- Bút ký - Tạp văn
- Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc. Bài ký "Người lính trở về từ cửa tử Thành cổ Quảng Trị" không kể lại một trận đánh, mà kể về cuộc đời sau chiến tranh – nơi một người lính sống sót vẫn mang theo thương tích, ký ức và cả nỗi đau truyền sang thế hệ sau. Hòa bình đã đến từ lâu, nhưng với nhiều cựu binh, chiến tranh vẫn chưa thật sự khép lại.
Đại tá, Luật sư PHAN HOÀNH SƠN
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc ngày 30/4/1975. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hậu quả của nó vẫn hiện hữu qua nỗi đau của nhiều thế hệ: chất độc da cam khiến hàng trăm nghìn người bị nhiễm độc, thế hệ thứ hai, thứ ba vẫn mang dị tật bẩm sinh; hàng trăm nghìn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt hoặc chưa xác định được danh tính; những bà mẹ Việt Nam anh hùng vẫn đau đáu chờ tin con; nhiều thương binh, bệnh binh trở về đời thường trong cảnh thiếu thốn, ngày đêm vật lộn với bệnh tật và “cơm áo, gạo tiền”…
Những vết thương lịch sử ấy nhắc chúng ta về giá trị của hòa bình – và về trách nhiệm đối với những người đã đi qua chiến tranh.
Ở một vùng quê nghèo xã Cát Ngạn (huyện Thanh Chương cũ), tỉnh Nghệ An, có một cựu chiến binh năm nay 75 tuổi. Ông gầy gò, khắc khổ, bước đi chậm chạp, hai tay run vì bệnh Parkinson. Ông là Hoàng Khâm (Hoàng Văn Khâm), sinh năm 1950 tại xã Thanh Nho (huyện Thanh Chương cũ), tỉnh Nghệ An – một trong những chiến sĩ đã đi qua “cửa tử” của chiến trường Quảng Trị, thuộc Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B, trực tiếp chiến đấu trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (28/6/1972 – 16/9/1972).
Từ tiếng gọi của Tổ quốc
Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 8/1971, với tâm thế “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, chàng thanh niên Hoàng Văn Khâm viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới tại Đoàn 22A (Quân khu 4), ông cùng đồng đội hành quân vào chiến trường miền Nam, biên chế trong đội hình Trung đoàn 48 – đơn vị mang danh hiệu “Trung đoàn Thạch Hãn”, thuộc Sư đoàn 320B.

Các chiến sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị ngày 15/8/1972 - (Ảnh Đoàn Công Tính, nguyên PV chiến trường Báo Quân đội ND cung cấp)
Trong chiến dịch Quảng Trị, Trung đoàn 48 mang mật danh “Quang Sơn”, được giao nhiệm vụ giữ vững Thành cổ Quảng Trị. Suốt 81 ngày đêm, ông cùng đồng đội chiến đấu trong mưa bom bão đạn, góp phần làm nên chiến thắng Quảng Trị, tạo sức ép trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Nhắc đến Thành cổ, nhiều người nghĩ đến một địa danh lịch sử. Nhưng với người lính, đó là nơi từng mét hào, từng ụ súng đều được giành giật bằng máu. Đó là nơi tiếng pháo, tiếng bom, tiếng B52 rải thảm và tiếng pháo hạm ngoài biển hầu như không ngớt. Ở đó, sự sống và cái chết chỉ cách nhau một khoảnh khắc.
Cuộc chiến bảo vệ Thành cổ vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch; cán cân nghiêng hẳn về phía đối phương. Mưa liên tục, nước sông Thạch Hãn lên cao khiến việc tiếp tế vũ khí, lương thực, thuốc men và đưa thương binh, tử sĩ ra tuyến sau vô cùng gian nan.
Địch huy động tối đa phương tiện chiến tranh hiện đại: pháo giàn, pháo hạm, không quân B52, xe tăng… tổ chức tấn công liên tục hòng chiếm bằng được Thành cổ. Trong bối cảnh ấy, Đảng ủy Trung đoàn 48 ra nghị quyết nêu cao quyết tâm: “Quang Sơn còn – Quảng Trị còn”, như một mệnh lệnh thôi thúc cán bộ, chiến sĩ giữ vững từng vị trí chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Ông Khâm kể, có những ngày ta và địch giành giật nhau từng mét hào, từng ụ súng. Không ít đồng đội của ông chiến đấu ngoan cường rồi anh dũng hy sinh, mãi mãi nằm lại bên dòng Thạch Hãn.
Còn ông, trong một trận đánh tháng 9/1972, bị thương nặng, không còn khả năng chiến đấu. Đồng đội dùng thuyền cao su đưa ông vượt sông Thạch Hãn về tuyến sau, rồi tải thương ra miền Bắc theo đường giao liên.
Vết thương ổn định, ông được đưa về Đoàn An dưỡng 405 (Quân khu 4). Khi sức khỏe hồi phục, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội. Tháng 7/1977, ông xuất ngũ trở về địa phương.
Ông từng là “dũng sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị”, chiến đấu dũng cảm, được thưởng Huân chương Chiến công.
Nhưng những phần thưởng ấy, với ông, không thể bù đắp được những mất mát của một thời tuổi trẻ và những vết thương sâu trong thân thể – cả trên da thịt lẫn tinh thần.
Hậu chiến: “cửa tử” thứ hai
Như bao người lính thời ấy, ông Khâm trở về hậu phương với hai bàn tay trắng. Miền quê nghèo sau chiến tranh chật vật đủ bề. Và rồi trận lụt lịch sử năm 1978 ập đến: nhà bị ngập nặng, toàn bộ giấy tờ như lý lịch quân nhân, giấy chứng nhận bị thương, quyết định phục viên, các bằng khen và huân huy chương… bị nước lụt cuốn đi mất.
Mất giấy tờ, ông không làm được chế độ thương binh, cũng không thể hoàn thiện hồ sơ liên quan chất độc da cam. Đồng đội cùng chiến đấu hoặc nhập ngũ cùng ông hy sinh gần hết; sau giải phóng, đơn vị cũ đã giải thể… nên ông không thể bổ túc hồ sơ để hưởng các chế độ chính sách theo quy định. Ông từng gõ cửa nhiều cơ quan có thẩm quyền, nhưng vì không đủ chứng cứ, tiêu chuẩn theo quy định nên mọi việc vẫn bế tắc.
Bằng chứng duy nhất ông còn giữ được là bức ảnh chụp ông tại chiến trường Thành cổ, do phóng viên chiến trường Báo Quân đội nhân dân Đoàn Công Tính chụp sau một trận chiến đấu ác liệt. Bức ảnh ấy hiện được trưng bày ở Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Dũng sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị - Hoàng Văn Khâm 19 tuổi (nhân vật trong bài), chiến đấu dũng cảm, được thưởng Huân chương chiến công - (Ảnh Đoàn Công Tính, nguyên PV Báo Quân đội ND cung cấp)
Có một nghịch lý đau xót: một người lính từng xông pha nơi tuyến lửa, từng được khen thưởng, giờ lại không có đủ giấy tờ để được thừa nhận đúng phần đời của mình. Với ông, hành trình “trở về” hóa ra dài hơn cả hành trình ra trận.

Ông Hoàng Khâm (Hoàng Văn Khâm) đứng bên bức ảnh của mình, chụp ngày 24/07/2016 tại Bảo tàng Quảng Trị

CCB chiến trường Quảng Trị - Hoàng Khâm, hiện sống tại quê, hàng ngày phải chống chọi với bệnh tật, do vết thương tái phát mỗi khi trái gió trở trời.
Tuổi già ập đến cùng bệnh tật. Parkinson khiến đôi tay run rẩy; bước chân chậm chạp. Nhưng có một nỗi đau khiến ông day dứt hơn cả thương tật: đứa cháu nội mang di chứng da cam. Chiến tranh đã qua, nhưng nỗi đau như vẫn tiếp tục, truyền sang thế hệ sau bằng một hình hài bé nhỏ.
Ở tuổi xế chiều, người lính Thành cổ sống lặng lẽ trong cảnh khó khăn. Ông không kể nhiều về mình, càng không thích phô bày công trạng. Song ký ức về đồng đội – những người đã nằm lại dưới lòng đất Quảng Trị, dưới dòng Thạch Hãn – thì không lúc nào nguôi.
Tết đến, càng nhớ công ơn người đã hy sinh
Có những ngày thường ta bận rộn, dễ quên. Nhưng cứ đến Tết, khi nhà nhà sum họp, tiếng cười trẻ nhỏ vang lên, lòng người lại chùng xuống một nhịp. Ta nhớ công ơn những người đã hy sinh để đất nước có hòa bình; nhớ những người may mắn trở về nhưng mang theo thương tích, bệnh tật, và cả những thiệt thòi kéo dài.
Câu chuyện của ông Hoàng Văn Khâm nhắc chúng ta rằng tri ân không chỉ là vài ngày lễ, vài vòng hoa tưởng niệm, mà phải là sự quan tâm thiết thực với đời sống của cựu chiến binh – nhất là những trường hợp thiệt thòi vì mất hồ sơ, thiếu chứng cứ, hoặc vì di chứng chiến tranh kéo dài qua nhiều thế hệ.
Hòa bình là giá trị lớn nhất. Và trong những ngày đầu năm, khi nhắc đến hai chữ “bình yên”, có lẽ chúng ta càng thấm thía: bình yên ấy được đổi bằng máu xương của biết bao người – trong đó có những người như ông Khâm, đã bước ra từ “cửa tử” Thành cổ Quảng Trị để trở về, rồi tiếp tục đi qua “cửa tử” của đời thường.