TIN TỨC

Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-26 18:17:01
mail facebook google pos stwis
351 lượt xem

                                                                                                     BÙI VĂN KHA   

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.

 

Tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của tác giả Hoàng Đăng Khoa.

 

Buồn như Hữu Loan màu sim bi thương sắc hoa thành máu tím. Buồn như Trần Dần “Tôi khóc cho những người bay không có chân trời/ Và khóc cho những chân trời không có người bay”.

Dẫn ở trên, cái buồn ấy vẫn là cổ điển hỉ nộ ai ái ố lạc dục. Tôi có đọc nói thương là khi người tuổi hai mươi ngã xuống, chứ cũng khác nhiều với đau, hay xót. Buồn ấy, sau này thành ước lệ, tượng trưng, dramatic.

Kịp đến những năm 20 của thế kỷ 21, 100 năm sau, lại có một sự việc buồn, rất khác, không bàn nêu trạng thái, không chú ý tâm cảnh, không ấn tượng hình ảnh – nhưng đặt vấn đề mỹ cảm. Đó là nỗi buồn Hoàng Đăng Khoa mang tên: Chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Chúng mình cách ly nhau đã mấy mùa

Đâu phải đợi đến mùa covid

Chúng mình từ lâu tự bịt miệng mình thin thít

Chung ngôn ngữ mà không cùng tiếng nói

Có cất lời mà chẳng nghe được nhau

 

Bẩm sinh niềm đau

Chung thân mang vác

Nhưng niềm đau người khác

Người này không vô can

Bài thơ tràn hàng

Không viết hoa mở đầu

Không chấm cuối

Như buồn tràn tuổi

Như bài kinh từ khởi thuỷ đến tận thế

Chúng sinh vừa ngủ gật vừa tụng

 

Thơ cũng là văn bản nhật dụng

Dẫu là tinh của chữ là hoa của lời là lệ của đời

Như rượu kia

Rỉ ra từ mắt gạo

Để tê ran từng cái uống

 

buồn sẽ theo chúng mình chết xuống

rồi lại phục sinh

lại vừa có nghĩa vừa vô nghĩa như câu kinh

gà vừa ngáp vừa gáy

người vừa quờ tràng hạt vừa lẩm bẩm

 

đang mùa sống chậm

mà chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Tôi gọi đây là Nỗi buồn Bản thể tân khái niệm. Gọi thế, vì không nên đưa nội dung cắt nghĩa chủ ý, chỉ tràn ngập đối tượng, như tôn giáo, chỉ cần đức tin, còn lời kinh thì cũ đến lẩm bẩm ngủ gật. (Kinh là lời, dù Kinh nào cũng thế!).

Ở bài thơ này, nỗi buồn được khẳng định là vô ngôn tính. Nhưng sâu xa, Hoàng Đăng Khoa trình bày một mỹ cảm mới. Nỗi buồn là một trạng thái tình cảm, là một trong những khái niệm của tâm lý học và mỹ học, gắn với con người, với động vật, thậm chí sinh vật. Đấy là khoa học. Riêng với nghệ thuật, nhất là nhạc – hoạ - thơ thì buồn gắn với giới tự nhiên như là cơ hữu. Nỗi buồn cảm xúc ấy được cụ Nguyễn Du đỉnh cao “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, đến Hoàng Đăng Khoa, đã “cũ mèm” rồi (chữ của Thanh Thảo – Bài ca ống cóng, cũng một ý này). Lời kinh đã cũ, nhưng con người không bỏ được, vẫn “Tay lần tràng hạt, miệng nam mô” – (Nguyễn Bính). Như con gà trống – Đả kê minh, theo bản năng, mà lạ vừa gáy, vừa ngáp, thì cái buồn chán có lẽ đã đến lúc phải “Buồn ơi, chào em ” (Francoise sagan) rồi.

Cấu tứ chủ ý chặt chẽ đến nỗi đây là tuyên ngôn, là chủ đề của tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của Hoàng Đăng Khoa. Tôi suýt bị ông mị hoặc mà cho rằng tên tập thơ là chủ đề tập thơ này, nào biết đâu trình một lối mới về ngôn từ, về mỹ cảm, về chí hướng nâng cao nhưng trở về thơ thuở Đường Tống Nguyễn Du Thơ Mới của thế kỷ 21 mới là đường đi của Hoàng Đăng Khoa. Thơ ông đã khác với thơ thuở 1986 – 2016 biện luận nhân văn. Thơ ông là đương nhiên nhân văn để trình bày bản thể!

Tôi trích nguyên một bài thuộc bài rất hay trong thơ ông, và trong tập này:

Sơn bất linh

Cám ơn người đưa ta đến đây

Và im lặng cùng ta đến cạn ngày

 

Cây mùa trụi lá

Như những bàn tay chới với vẫy cao xanh

Như ta mười ngón trắng

 

Lũ thiêu thân

Quẩy tung cột sáng

Camera một mắt thản nhiên nhìn

Ta ở đấy thiên nhãn còn không thấy

 

Những con chim

bay đêm vào hun hút

bầy đàn mà lầm lũi cui cút

thân xác không mang vác nổi linh hồn

 

Mật Sơn

cà phê thì vẫn đắng

Chí Linh cũng chẳng có gì thiêng

 

bây giờ cuối tháng giêng

chưa kịp chợp mắt sẽ là tháng chạp

nòng nọc bơi quẩn đứt đuôi thành ếch ộp oạp

ngơ ngác một đời gọi mẹ đến tàn hơi

 

núi vời vợi

lên đến đỉnh chạm mênh mông khoảng trống

Đây là cuộc tự vấn giữa tồn tại và ý niệm. Điều này xuyên suốt trong thơ Hoàng Đăng Khoa.

Có lẽ đây là một trong những bài thơ thuộc tốp đầu tuyển chọn của thơ bây giờ, có tầm rất lớn. Ở đây có cả truyền thống nguồn cội, cả phong thần phong thuỷ, cả câu chuyện xã hội, cả khát vọng của một trạng huống ở tầm trên cao. Hy Mã Lạp Sơn của Xuân Diệu : “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” của Tố Hữu là nói thời kỳ giai đoạn. Hoàng Đăng Khoa là muốn nói đến vị thế của người Việt Nam bây giờ, cũng có cả cơ hội và thách thức trong đó. Bài thơ này còn có tên khác là Linh Sơn, tác giả đổi lại, chắc tránh trùng tên với Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Bài thơ hoàn toàn là địa danh, nhân vật, cảnh tình Việt Nam, gắn với Côn Sơn Chí Linh. Từ một biểu tượng để nâng lên một tư thái biểu tượng nhân sinh, là kéo thế giới cao nhiên: thế giới Mẫu, là Quan Âm Đức Mẹ nhân bản nguyên sinh tiến hoá.

Cách tổ chức nghệ thuật của Hoàng Đăng Khoa cũng rất mới. Thơ ông phi lô gic nhưng không phi lý. Những hình ảnh và nhân vật trong thơ gọn gàng, cô đọng và ngụ ý. Có câu thơ như một bài thơ, ví như “và im lặng cùng ta đến cạn ngày” – (Sơn bất linh), “đêm huyền linh/ một người nằm/hay bóng người từng nằm” – (Thư phòng), “loài người tiến hoá khi tách khỏi đàn bầy/ nhưng chẳng có con người trưởng thành nào là cá thể” - (Cảo thơm), “cây vô ưu/ hàm ơn nở đoá buồn hiu cả đời” – (Thơ khó đặt tên),…

Những bài thơ dạng biện luận cũng rất thú vị, kiểu như cặp hỏi xoáy đáp xoay trên truyền hình VTV1. Đó là các bài Ngẫu vấn, Nơi chùa văn, Hỏi chuyện các loài cây,…

Những từ tả nỗi buồn, cô đơn, trống trãi cũng mang thêm nhiều sắc thái mới vào ký tự. Ta đọc trong Khải thị là lối thơ tượng trưng tỷ dụ những điều tưởng khác biệt, nhưng đặt ở nguồn cội chúng sinh, lại là vạn vật đồng đẳng.

Khải thị

có phải tại con én sổ bẫy hốt hoảng bay về cuối trời

mà mắt ta ngơ ngác một đời hoang vắng

 

có phải tại đồng trưa hang cua con rắn nằm chầu

mà triệu đêm sâu ta rùng mình như giấc trẻ

 

có phải tại con ong cánh lộng vẫn xây tổ miệt mài

mà ta nỗi nhà cứ đầy lên dọc dài phong du hồ hải

 

có phải tại con ếch xanh

                                tự đồng hoá màu u dật trên tàu chuối

mà ta đeo đuổi sự khác biệt khoáng hoạt tự do

 

có phải tại núi đồi mờ tỏ gần xa

mà ta thiết tha những cuộc chạm gặp và phóng vượt

 

hết bài thơ hay là dư ba

hết mình sẽ là mình lạ

 

Ta bắt gặp trong Tháng ba Hà Nội là đầy tâm trạng tự cảm. Đừng bắt mọi người đồng ca tụng ca khi họ riêng tư. (Tôi phải nói rõ ràng để hiểu chỗ cá nhân individual, còn khi bước vào dàn Thánh ca hoặc các bài ca hùng tráng cộng đồng, thì vị trí và vai trò sẽ khác).

Tháng ba Hà Nội

Sấu phố Phan Đình Phùng đầu chụm vào nhau

Tâm bất tương phùng câm lặng niềm riêng đau

 

Hoa xoan đường Hồng Hà phơi hai màu trắng tím

Thuỷ chung đến trống huơ rỗng hoác con tim

 

Cây gạo hồ Gươm mặc cảm lạc chỗ đứng

Lừng khừng lúng túng tứa từng bụm hoa đỏ lựng

 

Hàng sưa đường Cổ Ngư xưa thưa lá

Trắng vun dày lên những tay hoa

 

Những quả dâu tằm phố nhà binh úp chồng trên thúng

Thương tích gì mà toàn thân máu úng

 

Lũ chim công viên Hoà Bình huyên thuyên đấu khẩu

Thi sĩ Pushkin tay bút tay sách độc tấu

 

Tiệm cà phê mở tràn

Không đủ cho thực khách ngồi lê chờ mãn hạn

 

Ai tuyên thệ

Thì mắt cậu tiêu binh buồn vẫn thế

Rời rạc, không có liên hệ biện chứng. Bài thơ luận về một siêu hình ngoại diên của quan hệ sự vật hiện tượng.

Tôi xin kết bài viết này bằng bài thơ Không gì thực bằng giấc mơ. Đây là bài thơ ẩn dụ phản chính (không phải là vè nói ngược dân gian, kiểu “Bao giờ cho đến tháng ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”, mà đặt các đoạn luận không logic).

Không gì thực bằng giấc mơ

có mùa không đông vẫn lạnh

có chỗ không góc vẫn khuất

 

cuốn sách bị bỏ quên trên giá

lấm lem mình mẩy đồng trinh

chiếc áo trắng tinh

không người mặc ố nhàu hốc tủ

 

có sông không trôi mà ngủ

có trứng không nở mà ung

có ngôi sao thình lình rụng

có đom đóm thoi thóp thở ánh sao

 

có bảo tàng mở không ai vào

có thư viện giấu tiếng chuông tu viện

có đồng xám én run cầm cập liệng

có lối không bàn chân ngập cỏ may

 

cây ngày mai mọc cuối đêm nay

mầm hạnh phúc bao giờ mới nảy

 

đồi Golgotha còn vương máu Con Đức Chúa Trời

động Thiên Đường lệ đá cô triệu năm chưa ráo

 

trong màn sống hư ảo

không gì thực bằng giấc mơ

 

người tình như bài thơ

đọc một đời không hết

Làm tôi nhớ đến sự tiếp nối kỳ diệu với “Uống xong, lại khát là tình” của Xuân Diệu không phải thời Thơ Mới 1936, mà là thời Tập thể hoá 1960. Tình nó lạ nhưng quen, kết cho hư ảo (thế giới khác, ta chưa trực quan không phải thế giới ảo trong game, chỉ giao nhau một phần). Bài thơ này chỉ là một gợi ý suy tưởng những cái tưởng vậy, nhưng luôn có những triền ngoài, có mặt không thể định lượng, có cái tột cùng của lãng quên, thiên lự.

Cuộc sống là thế, có đơn nhất và phổ biến, có đứng yên và vượt qua. Thơ Hoàng Đăng Khoa giúp ta từ thơ soi lại cái nhìn, để mà tin thơ hơn, để yêu một cây đời tươi xanh không hết!

Hà Nội, tháng 11/2025.

(Đọc: Không gì thực bằng giấc mơ, tập thơ, Nxb Hội Nhà văn, H, 2025)

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm