TIN TỨC

Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-15 11:44:12
mail facebook google pos stwis
326 lượt xem

Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc. Bài ký "Người lính trở về từ cửa tử Thành cổ Quảng Trị" không kể lại một trận đánh, mà kể về cuộc đời sau chiến tranh – nơi một người lính sống sót vẫn mang theo thương tích, ký ức và cả nỗi đau truyền sang thế hệ sau. Hòa bình đã đến từ lâu, nhưng với nhiều cựu binh, chiến tranh vẫn chưa thật sự khép lại.

Đại tá, Luật sư PHAN HOÀNH SƠN

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc ngày 30/4/1975. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hậu quả của nó vẫn hiện hữu qua nỗi đau của nhiều thế hệ: chất độc da cam khiến hàng trăm nghìn người bị nhiễm độc, thế hệ thứ hai, thứ ba vẫn mang dị tật bẩm sinh; hàng trăm nghìn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt hoặc chưa xác định được danh tính; những bà mẹ Việt Nam anh hùng vẫn đau đáu chờ tin con; nhiều thương binh, bệnh binh trở về đời thường trong cảnh thiếu thốn, ngày đêm vật lộn với bệnh tật và “cơm áo, gạo tiền”…

Những vết thương lịch sử ấy nhắc chúng ta về giá trị của hòa bình – và về trách nhiệm đối với những người đã đi qua chiến tranh.

Ở một vùng quê nghèo xã Cát Ngạn (huyện Thanh Chương cũ), tỉnh Nghệ An, có một cựu chiến binh năm nay 75 tuổi. Ông gầy gò, khắc khổ, bước đi chậm chạp, hai tay run vì bệnh Parkinson. Ông là Hoàng Khâm (Hoàng Văn Khâm), sinh năm 1950 tại xã Thanh Nho (huyện Thanh Chương cũ), tỉnh Nghệ An – một trong những chiến sĩ đã đi qua “cửa tử” của chiến trường Quảng Trị, thuộc Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B, trực tiếp chiến đấu trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (28/6/1972 – 16/9/1972).

Từ tiếng gọi của Tổ quốc

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 8/1971, với tâm thế “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, chàng thanh niên Hoàng Văn Khâm viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới tại Đoàn 22A (Quân khu 4), ông cùng đồng đội hành quân vào chiến trường miền Nam, biên chế trong đội hình Trung đoàn 48 – đơn vị mang danh hiệu “Trung đoàn Thạch Hãn”, thuộc Sư đoàn 320B.

Các chiến sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị ngày 15/8/1972 - (Ảnh Đoàn Công Tính, nguyên PV chiến trường Báo Quân đội ND cung cấp)

Trong chiến dịch Quảng Trị, Trung đoàn 48 mang mật danh “Quang Sơn”, được giao nhiệm vụ giữ vững Thành cổ Quảng Trị. Suốt 81 ngày đêm, ông cùng đồng đội chiến đấu trong mưa bom bão đạn, góp phần làm nên chiến thắng Quảng Trị, tạo sức ép trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Nhắc đến Thành cổ, nhiều người nghĩ đến một địa danh lịch sử. Nhưng với người lính, đó là nơi từng mét hào, từng ụ súng đều được giành giật bằng máu. Đó là nơi tiếng pháo, tiếng bom, tiếng B52 rải thảm và tiếng pháo hạm ngoài biển hầu như không ngớt. Ở đó, sự sống và cái chết chỉ cách nhau một khoảnh khắc.

Cuộc chiến bảo vệ Thành cổ vô cùng khó khăn và nguy hiểm. Tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch; cán cân nghiêng hẳn về phía đối phương. Mưa liên tục, nước sông Thạch Hãn lên cao khiến việc tiếp tế vũ khí, lương thực, thuốc men và đưa thương binh, tử sĩ ra tuyến sau vô cùng gian nan.

Địch huy động tối đa phương tiện chiến tranh hiện đại: pháo giàn, pháo hạm, không quân B52, xe tăng… tổ chức tấn công liên tục hòng chiếm bằng được Thành cổ. Trong bối cảnh ấy, Đảng ủy Trung đoàn 48 ra nghị quyết nêu cao quyết tâm: “Quang Sơn còn – Quảng Trị còn”, như một mệnh lệnh thôi thúc cán bộ, chiến sĩ giữ vững từng vị trí chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Ông Khâm kể, có những ngày ta và địch giành giật nhau từng mét hào, từng ụ súng. Không ít đồng đội của ông chiến đấu ngoan cường rồi anh dũng hy sinh, mãi mãi nằm lại bên dòng Thạch Hãn.

Còn ông, trong một trận đánh tháng 9/1972, bị thương nặng, không còn khả năng chiến đấu. Đồng đội dùng thuyền cao su đưa ông vượt sông Thạch Hãn về tuyến sau, rồi tải thương ra miền Bắc theo đường giao liên.

Vết thương ổn định, ông được đưa về Đoàn An dưỡng 405 (Quân khu 4). Khi sức khỏe hồi phục, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội. Tháng 7/1977, ông xuất ngũ trở về địa phương.

Ông từng là “dũng sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị”, chiến đấu dũng cảm, được thưởng Huân chương Chiến công.

Nhưng những phần thưởng ấy, với ông, không thể bù đắp được những mất mát của một thời tuổi trẻ và những vết thương sâu trong thân thể – cả trên da thịt lẫn tinh thần.

Hậu chiến: “cửa tử” thứ hai

Như bao người lính thời ấy, ông Khâm trở về hậu phương với hai bàn tay trắng. Miền quê nghèo sau chiến tranh chật vật đủ bề. Và rồi trận lụt lịch sử năm 1978 ập đến: nhà bị ngập nặng, toàn bộ giấy tờ như lý lịch quân nhân, giấy chứng nhận bị thương, quyết định phục viên, các bằng khen và huân huy chương… bị nước lụt cuốn đi mất.

Mất giấy tờ, ông không làm được chế độ thương binh, cũng không thể hoàn thiện hồ sơ liên quan chất độc da cam. Đồng đội cùng chiến đấu hoặc nhập ngũ cùng ông hy sinh gần hết; sau giải phóng, đơn vị cũ đã giải thể… nên ông không thể bổ túc hồ sơ để hưởng các chế độ chính sách theo quy định. Ông từng gõ cửa nhiều cơ quan có thẩm quyền, nhưng vì không đủ chứng cứ, tiêu chuẩn theo quy định nên mọi việc vẫn bế tắc.

Bằng chứng duy nhất ông còn giữ được là bức ảnh chụp ông tại chiến trường Thành cổ, do phóng viên chiến trường Báo Quân đội nhân dân Đoàn Công Tính chụp sau một trận chiến đấu ác liệt. Bức ảnh ấy hiện được trưng bày ở Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Dũng sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị - Hoàng Văn Khâm 19 tuổi (nhân vật trong bài), chiến đấu dũng cảm, được thưởng Huân chương chiến công - (Ảnh Đoàn Công Tính, nguyên PV Báo Quân đội ND cung cấp)

Có một nghịch lý đau xót: một người lính từng xông pha nơi tuyến lửa, từng được khen thưởng, giờ lại không có đủ giấy tờ để được thừa nhận đúng phần đời của mình. Với ông, hành trình “trở về” hóa ra dài hơn cả hành trình ra trận.

Ông Hoàng Khâm (Hoàng Văn Khâm) đứng bên bức ảnh của mình, chụp ngày 24/07/2016 tại Bảo tàng Quảng Trị

CCB chiến trường Quảng Trị - Hoàng Khâm, hiện sống tại quê, hàng ngày phải chống chọi với bệnh tật, do vết thương tái phát mỗi khi trái gió trở trời.

Tuổi già ập đến cùng bệnh tật. Parkinson khiến đôi tay run rẩy; bước chân chậm chạp. Nhưng có một nỗi đau khiến ông day dứt hơn cả thương tật: đứa cháu nội mang di chứng da cam. Chiến tranh đã qua, nhưng nỗi đau như vẫn tiếp tục, truyền sang thế hệ sau bằng một hình hài bé nhỏ.

Ở tuổi xế chiều, người lính Thành cổ sống lặng lẽ trong cảnh khó khăn. Ông không kể nhiều về mình, càng không thích phô bày công trạng. Song ký ức về đồng đội – những người đã nằm lại dưới lòng đất Quảng Trị, dưới dòng Thạch Hãn – thì không lúc nào nguôi.

Tết đến, càng nhớ công ơn người đã hy sinh

Có những ngày thường ta bận rộn, dễ quên. Nhưng cứ đến Tết, khi nhà nhà sum họp, tiếng cười trẻ nhỏ vang lên, lòng người lại chùng xuống một nhịp. Ta nhớ công ơn những người đã hy sinh để đất nước có hòa bình; nhớ những người may mắn trở về nhưng mang theo thương tích, bệnh tật, và cả những thiệt thòi kéo dài.

Câu chuyện của ông Hoàng Văn Khâm nhắc chúng ta rằng tri ân không chỉ là vài ngày lễ, vài vòng hoa tưởng niệm, mà phải là sự quan tâm thiết thực với đời sống của cựu chiến binh – nhất là những trường hợp thiệt thòi vì mất hồ sơ, thiếu chứng cứ, hoặc vì di chứng chiến tranh kéo dài qua nhiều thế hệ.

Hòa bình là giá trị lớn nhất. Và trong những ngày đầu năm, khi nhắc đến hai chữ “bình yên”, có lẽ chúng ta càng thấm thía: bình yên ấy được đổi bằng máu xương của biết bao người – trong đó có những người như ông Khâm, đã bước ra từ “cửa tử” Thành cổ Quảng Trị để trở về, rồi tiếp tục đi qua “cửa tử” của đời thường.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm