TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch

Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-01 01:13:13
mail facebook google pos stwis
598 lượt xem

Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.

 

Minh hoạ Nguyễn Huy Lộc

 

Tôi và anh bạn đồng hương rủ nhau cùng chu du tới mảnh đất ven đô phía Bắc thành phố Hà Nội. Con đường dẫn tới huyện Gia Lâm xưa cũng đổi thay nhiều so với cách nay vài năm.

Nếu lấy cầu Chương Dương làm mốc, thì xe phải đi hết đường Nguyễn Văn Cừ, rồi vòng qua vòng xuyến là đường Ngô Gia Tự, tiếp tục di chuyển một đoạn nữa ta gặp phố Đặng Vũ Hỷ và rẽ trái gặp ngay phố Thanh Am thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên, từ tháng 7 năm 2025 là phường Việt Hưng thành phố Hà Nội. Con phố này là khu vực trung tâm làng Thanh Am cổ xưa. Còn nếu tiếp tục đi thẳng một đoạn nữa ta gặp cầu Đuống và bên kia sông là đường Hà Huy Tập thuộc huyện Đông Anh thành phố Hà Nội.

Khác với sự ồn ào, náo nhiệt ở khu vực trung tâm thủ đô, phố Thanh Am mang một dáng vẻ hiền hòa chân mộc với những ngôi nhà san sát và những ngõ ngách nhỏ sâu hun hút vào phía trong. Có thể thấy đây là điểm giao thoa một không gian đô thị và nét văn hóa làng xã cổ, làm nên một bức tranh đa sắc màu khơi gợi. Ở ngay góc ngã tư bên phải phố Đặng Vũ Hỷ và phố Thanh Am là chợ Thanh Am với những sạp hàng dân dã, làm tôi nhớ tới câu ca dao cổ của xứ Kinh Bắc xưa: “Chợ Ghênh(1) thì bán trâu bò. Dọc dài chợ Đuống chả giò, cá tôm…” Hay sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Chợ Đuống có khá nhiều hàng quán, được trải dài theo hai bên phố, tục gọi là Đụn.” Qua hàng trăm năm, vị trí chợ cổ Thanh Am ngày xưa đã bị di dời một đôi lần tới vị trí mới ngày nay. Vậy nên ta có thể khẳng định rằng, Thanh Am không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp, nó còn là trung tâm thương mại của huyện Gia Lâm và tỉnh Bắc Ninh.

Qua một lần cua nữa, chúng tôi tới chỗ hẹn là đình Thanh Am. Với kiểu kiến trúc đặc trưng năm gian, hai dĩ, phương đình hai tầng tám mái và hậu cung ba gian được dựng ở khu đất khá rộng rãi, mặt quay về hướng Nam. Đón anh em tôi đã có mấy thành viên của ban quản lí đình, đứng đầu là ông Kiều Văn Nhuận người gốc thôn Thanh Am. Tuy tuổi đã ngoài bảy mươi, nhưng còn khá minh mẫn và giọng nói khá rắn rỏi. Nhớ lại, mấy năm trước khi viết tập Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cội nguồn và khai sáng, anh em tôi đã từng tới đây và được ông Nhuận dẫn đi tham quan khá kĩ mảnh đất Thanh Am cổ này. Địa giới làng Thanh Am cổ về phía Tây ra đến tận cầu Đuống, thời phong kiến có bến đò ngang ở khu vực này. Còn thời nay thì chỉ còn ở khu vực ngã ba phía thượng lưu sông một đò ngang mang tên Bắc Cầu ở phường Ngọc Thụy cách làng Thanh Am chừng dăm ba cây số.

Nhâm nhi tách trà, ông Nhuận chậm rãi buông từng lời: Theo thần tích của đình Thanh Am thời phong kiến, còn được lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam ở số 1 phố Liễu Giai quận Ba Đình, thì trong thời gian ở làm việc tại Thăng Long (1535 - 1542), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thường đi thăm thú các làng quê ven sông. Thấy mảnh đất bên hữu ngạn sông Thiên Đức còn hoang hóa, nhưng khá màu mỡ, phong cảnh hữu tình khá giống làng quê ở dưới Vĩnh Lại. Cụ Trạng đã cắm đất dựng một tư quán để nghỉ ngơi và sáng tác thơ văn. Ngay sau đó ông đưa phu nhân Dương Thị Ý lên trông coi và nhiều con cháu, người làng từ huyện Vĩnh Lại lên đây lập nghiệp. Lúc đầu làng được cụ Trạng đặt tên là Hoa Am, tên Nôm là Đuống theo tên mười tám làng Am ở lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Lại, thời nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Chính vì vậy sau khi cụ Trạng mất (1586), thôn dân Hoa Am đã vinh danh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thành hoàng làng, được thờ ở miếu và đình làng. Và từ đó tới nay, thôn dân làng Đuống vẫn coi mình là Am thứ mười chín của lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Bảo. Làng Hoa Am nơi đây xưa thuộc tổng Đặng Xá (đầu Nguyễn gồm 11 làng, giáp là: Đặng Xá, Cổ Bi, thôn Đông xã Nông Vụ, Nông Vụ (2 thôn Thượng và Trung), thôn Vụ Đồng thuộc sở Đông Lâm, thôn Cự Đồng thuộc sở Đông Lâm, Tinh Quang, Quan Tinh, Hộ Xá, Tiểu Hoa Lâm và Hoa Am) thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Đến thời Thiệu Trị (1841) vì kiêng húy mẹ vua là Hồ Thị Hoa, nên Hoa Am đổi thành Thanh Am. Từ sau năm 1945 làng Thanh Am thuộc xã Thượng Thanh huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc thành phố Hà Nội, ngày nay thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên thành phố Hà Nội và từ tháng 7 năm 2025 thuộc phường Việt Hưng thành phố Hà Nội.

Theo các sách Đại Thanh nhất thống chí và Đại Nam nhất thống chí, thì sông Đuống có từ xa xưa: Thời An Dương Vương và Triệu Vũ Đế mang tên Bình Giang, sau còn có tên khác là Diên Uẩn, hay Đông Ngàn. Vào năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ đổi tên châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức và đổi Bắc Giang thành Thiên Đức Giang. Đây là những minh chứng cái tên sông Thiên Đức đã có chừng trên dưới một ngàn năm, chứ không phải như một số tác giả ngày nay cho rằng con sông này mang tên Thiên Đức từ thời nhà Mạc (1527 - 1592).

Vào thời phong kiến thì giao thông đường thủy đóng vai trò chủ chốt, nên câu ca: “Nhất cận thị, nhị cận giang”, tức “thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông” được áp dụng cho hầu hết các làng xã, hay tư gia ở vùng Bắc Bộ. Trước kia Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khởi hành từ Trung Am đến Thăng Long, thì bắt buộc hành trình phải theo đường thủy và con đường ngắn nhất phải dọc theo ngũ giang, tức 5 con sông gồm: Kim (thời nay là hạ lưu sông Thái Bình), Thiệu Mỹ (ranh giới huyện Tứ Kỳ và Tiên Lãng đã bị lấp khi làm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải năm 1959), Hàm, Lâu Khê, Lục Đầu (thời nay là thượng lưu sông Thái Bình), Thiên Đức (thời nay là sông Đuống). Và có sự trùng hợp ngẫu nhiên về hai làng Hoa Am và Trung Am đều nằm bên hữu ngạn sông ở thượng lưu sông Đuống và hạ lưu sông Kim, thời nay là sông Thái Bình.

Ngược dòng thời gian!

Nếu như ta đang trên con thuyền du lịch từ cửa biển Kim (thời nay là cửa Thái Bình) ngược lên thành Thăng Long, ta gặp các bến đò dọc chính sau: Ngẩy, nay thuộc xã Hòa Bình huyện Vĩnh Bảo; Hàn, nay thuộc xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, quê hương của cụ Trạng với câu ca dao khá gợi cảm: Hẹn nhau trên chuyến đò Hàn/ Cho duyên hai đứa đổ tràn sang nhau; My, tên khác là Đại Công, nay thuộc xã Tiên Cường huyện Tiên Lãng gần cầu Quý Cao; Thiệu Mỹ, nay thuộc xã Lập Lễ huyện Thanh Hà; Hàm, nay thuộc phường Cẩm Thượng thành phố Hải Dương; Lâu Khê, nay thuộc xã Hợp Tiến huyện Nam Sách; Nhạn, còn gọi tên khác là Lý Dương, nay thuộc xã Nhân Huệ huyện Chí Linh với câu ca dao khá ấn tượng: Ai đưa tôi đến nơi đây/ Bên kia bến Nhạn bên này thành Phao. Tất cả các bến đò trên từ tháng 7 năm 2025 thuộc thành phố Hải Phòng. Từ đây tiếp tục ngược lên thượng lưu sông Đuống, ta gặp ba bến đò dọc sau: Ngăm hay Ngâm Điền tổng Đông Cứu, nay thuộc xã Lũng Ngâm huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, với câu ca dao cổ về nghề nuôi tằm dệt vải: Ngăm đũi có gốc cây đề/ Có sông tắm mát có nghề cửi canh; Hồ hay Lạc Thổ, nay thuộc thị trấn Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh với câu ca dao cổ đặc trưng: Gà Hồ, gà mía, gà re/ Sông Cầu, sông Đuống, sông Chè, sông Thương; Chầm, hay tên khác là Xuân Canh huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Xuân Canh huyện Đông Anh, Hà Nội. Đây là bến đò dọc cuối từ hạ lưu lên, nhưng đồng thời là bến đò ngang tại ngã ba sông. Nếu sang bên hữu ngạn sông Hồng, ta có thể tiếp tục cuốc bộ vào Thăng Long, hay sang bên hữu ngạn sông Đuống ta sang tổng Gia Thị huyện Gia Lâm. Tại khu vực ngã ba sông này, còn vang vọng câu ca dao khá hay về tình duyên đôi lứa: Đò dọc rồi lại đò ngang/ Có đi anh đợi có sang anh chờ.

Khi du khách chu du qua mười bến đò dọc trên, ta gặp ba con sông có liên quan tới Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vào thời cổ, thì sông Thiệu Mỹ và sông Kim là Bàng Hà, tức sông Bàng, hay còn có tên khác là Đại Bàng, tới thời thuộc Minh (1407 - 1427) đổi thành Bình Hà. Từ thời Mạc (1527 - 1592) thì đoạn hạ lưu của Bàng Hà đổi thành Kim Giang, tức sông Kim. Song cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lúc sinh ra tới lúc mất chứng kiến cảnh Đại Việt bị chia cắt, chiến tranh Lê - Mạc kéo dài liên miên, nên Người đã đặt tên vào văn chương cho đoạn hạ lưu sông Kim là Hàn Giang, hay Tuyết Giang, có nghĩa là “dòng sông lạnh giá”. Song vì cuộc đời và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm quá nổi tiếng, một “đại thụ văn hóa” bao trùm cả thế kỉ XVI, nên người dân xứ Đông từ đó tới nay chỉ gọi sông Kim là Hàn Giang tức sông Hàn, hay đò Hàn, cầu Hàn… mà cái tên thật của nó chẳng còn ai nhớ.

Hay ngược lên phía thượng lưu qua ranh giới huyện Tứ Kỳ, ta gặp Hàm Giang tức sông Hàm. Song do cái tên Hàn Giang của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm quá nổi tiếng, nên sông này được người dân xứ Đông gọi là Hàn Giang, tức sông Hàn. Rồi từ Lục Đầu Giang ngược lên phía thượng lưu là Thiên Đức Giang, nhưng được người dân gọi theo tên Nôm là Đuống Giang từ cuối thời Lê Trịnh trở lại nay. Như vậy với đoạn đường thủy dài hơn một trăm cây số là phân lưu chính của sông Hồng đổ ra biển Đông, từ tổng Thượng Am huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng, nay là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm thành phố Hải Phòng ngược lên hết tổng Gia Thị huyện Gia Lâm phủ Thuận An, nay là phường Việt Hưng thành phố Hà Nội. Và ta gặp có ba con sông liên quan tới cuộc đời và sự nghiệp của Danh nhân Văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Hàn Giang, Hàm Giang và Đuống Giang, tức sông Hàn, sông Hàm và sông Đuống.

Ngoài chức năng kết nối hai hệ thống sông ra, nó còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, hay việc bồi đắp phù sa, cung cấp nước ngọt cho việc nuôi trồng và phục vụ đời sống cho cư dân cả vùng đất rộng lớn. Tuyến sông này còn là con đường thủy thiết yếu từ Thăng Long đi ngoại bang và đã giúp quân dân Đại Việt bẻ gãy nhiều cuộc xâm lăng của kẻ thù phương Bắc. Thời nay tuyến sông này còn là con đường giao thông thủy huyết mạch nối cảng Hải Phòng với thủ đô Hà Nội.

Nhớ lại, cách nay hai mươi năm tôi có gặp thi sĩ Hoàng Cầm ngồi trên xe lăn với nét mặt khá tươi vui. Tôi liền hỏi, bài thơ Bên kia sông Đuống của bác khá nổi tiếng, nhưng thi sĩ có biết vì sao nó mang tên Đuống không? Thi sĩ Hoàng Cầm lắc đầu và bảo chú giải thích hộ nhé, nhưng miệng vẫn ngân nga đọc: Em ơi! Buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lì/ Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...

Thế rồi, tôi liền cho ông biết về lịch sử hành chính và sự ra đời cái tên “Đuống”. Sông này thời cổ gọi theo chữ Hán là Thiên Đức giang, tức sông Thiên Đức cả trong văn viết lẫn văn nói. Từ thời Lê Trịnh (1592 - 1788), thì cái tên “sông Đuống” được dùng trong văn nói. Từ cuối thế kỉ XIX trở lại nay, thì cái tên sông Đuống được dùng trong cả trong văn viết lẫn văn nói.

Tôi đùa với thi sĩ Hoàng Cầm là cuối năm Ất Dậu này, bác về đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo thắp hương, thì năm tới thế nào bác cũng giành Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thế rồi vào ngày 28 tháng 11 âm năm Ất Dậu (2005), mấy nhà văn gồm Trung Trung Đỉnh, Thi Hoàng, Y Phương… Còn thi sĩ Hoàng Cầm quá yếu không về được. Hai năm sau, mấy nhà văn trên đều được xét và trúng giải. Đặc biệt thi sĩ Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết kí Quyết định tặng riêng cho ông...

Đuống Giang, một con sông nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, một vùng văn hóa lâu đời của người Việt. Không chỉ là huyết mạch nối hệ thống sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình. Mà con sông này còn là dòng chảy những trầm tích lịch sử văn hóa, được lắng đọng hàng nghìn năm qua. Với câu ca: Cụ Hồng(2) là ông bác Đuống, hay câu ca dao: Lênh đênh trên chiếc thuyền kề/ Thuyền ra Hà Nội thuyền về sông Dâu(3) đã phản ảnh khá rõ nét về nhánh sông chính mang tên ngôi làng do Danh nhân Văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt tên.

T.N.T

 

(1): Chợ Như Kinh, tên Nôm là Ghênh, xưa thuộc làng Như Kinh tổng Như Kinh (năm Minh Mạng thứ 5 (1824) đổi là Như Quỳnh), huyện Gia Lâm phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Từ cuối thế kỉ XIX thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, thời nay là thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, từ tháng 7/2025 thuộc xã Như Quỳnh tỉnh Hưng Yên. Còn làng Hoa Am, tên Nôm là Đuống, nằm bên hữu ngạn thượng lưu sông Đuống do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng lập và đặt tên. Vào thời Thiệu Trị (1841) đổi thành Thanh Am. Thời nay thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên thành phố Hà Nội, từ tháng 07/2025 thuộc phường Việt Hưng thành phố Hà Nội.

(2): Nhị Hà hay Nhĩ Hà, từ cuối thế kỉ XIX là sông Hồng.

(3): Sông Dâu: Ở phía Nam sông Đuống, bắt đầu từ giáp Sông làng Đình Tổ huyện Siêu Loại phủ Thuận An, thời nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm