TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch

Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-01 01:13:13
mail facebook google pos stwis
983 lượt xem

Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.

 

Minh hoạ Nguyễn Huy Lộc

 

Tôi và anh bạn đồng hương rủ nhau cùng chu du tới mảnh đất ven đô phía Bắc thành phố Hà Nội. Con đường dẫn tới huyện Gia Lâm xưa cũng đổi thay nhiều so với cách nay vài năm.

Nếu lấy cầu Chương Dương làm mốc, thì xe phải đi hết đường Nguyễn Văn Cừ, rồi vòng qua vòng xuyến là đường Ngô Gia Tự, tiếp tục di chuyển một đoạn nữa ta gặp phố Đặng Vũ Hỷ và rẽ trái gặp ngay phố Thanh Am thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên, từ tháng 7 năm 2025 là phường Việt Hưng thành phố Hà Nội. Con phố này là khu vực trung tâm làng Thanh Am cổ xưa. Còn nếu tiếp tục đi thẳng một đoạn nữa ta gặp cầu Đuống và bên kia sông là đường Hà Huy Tập thuộc huyện Đông Anh thành phố Hà Nội.

Khác với sự ồn ào, náo nhiệt ở khu vực trung tâm thủ đô, phố Thanh Am mang một dáng vẻ hiền hòa chân mộc với những ngôi nhà san sát và những ngõ ngách nhỏ sâu hun hút vào phía trong. Có thể thấy đây là điểm giao thoa một không gian đô thị và nét văn hóa làng xã cổ, làm nên một bức tranh đa sắc màu khơi gợi. Ở ngay góc ngã tư bên phải phố Đặng Vũ Hỷ và phố Thanh Am là chợ Thanh Am với những sạp hàng dân dã, làm tôi nhớ tới câu ca dao cổ của xứ Kinh Bắc xưa: “Chợ Ghênh(1) thì bán trâu bò. Dọc dài chợ Đuống chả giò, cá tôm…” Hay sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Chợ Đuống có khá nhiều hàng quán, được trải dài theo hai bên phố, tục gọi là Đụn.” Qua hàng trăm năm, vị trí chợ cổ Thanh Am ngày xưa đã bị di dời một đôi lần tới vị trí mới ngày nay. Vậy nên ta có thể khẳng định rằng, Thanh Am không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp, nó còn là trung tâm thương mại của huyện Gia Lâm và tỉnh Bắc Ninh.

Qua một lần cua nữa, chúng tôi tới chỗ hẹn là đình Thanh Am. Với kiểu kiến trúc đặc trưng năm gian, hai dĩ, phương đình hai tầng tám mái và hậu cung ba gian được dựng ở khu đất khá rộng rãi, mặt quay về hướng Nam. Đón anh em tôi đã có mấy thành viên của ban quản lí đình, đứng đầu là ông Kiều Văn Nhuận người gốc thôn Thanh Am. Tuy tuổi đã ngoài bảy mươi, nhưng còn khá minh mẫn và giọng nói khá rắn rỏi. Nhớ lại, mấy năm trước khi viết tập Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cội nguồn và khai sáng, anh em tôi đã từng tới đây và được ông Nhuận dẫn đi tham quan khá kĩ mảnh đất Thanh Am cổ này. Địa giới làng Thanh Am cổ về phía Tây ra đến tận cầu Đuống, thời phong kiến có bến đò ngang ở khu vực này. Còn thời nay thì chỉ còn ở khu vực ngã ba phía thượng lưu sông một đò ngang mang tên Bắc Cầu ở phường Ngọc Thụy cách làng Thanh Am chừng dăm ba cây số.

Nhâm nhi tách trà, ông Nhuận chậm rãi buông từng lời: Theo thần tích của đình Thanh Am thời phong kiến, còn được lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam ở số 1 phố Liễu Giai quận Ba Đình, thì trong thời gian ở làm việc tại Thăng Long (1535 - 1542), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thường đi thăm thú các làng quê ven sông. Thấy mảnh đất bên hữu ngạn sông Thiên Đức còn hoang hóa, nhưng khá màu mỡ, phong cảnh hữu tình khá giống làng quê ở dưới Vĩnh Lại. Cụ Trạng đã cắm đất dựng một tư quán để nghỉ ngơi và sáng tác thơ văn. Ngay sau đó ông đưa phu nhân Dương Thị Ý lên trông coi và nhiều con cháu, người làng từ huyện Vĩnh Lại lên đây lập nghiệp. Lúc đầu làng được cụ Trạng đặt tên là Hoa Am, tên Nôm là Đuống theo tên mười tám làng Am ở lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Lại, thời nay là huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng. Chính vì vậy sau khi cụ Trạng mất (1586), thôn dân Hoa Am đã vinh danh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thành hoàng làng, được thờ ở miếu và đình làng. Và từ đó tới nay, thôn dân làng Đuống vẫn coi mình là Am thứ mười chín của lục tổng khu dưới huyện Vĩnh Bảo. Làng Hoa Am nơi đây xưa thuộc tổng Đặng Xá (đầu Nguyễn gồm 11 làng, giáp là: Đặng Xá, Cổ Bi, thôn Đông xã Nông Vụ, Nông Vụ (2 thôn Thượng và Trung), thôn Vụ Đồng thuộc sở Đông Lâm, thôn Cự Đồng thuộc sở Đông Lâm, Tinh Quang, Quan Tinh, Hộ Xá, Tiểu Hoa Lâm và Hoa Am) thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Đến thời Thiệu Trị (1841) vì kiêng húy mẹ vua là Hồ Thị Hoa, nên Hoa Am đổi thành Thanh Am. Từ sau năm 1945 làng Thanh Am thuộc xã Thượng Thanh huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc thành phố Hà Nội, ngày nay thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên thành phố Hà Nội và từ tháng 7 năm 2025 thuộc phường Việt Hưng thành phố Hà Nội.

Theo các sách Đại Thanh nhất thống chí và Đại Nam nhất thống chí, thì sông Đuống có từ xa xưa: Thời An Dương Vương và Triệu Vũ Đế mang tên Bình Giang, sau còn có tên khác là Diên Uẩn, hay Đông Ngàn. Vào năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ đổi tên châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức và đổi Bắc Giang thành Thiên Đức Giang. Đây là những minh chứng cái tên sông Thiên Đức đã có chừng trên dưới một ngàn năm, chứ không phải như một số tác giả ngày nay cho rằng con sông này mang tên Thiên Đức từ thời nhà Mạc (1527 - 1592).

Vào thời phong kiến thì giao thông đường thủy đóng vai trò chủ chốt, nên câu ca: “Nhất cận thị, nhị cận giang”, tức “thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông” được áp dụng cho hầu hết các làng xã, hay tư gia ở vùng Bắc Bộ. Trước kia Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khởi hành từ Trung Am đến Thăng Long, thì bắt buộc hành trình phải theo đường thủy và con đường ngắn nhất phải dọc theo ngũ giang, tức 5 con sông gồm: Kim (thời nay là hạ lưu sông Thái Bình), Thiệu Mỹ (ranh giới huyện Tứ Kỳ và Tiên Lãng đã bị lấp khi làm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải năm 1959), Hàm, Lâu Khê, Lục Đầu (thời nay là thượng lưu sông Thái Bình), Thiên Đức (thời nay là sông Đuống). Và có sự trùng hợp ngẫu nhiên về hai làng Hoa Am và Trung Am đều nằm bên hữu ngạn sông ở thượng lưu sông Đuống và hạ lưu sông Kim, thời nay là sông Thái Bình.

Ngược dòng thời gian!

Nếu như ta đang trên con thuyền du lịch từ cửa biển Kim (thời nay là cửa Thái Bình) ngược lên thành Thăng Long, ta gặp các bến đò dọc chính sau: Ngẩy, nay thuộc xã Hòa Bình huyện Vĩnh Bảo; Hàn, nay thuộc xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, quê hương của cụ Trạng với câu ca dao khá gợi cảm: Hẹn nhau trên chuyến đò Hàn/ Cho duyên hai đứa đổ tràn sang nhau; My, tên khác là Đại Công, nay thuộc xã Tiên Cường huyện Tiên Lãng gần cầu Quý Cao; Thiệu Mỹ, nay thuộc xã Lập Lễ huyện Thanh Hà; Hàm, nay thuộc phường Cẩm Thượng thành phố Hải Dương; Lâu Khê, nay thuộc xã Hợp Tiến huyện Nam Sách; Nhạn, còn gọi tên khác là Lý Dương, nay thuộc xã Nhân Huệ huyện Chí Linh với câu ca dao khá ấn tượng: Ai đưa tôi đến nơi đây/ Bên kia bến Nhạn bên này thành Phao. Tất cả các bến đò trên từ tháng 7 năm 2025 thuộc thành phố Hải Phòng. Từ đây tiếp tục ngược lên thượng lưu sông Đuống, ta gặp ba bến đò dọc sau: Ngăm hay Ngâm Điền tổng Đông Cứu, nay thuộc xã Lũng Ngâm huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, với câu ca dao cổ về nghề nuôi tằm dệt vải: Ngăm đũi có gốc cây đề/ Có sông tắm mát có nghề cửi canh; Hồ hay Lạc Thổ, nay thuộc thị trấn Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh với câu ca dao cổ đặc trưng: Gà Hồ, gà mía, gà re/ Sông Cầu, sông Đuống, sông Chè, sông Thương; Chầm, hay tên khác là Xuân Canh huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Xuân Canh huyện Đông Anh, Hà Nội. Đây là bến đò dọc cuối từ hạ lưu lên, nhưng đồng thời là bến đò ngang tại ngã ba sông. Nếu sang bên hữu ngạn sông Hồng, ta có thể tiếp tục cuốc bộ vào Thăng Long, hay sang bên hữu ngạn sông Đuống ta sang tổng Gia Thị huyện Gia Lâm. Tại khu vực ngã ba sông này, còn vang vọng câu ca dao khá hay về tình duyên đôi lứa: Đò dọc rồi lại đò ngang/ Có đi anh đợi có sang anh chờ.

Khi du khách chu du qua mười bến đò dọc trên, ta gặp ba con sông có liên quan tới Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vào thời cổ, thì sông Thiệu Mỹ và sông Kim là Bàng Hà, tức sông Bàng, hay còn có tên khác là Đại Bàng, tới thời thuộc Minh (1407 - 1427) đổi thành Bình Hà. Từ thời Mạc (1527 - 1592) thì đoạn hạ lưu của Bàng Hà đổi thành Kim Giang, tức sông Kim. Song cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lúc sinh ra tới lúc mất chứng kiến cảnh Đại Việt bị chia cắt, chiến tranh Lê - Mạc kéo dài liên miên, nên Người đã đặt tên vào văn chương cho đoạn hạ lưu sông Kim là Hàn Giang, hay Tuyết Giang, có nghĩa là “dòng sông lạnh giá”. Song vì cuộc đời và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm quá nổi tiếng, một “đại thụ văn hóa” bao trùm cả thế kỉ XVI, nên người dân xứ Đông từ đó tới nay chỉ gọi sông Kim là Hàn Giang tức sông Hàn, hay đò Hàn, cầu Hàn… mà cái tên thật của nó chẳng còn ai nhớ.

Hay ngược lên phía thượng lưu qua ranh giới huyện Tứ Kỳ, ta gặp Hàm Giang tức sông Hàm. Song do cái tên Hàn Giang của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm quá nổi tiếng, nên sông này được người dân xứ Đông gọi là Hàn Giang, tức sông Hàn. Rồi từ Lục Đầu Giang ngược lên phía thượng lưu là Thiên Đức Giang, nhưng được người dân gọi theo tên Nôm là Đuống Giang từ cuối thời Lê Trịnh trở lại nay. Như vậy với đoạn đường thủy dài hơn một trăm cây số là phân lưu chính của sông Hồng đổ ra biển Đông, từ tổng Thượng Am huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng, nay là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm thành phố Hải Phòng ngược lên hết tổng Gia Thị huyện Gia Lâm phủ Thuận An, nay là phường Việt Hưng thành phố Hà Nội. Và ta gặp có ba con sông liên quan tới cuộc đời và sự nghiệp của Danh nhân Văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Hàn Giang, Hàm Giang và Đuống Giang, tức sông Hàn, sông Hàm và sông Đuống.

Ngoài chức năng kết nối hai hệ thống sông ra, nó còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, hay việc bồi đắp phù sa, cung cấp nước ngọt cho việc nuôi trồng và phục vụ đời sống cho cư dân cả vùng đất rộng lớn. Tuyến sông này còn là con đường thủy thiết yếu từ Thăng Long đi ngoại bang và đã giúp quân dân Đại Việt bẻ gãy nhiều cuộc xâm lăng của kẻ thù phương Bắc. Thời nay tuyến sông này còn là con đường giao thông thủy huyết mạch nối cảng Hải Phòng với thủ đô Hà Nội.

Nhớ lại, cách nay hai mươi năm tôi có gặp thi sĩ Hoàng Cầm ngồi trên xe lăn với nét mặt khá tươi vui. Tôi liền hỏi, bài thơ Bên kia sông Đuống của bác khá nổi tiếng, nhưng thi sĩ có biết vì sao nó mang tên Đuống không? Thi sĩ Hoàng Cầm lắc đầu và bảo chú giải thích hộ nhé, nhưng miệng vẫn ngân nga đọc: Em ơi! Buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lì/ Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...

Thế rồi, tôi liền cho ông biết về lịch sử hành chính và sự ra đời cái tên “Đuống”. Sông này thời cổ gọi theo chữ Hán là Thiên Đức giang, tức sông Thiên Đức cả trong văn viết lẫn văn nói. Từ thời Lê Trịnh (1592 - 1788), thì cái tên “sông Đuống” được dùng trong văn nói. Từ cuối thế kỉ XIX trở lại nay, thì cái tên sông Đuống được dùng trong cả trong văn viết lẫn văn nói.

Tôi đùa với thi sĩ Hoàng Cầm là cuối năm Ất Dậu này, bác về đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo thắp hương, thì năm tới thế nào bác cũng giành Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thế rồi vào ngày 28 tháng 11 âm năm Ất Dậu (2005), mấy nhà văn gồm Trung Trung Đỉnh, Thi Hoàng, Y Phương… Còn thi sĩ Hoàng Cầm quá yếu không về được. Hai năm sau, mấy nhà văn trên đều được xét và trúng giải. Đặc biệt thi sĩ Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết kí Quyết định tặng riêng cho ông...

Đuống Giang, một con sông nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, một vùng văn hóa lâu đời của người Việt. Không chỉ là huyết mạch nối hệ thống sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình. Mà con sông này còn là dòng chảy những trầm tích lịch sử văn hóa, được lắng đọng hàng nghìn năm qua. Với câu ca: Cụ Hồng(2) là ông bác Đuống, hay câu ca dao: Lênh đênh trên chiếc thuyền kề/ Thuyền ra Hà Nội thuyền về sông Dâu(3) đã phản ảnh khá rõ nét về nhánh sông chính mang tên ngôi làng do Danh nhân Văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt tên.

T.N.T

 

​(1): Chợ Như Kinh, tên Nôm là Ghênh, xưa thuộc làng Như Kinh tổng Như Kinh (năm Minh Mạng thứ 5 (1824) đổi là Như Quỳnh), huyện Gia Lâm phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Từ cuối thế kỉ XIX thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, thời nay là thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, từ tháng 7/2025 thuộc xã Như Quỳnh tỉnh Hưng Yên. Còn làng Hoa Am, tên Nôm là Đuống, nằm bên hữu ngạn thượng lưu sông Đuống do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng lập và đặt tên. Vào thời Thiệu Trị (1841) đổi thành Thanh Am. Thời nay thuộc phường Thượng Thanh quận Long Biên thành phố Hà Nội, từ tháng 07/2025 thuộc phường Việt Hưng thành phố Hà Nội.

(2): Nhị Hà hay Nhĩ Hà, từ cuối thế kỉ XIX là sông Hồng.

(3): Sông Dâu: Ở phía Nam sông Đuống, bắt đầu từ giáp Sông làng Đình Tổ huyện Siêu Loại phủ Thuận An, thời nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm