược lại có khi còn gặp nhiều sui xẻo. Đấy là cái chua thứ ba, rất buồn nên cẩn trọng.

“Chua ngọt đời văn” viết theo phương pháp hỏi và đáp, dù không phải là thủ pháp tối ưu nhất, nhưng theo tôi đó là một kiểu lựa chọn sắc sảo! Bởi chỉ có thủ pháp này Nguyễn Mạnh Tuấn, mới bọc bạch được hết điều đọc giả cần biết, nó chua như thế nào, và ngọt ra sao trong nghề viết văn. Bản chất của hỏi và đáp là tạo ra được sự tương tác, thu hút và giữ chân người đọc, khơi dậy sự tò mò, khiến họ muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở những trang viết.

Đa số các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, có số lượng trang viết khá dài, vậy có đi ngược với xu hướng “tối giản” trong văn học hiện đại? Chủ nghĩa tối giản (Minimalism) nhấn mạnh sự đơn giản hóa, loại bỏ chi tiết thừa, để tập trung vào yếu tố cốt lõi. Trên thực tế “tối giản” có một phần dành cho bạn đọc, tùy vào cảm xúc nhận thức. Ví dụ gần đây nhất nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có “Linh Ứng”; “Kẻ khôn hơn vua” đều dày trên bảy trăm trang. Cuốn “Chua ngọt đời văn” dù không tới mức ấy, nhưng vẫn là dài. Dù vậy, tôi vẫn khẳng định tối giản hay không tối giản, đâu quan trọng? Dài mà hay, hấp dẫn, vẫn là số một! Với Nguyễn Mạnh Tuấn, một nhà văn thuộc lớp “chân tài” trên văn đàn văn chương Việt Nam đương đại, viết dài là một đặc điểm của ông.

Tp. HCM, tháng 11/2025.

Đ.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm