TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch

Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-01 01:13:13
mail facebook google pos stwis
331 lượt xem

Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.

 

Minh hoạ Nguyễn Huy Lộc

 

Tôi và anh bạn đồng hương rủ nhau cùng chu du tới mảnh đất ven đô phía Bắc thành phố Hà Nội. Con đường dẫn tới huyện Gia Lâm xưa cũng đổi thay nhiều so với cách nay vài năm.

Nếu lấy cầu Chương Dương làm mốc, thì xe phải đi hết đường Nguyễn Văn Cừ, rồi vòng qua vòng xuyến là đường Ngô Gia Tự, tiếp tục di chuyển một đoạn nữa ta gặp phố Đặng Vũ Hỷ và rẽ trái gặp ngay phố Thanh Am thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên, từ tháng 7 năm 2025 là phường Việt Hưng thành phố Hà Nội. Con phố này là khu vực trung tâm làng Thanh Am cổ xưa. Còn nếu tiếp tục đi thẳng một đoạn nữa ta gặp cầu Đuống và bên kia sông là đường Hà Huy Tập thuộc huyện Đông Anh thành phố Hà Nội.

Khác với sự ồn ào, náo nhiệt ở khu vực trung tâm thủ đô, phố Thanh Am mang một dáng vẻ hiền hòa chân mộc với những ngôi nhà san sát và những ngõ ngách nhỏ sâu hun hút vào phía trong. Có thể thấy đây là điểm giao thoa một không gian đô thị và nét văn hóa làng xã cổ, làm nên một bức tranh đa sắc màu khơi gợi. Ở ngay góc ngã tư bên phải phố Đặng Vũ Hỷ và phố Thanh Am là chợ Thanh Am với những sạp hàng dân dã, làm tôi nhớ tới câu ca dao cổ của xứ Kinh Bắc xưa: “Chợ Ghênh(1) thì bán trâu bò. Dọc dài chợ Đuống chả giò, cá tôm…” Hay sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Chợ Đuống có khá nhiều hàng quán, được trải dài theo hai bên phố, tục gọi là Đụn.” Qua hàng trăm năm, vị trí chợ cổ Thanh Am ngày xưa đã bị di dời một đôi lần tới vị trí mới ngày nay. Vậy nên ta có thể khẳng định rằng, Thanh Am không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp, nó còn là trung tâm thương mại của huyện Gia Lâm và tỉnh Bắc Ninh.

Qua một lần cua nữa, chúng tôi tới chỗ hẹn là đình Thanh Am. Với kiểu kiến trúc đặc trưng năm gian, hai dĩ, phương đình hai tầng tám mái và hậu cung ba gian được dựng ở khu đất khá rộng rãi, mặt quay về hướng Nam. Đón anh em tôi đã có mấy thành viên của ban quản lí đình, đứng đầu là ông Kiều Văn Nhuận người gốc thôn Thanh Am. Tuy tuổi đã ngoài bảy mươi, nhưng còn khá minh mẫn và giọng nói khá rắn rỏi. Nhớ lại, mấy năm trước khi viết tập Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cội nguồn và khai sáng, anh em tôi đã từng tới đây và được ông Nhuận dẫn đi tham quan khá kĩ mảnh đất Thanh Am cổ này. Địa giới làng Thanh Am cổ về phía Tây ra đến tận cầu Đuống, thời phong kiến có bến đò ngang ở khu vực này. Còn thời nay thì chỉ còn ở khu vực ngã ba phía thượng lưu sông một đò ngang mang tên Bắc Cầu ở phường Ngọc Thụy cách làng Thanh Am chừng dăm ba cây số.

Nhâm nhi tách trà, ông Nhuận chậm rãi buông từng lời: Theo thần tích của đình Thanh Am thời phong kiến, còn được lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam ở số 1 phố Liễu Giai quận Ba Đình, thì trong thời gian ở làm việc tại Thăng Long (1535 - 1542), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thường đi thăm thú các làng quê ven sông. Thấy mảnh đất bên hữu ngạn sông Thiên Đức còn hoang hóa, nhưng khá màu mỡ, phong cảnh hữu tình khá giống làng quê ở dưới Vĩnh Lại. Cụ Trạng đã cắm đất dựng một tư quán để nghỉ ngơi và sáng tác thơ văn. Ngay sau đó ông đưa phu nhân Dương Thị Ý lên trông coi và nhiều con cháu, người làng từ huyện Vĩnh Lại lên đây lập nghiệp. Lúc đầu làng được cụ Trạng đặt tên là Hoa Am, tên Nôm là Đuống theo tên mười tám làng Am ở lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Lại, thời nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Chính vì vậy sau khi cụ Trạng mất (1586), thôn dân Hoa Am đã vinh danh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thành hoàng làng, được thờ ở miếu và đình làng. Và từ đó tới nay, thôn dân làng Đuống vẫn coi mình là Am thứ mười chín của lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Bảo. Làng Hoa Am nơi đây xưa thuộc tổng Đặng Xá (đầu Nguyễn gồm 11 làng, giáp là: Đặng Xá, Cổ Bi, thôn Đông xã Nông Vụ, Nông Vụ (2 thôn Thượng và Trung), thôn Vụ Đồng thuộc sở Đông Lâm, thôn Cự Đồng thuộc sở Đông Lâm, Tinh Quang, Quan Tinh, Hộ Xá, Tiểu Hoa Lâm và Hoa Am) thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Đến thời Thiệu Trị (1841) vì kiêng húy mẹ vua là Hồ Thị Hoa, nên Hoa Am đổi thành Thanh Am. Từ sau năm 1945 làng Thanh Am thuộc xã Thượng Thanh huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc thành phố Hà Nội, ngày nay thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên thành phố Hà Nội và từ tháng 7 năm 2025 thuộc phường Việt Hưng thành phố Hà Nội.

Theo các sách Đại Thanh nhất thống chí và Đại Nam nhất thống chí, thì sông Đuống có từ xa xưa: Thời An Dương Vương và Triệu Vũ Đế mang tên Bình Giang, sau còn có tên khác là Diên Uẩn, hay Đông Ngàn. Vào năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ đổi tên châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức và đổi Bắc Giang thành Thiên Đức Giang. Đây là những minh chứng cái tên sông Thiên Đức đã có chừng trên dưới một ngàn năm, chứ không phải như một số tác giả ngày nay cho rằng con sông này mang tên Thiên Đức từ thời nhà Mạc (1527 - 1592).

Vào thời phong kiến thì giao thông đường thủy đóng vai trò chủ chốt, nên câu ca: “Nhất cận thị, nhị cận giang”, tức “thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông” được áp dụng cho hầu hết các làng xã, hay tư gia ở vùng Bắc Bộ. Trước kia Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khởi hành từ Trung Am đến Thăng Long, thì bắt buộc hành trình phải theo đường thủy và con đường ngắn nhất phải dọc theo ngũ giang, tức 5 con sông gồm: Kim (thời nay là hạ lưu sông Thái Bình), Thiệu Mỹ (ranh giới huyện Tứ Kỳ và Tiên Lãng đã bị lấp khi làm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải năm 1959), Hàm, Lâu Khê, Lục Đầu (thời nay là thượng lưu sông Thái Bình), Thiên Đức (thời nay là sông Đuống). Và có sự trùng hợp ngẫu nhiên về hai làng Hoa Am và Trung Am đều nằm bên hữu ngạn sông ở thượng lưu sông Đuống và hạ lưu sông Kim, thời nay là sông Thái Bình.

Ngược dòng thời gian!

Nếu như ta đang trên con thuyền du lịch từ cửa biển Kim (thời nay là cửa Thái Bình) ngược lên thành Thăng Long, ta gặp các bến đò dọc chính sau: Ngẩy, nay thuộc xã Hòa Bình huyện Vĩnh Bảo; Hàn, nay thuộc xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, quê hương của cụ Trạng với câu ca dao khá gợi cảm: Hẹn nhau trên chuyến đò Hàn/ Cho duyên hai đứa đổ tràn sang nhau; My, tên khác là Đại Công, nay thuộc xã Tiên Cường huyện Tiên Lãng gần cầu Quý Cao; Thiệu Mỹ, nay thuộc xã Lập Lễ huyện Thanh Hà; Hàm, nay thuộc phường Cẩm Thượng thành phố Hải Dương; Lâu Khê, nay thuộc xã Hợp Tiến huyện Nam Sách; Nhạn, còn gọi tên khác là Lý Dương, nay thuộc xã Nhân Huệ huyện Chí Linh với câu ca dao khá ấn tượng: Ai đưa tôi đến nơi đây/ Bên kia bến Nhạn bên này thành Phao. Tất cả các bến đò trên từ tháng 7 năm 2025 thuộc thành phố Hải Phòng. Từ đây tiếp tục ngược lên thượng lưu sông Đuống, ta gặp ba bến đò dọc sau: Ngăm hay Ngâm Điền tổng Đông Cứu, nay thuộc xã Lũng Ngâm huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, với câu ca dao cổ về nghề nuôi tằm dệt vải: Ngăm đũi có gốc cây đề/ Có sông tắm mát có nghề cửi canh; Hồ hay Lạc Thổ, nay thuộc thị trấn Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh với câu ca dao cổ đặc trưng: Gà Hồ, gà mía, gà re/ Sông Cầu, sông Đuống, sông Chè, sông Thương; Chầm, hay tên khác là Xuân Canh huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Xuân Canh huyện Đông Anh, Hà Nội. Đây là bến đò dọc cuối từ hạ lưu lên, nhưng đồng thời là bến đò ngang tại ngã ba sông. Nếu sang bên hữu ngạn sông Hồng, ta có thể tiếp tục cuốc bộ vào Thăng Long, hay sang bên hữu ngạn sông Đuống ta sang tổng Gia Thị huyện Gia Lâm. Tại khu vực ngã ba sông này, còn vang vọng câu ca dao khá hay về tình duyên đôi lứa: Đò dọc rồi lại đò ngang/ Có đi anh đợi có sang anh chờ.

Khi du khách chu du qua mười bến đò dọc trên, ta gặp ba con sông có liên quan tới Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vào thời cổ, thì sông Thiệu Mỹ và sông Kim là Bàng Hà, tức sông Bàng, hay còn có tên khác là Đại Bàng, tới thời thuộc Minh (1407 - 1427) đổi thành Bình Hà. Từ thời Mạc (1527 - 1592) thì đoạn hạ lưu của Bàng Hà đổi thành Kim Giang, tức sông Kim. Song cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lúc sinh ra tới lúc mất chứng kiến cảnh Đại Việt bị chia cắt, chiến tranh Lê - Mạc kéo dài liên miên, nên Người đã đặt tên vào văn chương cho đoạn hạ lưu sông Kim là Hàn Giang, hay Tuyết Giang, có nghĩa là “dòng sông lạnh giá”. Song vì cuộc đời và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm quá nổi tiếng, một “đại thụ văn hóa” bao trùm cả thế kỉ XVI, nên người dân xứ Đông từ đó tới nay chỉ gọi sông Kim là Hàn Giang tức sông Hàn, hay đò Hàn, cầu Hàn… mà cái tên thật của nó chẳng còn ai nhớ.

Hay ngược lên phía thượng lưu qua ranh giới huyện Tứ Kỳ, ta gặp Hàm Giang tức sông Hàm. Song do cái tên Hàn Giang của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm quá nổi tiếng, nên sông này được người dân xứ Đông gọi là Hàn Giang, tức sông Hàn. Rồi từ Lục Đầu Giang ngược lên phía thượng lưu là Thiên Đức Giang, nhưng được người dân gọi theo tên Nôm là Đuống Giang từ cuối thời Lê Trịnh trở lại nay. Như vậy với đoạn đường thủy dài hơn một trăm cây số là phân lưu chính của sông Hồng đổ ra biển Đông, từ tổng Thượng Am huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng, nay là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm thành phố Hải Phòng ngược lên hết tổng Gia Thị huyện Gia Lâm phủ Thuận An, nay là phường Việt Hưng thành phố Hà Nội. Và ta gặp có ba con sông liên quan tới cuộc đời và sự nghiệp của Danh nhân Văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Hàn Giang, Hàm Giang và Đuống Giang, tức sông Hàn, sông Hàm và sông Đuống.

Ngoài chức năng kết nối hai hệ thống sông ra, nó còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, hay việc bồi đắp phù sa, cung cấp nước ngọt cho việc nuôi trồng và phục vụ đời sống cho cư dân cả vùng đất rộng lớn. Tuyến sông này còn là con đường thủy thiết yếu từ Thăng Long đi ngoại bang và đã giúp quân dân Đại Việt bẻ gãy nhiều cuộc xâm lăng của kẻ thù phương Bắc. Thời nay tuyến sông này còn là con đường giao thông thủy huyết mạch nối cảng Hải Phòng với thủ đô Hà Nội.

Nhớ lại, cách nay hai mươi năm tôi có gặp thi sĩ Hoàng Cầm ngồi trên xe lăn với nét mặt khá tươi vui. Tôi liền hỏi, bài thơ Bên kia sông Đuống của bác khá nổi tiếng, nhưng thi sĩ có biết vì sao nó mang tên Đuống không? Thi sĩ Hoàng Cầm lắc đầu và bảo chú giải thích hộ nhé, nhưng miệng vẫn ngân nga đọc: Em ơi! Buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lì/ Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...

Thế rồi, tôi liền cho ông biết về lịch sử hành chính và sự ra đời cái tên “Đuống”. Sông này thời cổ gọi theo chữ Hán là Thiên Đức giang, tức sông Thiên Đức cả trong văn viết lẫn văn nói. Từ thời Lê Trịnh (1592 - 1788), thì cái tên “sông Đuống” được dùng trong văn nói. Từ cuối thế kỉ XIX trở lại nay, thì cái tên sông Đuống được dùng trong cả trong văn viết lẫn văn nói.

Tôi đùa với thi sĩ Hoàng Cầm là cuối năm Ất Dậu này, bác về đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo thắp hương, thì năm tới thế nào bác cũng giành Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thế rồi vào ngày 28 tháng 11 âm năm Ất Dậu (2005), mấy nhà văn gồm Trung Trung Đỉnh, Thi Hoàng, Y Phương… Còn thi sĩ Hoàng Cầm quá yếu không về được. Hai năm sau, mấy nhà văn trên đều được xét và trúng giải. Đặc biệt thi sĩ Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết kí Quyết định tặng riêng cho ông...

Đuống Giang, một con sông nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, một vùng văn hóa lâu đời của người Việt. Không chỉ là huyết mạch nối hệ thống sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình. Mà con sông này còn là dòng chảy những trầm tích lịch sử văn hóa, được lắng đọng hàng nghìn năm qua. Với câu ca: Cụ Hồng(2) là ông bác Đuống, hay câu ca dao: Lênh đênh trên chiếc thuyền kề/ Thuyền ra Hà Nội thuyền về sông Dâu(3) đã phản ảnh khá rõ nét về nhánh sông chính mang tên ngôi làng do Danh nhân Văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt tên.

T.N.T

 

(1): Chợ Như Kinh, tên Nôm là Ghênh, xưa thuộc làng Như Kinh tổng Như Kinh (năm Minh Mạng thứ 5 (1824) đổi là Như Quỳnh), huyện Gia Lâm phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Từ cuối thế kỉ XIX thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, thời nay là thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, từ tháng 7/2025 thuộc xã Như Quỳnh tỉnh Hưng Yên. Còn làng Hoa Am, tên Nôm là Đuống, nằm bên hữu ngạn thượng lưu sông Đuống do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng lập và đặt tên. Vào thời Thiệu Trị (1841) đổi thành Thanh Am. Thời nay thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên thành phố Hà Nội, từ tháng 07/2025 thuộc phường Việt Hưng thành phố Hà Nội.

(2): Nhị Hà hay Nhĩ Hà, từ cuối thế kỉ XIX là sông Hồng.

(3): Sông Dâu: Ở phía Nam sông Đuống, bắt đầu từ giáp Sông làng Đình Tổ huyện Siêu Loại phủ Thuận An, thời nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm