TIN TỨC

Mưa đỏ và khoảng lặng của tình yêu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-31 20:50:05
mail facebook google pos stwis
531 lượt xem

“Mưa đỏ” đã tái hiện trận chiến 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị, nơi người lính vừa kiên cường vừa giàu tình cảm, nhưng những mạch tình yêu trong phim chỉ thấp thoáng, chưa đủ sức vang để cân bằng với khốc liệt chiến trường.

Với nền điện ảnh Việt Nam, đề tài chiến tranh cách mạng luôn đặt ra nhiều thử thách lớn khi phải cần bằng các yếu tố như phản ảnh đúng lịch sử nhưng phải tạo nên sức hấp dẫn nghệ thuật đủ sức chạm tới công chúng, đặc biệt với thế hệ trẻ sinh ra, lớn lên trong hòa bình. Trong bối cảnh đó, Mưa đỏ của Điện ảnh Quân đội nhân dân đã cho thấy nỗ lực và thành công khi góp thêm một dấu ấn đặc biệt bằng việc tái hiện cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị. Bộ phim đưa khán giả trở về giai đoạn lịch sử bi tráng, nơi người lính hiện lên vừa kiên cường trong chiến đấu, vừa giàu tình cảm trong đời thường. Qua đó, tác phẩm không chỉ làm sống lại ký ức về sự hy sinh của cha anh, mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay trân trọng giá trị của hòa bình.

Một cảnh trong phim Mưa đỏ – Ảnh: NSX

Trong Mưa đỏ, đạo diễn Đặng Thái Huyền tập trung khắc họa sức mạnh tập thể, sự khốc liệt của chiến trận và tinh thần dũng cảm của những chiến sĩ giải phóng quân. Bên cạnh đó, phim còn lồng ghép nhiều chi tiết đời thường, từ những phút sinh hoạt ngắn ngủi trong khoảng lặng hiếm hoi giữa các trận đánh đến những sẻ chia giản dị giữa đồng đội với nhau. Chính sự đan xen ấy khiến hình tượng người lính hiện lên trọn vẹn hơn: không chỉ dũng cảm trong chiến đấu, mà còn là những con người bình thường biết yêu thương, biết lo lắng, thậm chí biết sợ hãi trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết giữa khốc liệt của chiến tranh.

Bên cạnh khắc họa tinh thần chiến đấu, Mưa đỏ còn gợi mở khía cạnh tình yêu của người lính trong thời chiến. Đó là mối tình trong sáng giữa cô lái đò Hồng và chiến sĩ Cường, là tình cảm thầm lặng của Quang, người lính phía bên kia, dành cho Hồng, hay tình yêu chân thành của tiểu đội trưởng Tạ gửi gắm nơi hậu phương qua những dòng thư dặn dò, thậm chí khuyên vợ nên đi bước nữa nếu chẳng may anh không trở lại. Những lát cắt ấy đem đến cho Mưa đỏ sắc thái tình cảm cần thiết, cho thấy giữa khói lửa chiến tranh, con người không chỉ biết chiến đấu mà còn biết yêu thương và nuôi dưỡng hy vọng.

Khoảnh khắc tình của người lính trong phim Mưa đỏ – Ảnh chụp lại màn hình

Tuy nhiên, những mạch tình yêu này chỉ hiện diện thoáng qua, với thời lượng ít ỏi. Chúng chưa đủ độ sâu để làm đối trọng với sự khốc liệt của chiến trường, nên chưa tạo được sức vang lớn trong tâm khảm khán giả. Đây là một thiếu hụt đáng tiếc, bởi điện ảnh chiến tranh hiện đại cho thấy chính tình yêu, dù ngắn ngủi, lại thường trở thành điểm tựa giúp người xem cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của hòa bình. Chính nhà văn Chu Lai, tác giả kịch bản Mưa đỏ, sau khi xem phim cũng thẳng thắn thừa nhận: “Tất nhiên còn nhiều sạn, chẳng hạn thời lượng dành cho súng đạn nhiều hơn cho tình yêu, nếu cân bằng hơn thì tốt”.

Với điện ảnh thế giới, những bộ phim chiến tranh tiêu biểu như Pearl Harbor (Trân Châu Cảng, 2001), Atonement (Chuộc lỗi, 2007) hay All Quiet on the Western Front (Phía tây không có gì lạ, 2022) đều dành nhiều đất cho tình yêu và đời sống cá nhân bên cạnh khói lửa chiến trận. Nhờ vậy, nhân vật không chỉ hiện diện như những chiến binh trong bom đạn, mà còn như những con người với yêu thương, khát vọng và mất mát.

Trong khi đó, Mưa đỏ vẫn thiên nhiều hơn về tính tập thể và không khí bi tráng, khiến tầng sâu cá nhân chưa thật sự được khai mở. Nếu bộ phim mạnh dạn trao thêm không gian cho những cung bậc tình cảm ấy, sức truyền cảm sẽ còn lớn hơn, bởi trong tận cùng mất mát, chính tình người mới làm sáng lên ý nghĩa của hy sinh.

Bảy chiến sĩ Tiểu đội 1 ở Thành cổ Quảng Trị trong phim Mưa đỏ – Ảnh: NSX

Một điểm đáng chú ý trong Mưa đỏ, đạo diễn Đặng Thái Huyền đã để nhân vật cất lên đúng giọng quê hương của mình. Hải với giọng Quảng Nam, Tạ nói giọng Thanh Hóa, Cường nói giọng Hà Nội, Bình nói giọng Nam Bộ… Chính sự đa thanh ấy khiến mỗi âm sắc trở thành một dấu ấn văn hóa, giúp khán giả vừa nghe vừa như nhìn thấy quê hương trong từng câu nói. Thủ pháp này góp phần dựng nên một tiểu đội đa dạng, sinh động và giàu bản sắc, để tiếng nói không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là linh hồn của ký ức vùng miền.

Tuy vậy, dù nhiều nhân vật trong Mưa đỏ đã được khắc họa trọn vẹn qua giọng nói mang đậm dấu ấn địa phương, vẫn tồn tại những chi tiết chưa thật sự hài hòa với mạch cảm xúc chung của bộ phim. Không ít khán giả bày tỏ sự nuối tiếc khi nhân vật Hồng - cô lái đò chở bộ đội qua sông Thạch Hãn lại nói bằng giọng miền Nam. Nếu Hồng được thể hiện bằng giọng Huế hoặc Quảng Trị, địa phương gắn liền trực tiếp với chiến trường Thành cổ, thì hiệu ứng thẩm mỹ và cảm xúc chắc chắn sẽ mạnh mẽ hơn, đồng thời tăng cường sự cộng hưởng ngôn ngữ với không gian lịch sử và ký ức tập thể. Việc thiếu vắng sự gắn kết này khiến cho tầng sâu cảm xúc của bộ phim chưa đạt tới độ trọn vẹn như mong đợi.

Một điểm đáng chú ý khác của Mưa đỏ là cảnh những pha hành động chiến đấu giữa các chiến sĩ giải phóng và quân địch. Phim sử dụng nhiều cảnh cận chiến tay đôi với lối quay dồn dập, tạo cảm giác căng thẳng và cuốn hút. Ẩn sau cách dàn dựng này là ý đồ của đạo diễn muốn ca ngợi tinh thần quả cảm, sự gan dạ của những người lính khi đối mặt trực diện với kẻ thù. Tuy nhiên, chính lựa chọn ấy cũng khiến không khí phim mang sắc thái bạo lực khá giống với các cảnh chiếu đấu trong phim Hollywood.

Đây là một hướng tiếp cận giàu kịch tính, góp phần tăng sức hấp dẫn cho bộ phim, đặc biệt với khán giả trẻ vốn quen với nhịp điệu nhanh và hiệu ứng mạnh của điện ảnh hiện đại. So với những tác phẩm cùng đề tài trước đó, cách thể hiện này mang tính đột phá và tạo nên một diện mạo mới cho phim chiến tranh. Tuy nhiên, với khán giả lớn tuổi hay các cựu chiến binh từng trực tiếp tham gia chiến đấu, những cảnh quay dữ dội ấy lại dễ khơi gợi ám ảnh về chiến tranh.

Cùng đề tài về chiến tranh nhưng mỗi bộ phim Việt Nam lại chọn cho mình một cách tiếp cận khác nhau. Đừng đốt (2009) của đạo diễn Đặng Nhật Minh khai thác cuộc chiến qua những trang nhật ký, từ đó khắc họa một câu chuyện giàu cảm xúc cá nhân và nhân bản. Mùi cỏ cháy (2011) của đạo diễn Nguyễn Hữu Mười đi sâu vào góc nhìn tuổi trẻ với tình bạn, tình đồng đội và cả những rung động tình cảm, qua đó khắc họa bi kịch và khát vọng đời thường của một thế hệ. Trong khi đó, Mưa đỏ thiên nhiều hơn về tính tập thể và không khí bi tráng, nhưng lại ít để lại dư vang ở tầng tình cảm cá nhân. Đây chính là điểm đặt ra cho các nhà làm phim: cần tìm sự cân bằng giữa quy mô hoành tráng và chi tiết nhân văn, để ký ức chiến tranh vừa được tái hiện trung thực, vừa chạm đến trái tim khán giả.

Nhân vật Hồng (Lê Hạ Anh) trong phim Mưa đỏ – Ảnh: NSX

Có thể nói, Mưa đỏ là bộ phim mang tính đột phá của điện ảnh Việt Nam. Tác phẩm thành công cả về doanh thu lẫn hiệu ứng xã hội, một thành quả hiếm khi đạt được với những bộ phim cùng đề tài. Đây là dấu ấn đáng ghi nhận, bởi bộ phim vừa kế thừa truyền thống sử thi của điện ảnh chiến tranh, vừa mạnh dạn thử nghiệm phong cách dàn dựng hiện đại để chinh phục khán giả hôm nay. Tuy vậy, chính trong sự giằng co giữa hai mục tiêu đó, tác phẩm cũng gợi mở nhiều suy tư cho con đường của điện ảnh chiến tranh Việt Nam: làm thế nào để vừa trung thực với ký ức quá khứ, vừa truyền đi sức lay động của những thân phận con người. Ở phương diện này, Mưa đỏ không chỉ cho thấy quyết tâm làm mới mà còn mở ra cơ hội để phim chiến tranh tiến gần hơn tới sự cân bằng giữa hoành tráng và nhân văn, giữa ký ức lịch sử và hiện tại để phù hợp với xu hướng điện ảnh hiện đại.

Tiểu Vũ/Tạp chí Một Thế Giới

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đại thi hào Nguyễn Du và những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”
Nếu chỉ làm một thống kê số học thì hành trình trong cả cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du chỉ cần ghi lại bằng vài ba nét gạch đầu dòng kiểu lý lịch trích ngang như ta hay dùng theo công nghệ số ngày nay. Vấn đề là qua cuộc hành trình tưởng như đơn giản ấy, ta rút ra được nhận xét gì, hiểu được gì về con người nổi tiếng này?
Xem thêm
Sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến nay
​Tóm tắt: Trải qua 40 năm Đổi mới, tư duy lý luận văn hóa của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã phát triển mạnh mẽ, liên tục có sự đổi mới về nhận thức: từ nhìn nhận văn hóa là lĩnh vực tư tưởng đến xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đảng ta đã đưa ra quan điểm, đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tập trung xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học gắn với hệ giá trị gia đình Việt Nam trong mối quan hệ biện chứng với hệ giá trị quốc gia, để văn hóa, con người sẽ là nguồn sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Xem thêm
Đặng Thùy Trâm đã hóa thân vào mùa xuân đất nước
Gần 20 năm kể từ ngày đầu tiên vở diễn về bác sĩ Đặng Thùy Trâm ra đời, NSƯT Huy Thục ngồi điểm lại bao lần rơi nước mắt ở nơi in dấu chân của chị. Rồi ông kể những câu chuyện kỳ lạ mà ông cho rằng: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm rất linh thiêng! Nhà thơ Thanh Thảo thì tâm sự, mong nơi chị hy sinh sẽ xây dựng một đền thờ để đón du khách, vì chị rất linh thiêng, chị đã hóa thân vào đất nước.
Xem thêm
Cảm hứng từ trò chơi dân gian Việt qua bộ phim “Báu vật trời cho”
Lấy cảm hứng từ các trò chơi dân gian Việt Nam để thiết kế hình ảnh quảng bá phim chiếu Tết là nỗ lực sáng tạo từ bộ phim Báu vật trời cho của đạo diễn Lê Thanh Sơn. Bộ phim sẽ ra rạp vào mùng 1 Tết Bính Ngọ (17/2).
Xem thêm
“Ngọn gió” chính sách cho văn học Việt vươn xa
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho hoạt động sáng tác, quảng bá và phổ biến văn học Việt Nam trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Phan Bội Châu - người “đốt đuốc giữa ban ngày”
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người mà tên tuổi của họ vượt khỏi khuôn khổ thời gian, trở thành ngọn lửa soi sáng cho nhiều thế hệ sau. Một trong những ngọn lửa ấy là Phan Bội Châu – nhà cách mạng lỗi lạc, người mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20.
Xem thêm
Kiến tạo nền tảng văn hóa số
AI đang thay đổi cách sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bên cạnh những cơ hội, AI cũng đặt ra thách thức về quyền tác giả, đạo đức nghề nghiệp và vai trò con người trong sáng tạo - những yếu tố cốt lõi để xây dựng văn hóa sáng tạo có trách nhiệm, lấy con người làm trung tâm.
Xem thêm
Thi ca – Nhịp cầu nhân văn kết nối Việt Nam & Palestine
Sáng ngày 17/12/2025, tại Hội trường A – Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, đã diễn ra chương trình “Gặp gỡ thi ca Việt Nam – Palestine”, một sự kiện văn học quốc tế đặc sắc mang đậm tinh thần nhân văn và liên văn hóa.
Xem thêm
Hơn hai thế kỷ vẫn nghe tiếng Nguyễn Du
Hơn hai trăm năm đã trôi về phía sau lịch sử nhưng tên tuổi Nguyễn Du vẫn như ngọn hải đăng soi rọi vào đời sống tinh thần dân tộc. Từ những nếp nhà cổ ở Tiên Điền, đến các giảng đường văn chương, từ câu hát ru của người mẹ đến những trang sách mỏng lật qua tay lớp trẻ, bóng dáng người thi sĩ bạc mệnh vẫn hiện hữu, lặng lẽ mà bền bỉ.
Xem thêm
Những bài thơ khắc trong hang động: Nét đẹp văn hóa xứ Thanh
Vẻ đẹp của quê hương Xứ Thanh từ xa xưa đã từng được khắc họa bằng những bài thơ của các bậc vua, chúa và tao nhân mặc khách đến với quê hương xứ Thanh như muốn gửi lại muôn sau điều tâm đắc về mảnh đất này.
Xem thêm
Đi tìm dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Một hành trình nghiên cứu công phu, giàu tâm huyết, góp phần giải mã thêm bí ẩn cuối cùng của Hồ Xuân Hương – người phụ nữ tài hoa trong lịch sử thi ca Việt Nam.
Xem thêm
Hành trình tri ân và sáng tạo của Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh (phần 1)
Trong chuỗi hoạt động thực tế sáng tác năm 2025, Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh do KTS Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, làm Trưởng đoàn, đang thực hiện chuyến đi mang chủ đề “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” (từ ngày 17 đến 25/10/2025).
Xem thêm
Những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam
Tóm tắt: Đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam chính là đặc điểm nổi bật, thuộc tính riêng của nền văn hóa khi ta đặt nó so sánh với các nền văn hóa khác trong khu vực và quốc tế. Vận dụng cách tiếp cận địa lý - lịch sử, những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh thành quả lao động, đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, gồm: Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước ở miền sông nước và biển đảo; đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống; đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làng xã; thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc; đề cao nữ quyền; trọng nông, xa rừng, nhạt biển; đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng; nền văn hóa mở, thích ứng và tiếp biến hài hoà các nền văn minh nhân loại.
Xem thêm
Thiên hạ đệ nhất hùng quan
Trên đường thiên lý, dọc từ Bắc xuống Nam, nếu hỏi nơi nào có biển cả, mây trời, núi rừng đẹp nhất thì câu trả lời của nhiều người, hẳn sẽ phải là: đèo Hải Vân - Hải Vân Quan. Đúng thế, đây là con đèo nằm trên quốc lộ 1 và làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế (phía Bắc) và Đà Nẵng (phía Nam).
Xem thêm
Đặc điểm của nhân vật tình báo trong tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam
Công cuộc Đổi mới (1986) do Đảng khởi xướng đã làm thay đổi diện mạo đất nước trên nhiều phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật. Tinh thần đổi mới và giao lưu văn hóa đã làm cho hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung, đời sống văn học nói riêng trở nên phong phú, đa dạng và sôi nổi. Trên văn đàn, các thể loại tiểu thuyết đua nhau nở rộ, trong đó, sự xuất hiện của dòng tình báo, phản gián là một hiện tượng đáng chú ý.
Xem thêm
Bài hát hiếm hoi về sự kiện lịch sử năm 1945 của dân tộc
Thầy giáo tiếng Anh trung học ở TP. HCM Bùi Khánh Nguyên đã sáng tác một ca khúc trang trọng mang tên “Bay lên những linh hồn” dành riêng cho dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh của Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2025).
Xem thêm
Sân khấu cho người khiếm thị: Nơi kết nối tâm hồn
Mô hình sân khấu cho người khiếm thị không quá xa lạ với khán giả trên thế giới, thường được biết đến với thuật ngữ “accessibility performance” - biểu diễn tiếp cận, dịch vụ đáp ứng khả năng tiếp cận cho mọi người, bao gồm cả người khuyết tật.
Xem thêm
Linh thiêng và tươi đẹp nơi cột mốc Xà Xía
Hà Tiên là một miền đất xinh xắn, thơ mộng ở cuối trời Tây Nam của Tổ quốc. Miền đất biên viễn này rất ấn tượng, không rộng lớn lắm nhưng địa hình giống như một Việt Nam thu nhỏ. Nơi đây có đủ sông ngòi, hang động, đồi núi, đồng bằng, vũng vịnh, hải đảo… Bởi thế, từ lâu, người ta đã đồn đại, ví von cảnh đẹp ở Hà Tiên tựa như “thiên đường dưới hạ giới”, ngắm vui mắt mà “không chán trong lòng”.
Xem thêm