TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt trong tập tản văn “Nỗi buồn trong suốt” của Nguyễn Đức Phú Thọ

Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt trong tập tản văn “Nỗi buồn trong suốt” của Nguyễn Đức Phú Thọ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-25 23:05:30
mail facebook google pos stwis
460 lượt xem

NGUYỄN THỊ TUYẾT

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tản văn là một thể loại dễ tiếp cận với mọi mặt của đời sống thông qua những lát cắt hiện thực, nhưng trung tâm tinh thần của thể loại này lại là cái tôi tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sĩ. Tản văn vừa đậm chất trữ tình, vừa mang bản chất tự sự. Mỗi tác phẩm là một cách diễn giải về “Thế giới như tôi thấy”, đồng thời cũng là một tấm gương phản chiếu cấu trúc nội tâm của nhà văn.

Bìa tập tản văn "Nỗi buồn trong suốt"

 

Nỗi buồn trong suốt của Nguyễn Đức Phú Thọ là một tập tản văn như thế. Đây có thể là một thử nghiệm về kỹ thuật viết ở địa hạt mới của nhà thơ trẻ, cũng có thể là một sự kế thừa và phát triển từ tác phẩm đầu tay, Nỗi buồn đập cánh (tập thơ, 2011). Xuyên suốt tác phẩm là mỹ cảm của sự giản dị, trầm lắng khác xa với nhịp sống ồn ào vội vã bên ngoài trang sách. Phú Thọ không triết lý, không gồng mình mà bằng sự tinh tế thiên phú, sự trong vắt của ngôn từ, sự chạm đáy của cảm xúc đã mở ra những đường bay của nghệ thuật.

Cấu trúc của Nỗi buồn trong suốt (tản văn, Nxb. Hội Nhà văn & Cty sách Đông Tây, 2017) gồm ba mươi phiến đoạn được đặt tên khác nhau và ba mươi bức thư cùng được gọi là Thư muộn. Tuy nhiên, 30 đoản khúc Thư muộn lại được đặt ở vị trí trung tâm, sâu nhất trong thế giới nội quan của chủ thể trữ tình. Điều đặc biệt là mỗi phiến đoạn hay mỗi bức thư ấy tự thân lại là một kết cấu hoàn chỉnh và đồng thời nó cũng là một mảnh ghép về cuộc đời nhân vật, về thế giới nội tâm sâu sắc, phong phú, tinh tế và đặc biệt là sự trong veo hiếm có. Câu chuyện nội tâm được xé vụn rồi dán lên trang giấy theo mạch của cảm xúc vô định, thời gian và không gian không còn là trục quy chiếu mà cảm xúc của nhân vật là hệ tọa độ, là la bàn định vị. Song, về cơ bản chúng ta có thể “tự sắp xếp” lại theo logic thông thường, dựa trên những dữ liệu mà tác giả đã rải rác vung ra theo sự dẫn dắt của những hoài niệm, cảm xúc. Toàn bộ câu chuyện như là lời tự thuật về bản thân dưới hình thức một quyển nhật ký, những bức thư viết cho chính mình, nơi mà không cần sự rào đón, sự khách khí, sự dòm ngó của bất kỳ ai, viết là để trải lòng, để đối diện với chính mình, viết như là một hình thức tự giải thoát, tự chữa lành.

Mở đầu tập tản văn “tôi” viết về quán tên tên Trầm, chìm đắm trong màu xanh (lặp lại 18 lần), đôi mắt “tôi” càn lướt, tô màu, tạo khối cho hiện thực rồi phóng xa ra phố (Ở phố, màu xanh thật bất an) rồi phóng sâu vào nội tâm, kỷ niệm (Chợt màu xanh khẽ nhói lên… Đẹp và xanh thơ dại). Tác phẩm khép lại ở phiến đoạn thứ sáu mươi, ở “Dưới vòm hoa giấy, tôi ngồi”, ở “màu trắng tinh tươm” nơi quán tên Phố vắng, ở niềm vui thinh lặng như vốn có, ở niềm tin an trú, bình yên sẽ theo về. Dụng tâm của cách mở đầu và kết thúc ấy cho ta thấy một vòng tròn chuyển hóa, một sự trưởng thành sau bao nhiêu quan sát, chiêm nghiệm và tự vấn.

“Mình”/“Tôi” là một người trẻ, với tuổi thơ không trọn vẹn: một người cha thiếu tình yêu, thừa đòn roi, một người mẹ tận tâm nhưng u buồn và qua đời sớm, một người bà chăm sóc và một con chó ân nhân. “Mình”/“Tôi” đi qua thời gian và tuổi thơ bị lạc mất, bị đánh cắp, bị ép chín sớm, trở thành người hết tuổi thơ. K.D.N.Q. và một vài cái tên khác như Vy, Jun,… hoặc một người chị không tên nào đó, và một người em gái tên My là những khảm ghép nên thế giới của tôi. Những cái tên ấy là những mối quan hệ tình cảm khác nhau, duy chỉ có D. là nam giới, là người “mình”/“tôi” chưa bao giờ gặp, và luôn ghen tỵ bởi D. có được K…

Mỗi cái tên ấy lặp đi lặp lại, choán hết cuộc đời và kí ức “mình”/“tôi”, mỗi kí tự là một thế giới trong “tôi”, nhưng chính tất cả các kí tự ấy cũng ghép thành thế giới của “tôi”. Trong đó K. được xem là trung tâm (xuất hiện 191 lần) và các nhân vật khác đều biết K., mọi vấn đề của “mình”/“tôi” dường như bị xoay chuyển bởi K.K. chưa một lần hiện diện, nên không rõ mặt, có thể là mối tình đầu của tôi, K. gắn với những kỷ niệm về mưa (lặp lại 41 lần), trong một niềm gắn bó giao cảm khó giải thích, và không thể giải thích bằng ngôn ngữ. Sự trong suốt của mối tình như tấm gương luôn soi chiếu những cảm xúc và kỷ niệm trong “mình”/“tôi”, đến khi K. ra đi thế giới trở nên mù mờ và trống rỗng, “nỗi buồn đau trở về thân thuộc” (Thư muộn 30) và đó cũng là lúc “Khi chẳng biết thế nào là vui nữa” (Thư muộn 29). Cột chặt trong tâm trí của “mình” là “K”, từ trong lý trí hay trong giấc mơ, từ quá khứ hay thực tại, từ ý thức đến vô thức. K. là hiện thân của một nội tâm sống động, một quá khứ chưa thể hoàn thành và một tương lai ngoài tầm với, một giấc mơ dịu dàng.

Tất cả những phiến đoạn Thư muộn (30 lần) đều viết về K. những bức thư không bao giờ gửi, có phải vì vậy mà gọi là thư muộn? Muộn khi K. đã bước ra khỏi đời “tôi” hay K. đã về bên kia thế giới? Muộn vì chưa kịp nói hay những bộn bề ray rứt là hệ lụy sau cùng? K. là một cái gì đó không rõ ràng bởi hai người quá hiểu nhau nên chẳng nói nhiều, chỉ dựa lưng vào nhau cùng đọc sách, cùng ngắm mưa khi hai người hòa hợp ở cạnh nhau. Nhưng đến lúc K. ra đi không một lời từ giã, không một lý do. Đó là điều căn bản khiến “tôi” trở đi trở lại, tự vấn bản thân đến ráo riết để tìm một lý do. Dù “tôi” chấp nhận được tất cả song lắm lúc quá mệt mỏi, “tôi” ước bản thân bị lừa dối:

“Sự ra đi của K. sẽ giản đơn biết bao. Nếu tất cả chỉ là sự lừa dối. Đó phải chăng là lỗi của mình? Mình trẻ con ư? Hay mình đã vô cùng nông nổi? Và chẳng thể là chỗ dựa? Nên khổ đau K. chịu đựng một mình? K. trả lời đi. Sao K. cứ vô tình, im lặng? Giờ đây, mình chỉ thấy rã rời. Mình chỉ muốn ngủ vùi. Mà tâm trí cứ trở mình nằng nặng. Mỗi giờ. Mỗi phút. Mỗi giây. K. chính là quá khứ? Tương lai? Hay mọi thứ về K. vẫn chính là hiện tại?” (Thư muộn 24).

Khi đã mất K. tôi trở nên lạc lõng, không còn là chính mình, mệt mỏi vùng vẫy muốn thoát ra khỏi cuộc đời đó, khỏi trạng thái đó, nhưng có thể K. không còn là tình yêu mà là máu thịt, và sống động như bản thể, K. là giấc mơ suốt đời tôi đeo đuổi, đến tận cùng “mình” có thể đạt được?

Nhiều năm sau, ngay cả khi được D. báo tin K. đã ra đi vĩnh viễn, bao bận rộn và hành trình cuộc đời vẫn miên viễn mở ra nhưng với “mình” K. vẫn ở đó, thân thuộc, bình yên. Những người bạn như Q., N. và ngay cả Jun, được biết đến như người gắn bó tình yêu với “mình” để đến “những miền đất mới, những chân trời bát ngát chân mây…” (Hành trình) đã hơn một lần hỏi “mình” về K.: “Tôi còn nhớ K. không?” và “tôi” đã có Câu trả lời thành thật với lòng mình, “Làm sao có thể quên, bởi chính ta vẫn cố tình không nhớ. Chúng ta rồi sẽ tìm được câu trả lời, vào ngày đẹp trời nào đó. Còn lúc này, tôi muốn được lặng yên” (Câu trả lời). Có lẽ đây cũng là câu hỏi lớn nhất mà tôi phải đối diện, có dám đối diện thì mới tìm thấy bình yên thật sự!

Vẻ “trong suốt” hấp dẫn bạn đọc nhất ở Phú Thọ là giọng điệu. Nhà văn đã thiết lập vị thế và tâm thế ngay khi họ lựa chọn cách xưng hô, cách thể hiện. Chủ thể trữ tình trong Nỗi buồn trong suốt hầu hết xưng là “mình” (618 lần), và thỉnh thoảng xưng “tôi” (269 lần). Cách tự xưng “mình” là một chiến lược tự sự, khác với kiểu xưng “tôi” rất phổ biến trong tản văn Việt Nam đương đại. “Mình” khác “tôi” không chỉ ở giọng thủ thỉ, ở sự chủ động phơi bày thế giới nội tâm, ở mỹ cảm của sự dịu dàng, trong trẻo mà, hơn hết, “mình” còn có năng lực cộng thông, kết nối với tinh thần của người đọc. Những nỗi niềm rất riêng tư của lối diễn ngôn độc thoại, tự kể, tự chất vấn, tự giải bày của chủ thể trữ tình thông qua cách xưng “mình” như một cuộc trò chuyện thân thuộc. Người đọc hòa vào với câu chuyện được kể và như chìm đắm vào trong thế giới ấy như thể là nội tâm của chính mình. Chính cách tự sự giàu tính liên tưởng, tăng khả năng lan tỏa và giảm thiểu khoảng cách trần thuật đã đặt chủ thể trần thuật, câu chuyện được kể và người tiếp nhận trong thế tương giao, dòng ý thức vẫy gọi nhau theo kiểu “đi tìm thời gian đã mất”.  

Bên cạnh việc lựa chọn ngôi kể, giọng kể và những điều được kể mới thực sự giúp khơi nguồn, nảy nụ những mỹ cảm của sự thấu cảm và tinh tế nơi người đọc. Dù là viết về tình bạn hay tình yêu, tình thân hay tình sơ, dù ngọt ngào êm ái hay đau đớn đắng cay, qua ngòi bút giàu cảm xúc của nhà văn trẻ đều toát lên sự ấm áp của tình người đáng tin cậy. Dẫu viết về nỗi đau chất chứa nỗi đau về “người đàn ông” làm khổ đời “mẹ tôi” cũng chỉ khắc khoải trong câu hỏi bất lực: “Ngồi lẳng lặng giữa niềm vô vọng. Mình muốn hỏi tại sao? Sao chẳng thể ra đi? Sao phải tốt với người đàn ông ấy? Người đàn ông chỉ có lỗi lầm. Chỉ gieo thêm nước mắt. Chẳng dám nhìn vào sự thật. Người sống như đã chết cả đời. Sao mẹ chẳng nghỉ ngơi? Sao phải chịu đựng nhiều đến thế?” (Thư muộn 19). Hay những mất mát trong tình yêu “tôi” cũng chỉ có thể để nó gặm nhấm trong suốt những đêm dài, trong sự trằn trọc, mệt nhoài, hỗn độn, rồi tự chìm vào đêm tối: “Mình trôi ngược về miền ký ức. Bằng tất cả sức lực còn lại. Chờ đợi giấc mơ. Để thoát ly thực tại. Mình muốn giải phóng mọi ẩn ức. Mình chẳng thể chết. Mình sẽ vượt qua nỗi sợ. Giữ lại K. nơi sự sống này. Chẳng cần biết vì sao. Mình phải sống. K. có hiểu không? Chưa bao giờ đánh mất K., dù lắm lúc, mình lạc trong ý nghĩ” (Thư muộn 13).

Khi đọc tập tản văn, tôi đã cố gắng kết nối những kí hiệu để tạo lập mạng lưới đời sống của nhân vật, nhưng làm sao có thể vá víu những mảnh vỡ kí ức? Một người sống theo tiếng gọi của trái tim nhưng trái tim ấy đã quá nhiều vết xước, quá mệt mỏi, “mình”/“tôi” xem K. là chiếc la bàn định vị cuộc đời, nhưng K. mãi là điều gì đó xa xôi, mơ hồ không rõ cứa cắt tâm hồn vì những mộng ước tươi đẹp không còn. Những đợi chờ, bồn chồn, nghi ngại qua đi, K. lại trở về trong suốt: “K. là một giấc mơ” (Thư muộn 23).

Nỗi buồn trong suốt toát lên vẻ đẹp thánh thiện của tâm hồn, của cảm xúc. Trước hết, nó nằm ở lối tự sự không hẳn là giãi bày, không phải là phân trần hay biện hộ, đơn giản chỉ là ghi lại như một thói quen, hay như bản thân câu chữ ấy đã hiện lên trong trí não. Đó có thể là nỗi buồn lan tỏa từ cảnh vật, chạm vào da thịt, đọng vào khóe mắt, rồi từ đôi mắt ấy lại ôm trùm vạn vật; một nỗi buồn dịu, buồn mà không sầu. Hay nỗi nhớ miên man như dòng suối nhỏ miệt mài: nỗi nhớ mẹ, nhớ tuổi thơ, nhớ K., nhớ Jun và bao nhiêu điều khác, mỗi thứ nhắc nhở theo kiểu riêng. Một cơn mưa cũng có thể làm ướt những điều xưa cũ, đánh thức những mộng đẹp không thành, một khung ảnh, một góc phố… cũng gợi dậy bao nhiêu điều, lắm lúc cảm tưởng như kí ức trong “tôi” là vô tận, tự động chảy tràn lên trang giấy. Đặc biệt nỗi nhớ dù cho lặp đi lặp lại bao nhiêu lần (nhớ K.) cũng vẫn luôn tươi nguyên sống động, bởi mỗi thời khắc, mỗi không gian nỗi nhớ ấy lại có khuôn mặt, hình hài riêng, rồi tự thân chuyển hóa thành khí thở, mây trời mà “tôi” lắm lúc đã không còn ý thức. Vì chẳng bao giờ toan tính, đặc biệt là trong tình yêu, nên với “tôi”, “đứng trước tình yêu thì kinh nghiệm trở nên vô nghĩa”, nhưng có lẽ, không chỉ trong tình yêu, mọi cảm xúc trong tập tản văn luôn tươi mới tinh nguyên, đầy màu sắc và hình khối. “Mình”/“Tôi” luôn tâm niệm “yêu thương, gắn kết là đích đến của muôn đời” (Mùa hư ảo) nhưng cách yêu thương của “mình”/“tôi” cũng khác người chỉ lặng lẽ nhớ nhung, lặng lẽ đợi chờ, lặng lẽ truy vấn, lặng lẽ mệt mỏi và lặng lẽ vượt qua…Và nếu có niềm vui thanh nhẹ dịu dàng cũng len lén được nhen lên từ sự lặng lẽ ấy.

Khi xã hội ngoài kia luôn vẫy gọi và kiến tạo nên những mẫu người năng động, cuốn theo nhịp sống hối hả, thì Nỗi buồn trong suốt lại khuyến khích một lối sống năng tĩnh, phô ra sức hấp dẫn, vẻ đẹp của sự lặng yên. Đó là lặng yên của không gian cảnh vật, và cũng là sự lặng yên của nội tâm để lắng nghe chính mình, để những hồi ức có cơ hội trở mình, để từng mảnh vụn kí ức lại sống dậy trong tâm trí: “Có những ngày nắng tràn cả vào cơn mơ giấc ngủ. Những bóng nắng sáng lòa, từng giọt mông lung (...). Những giọt nắng rơi về giữa tâm tư bao hình ảnh sáng lòa. Nhưng tất cả lung linh, vô định. Những bóng người đã vĩnh viễn xa ta” (Miền nắng). Sự lặng yên ấy không mang màu sắc của cô lập hay từ khước thế giới, mà là một lựa chọn mỹ học: chậm lại để cảm nhận sâu hơn, tinh tế hơn. Dưới ngòi bút của Nguyễn Đức Phú Thọ, sự lặng yên trở thành một không gian tiếp nhận cảm xúc, là bầu khí quyển bao trùm lên toàn bộ thế giới nghệ thuật, nơi từng giọt mưa, từng cái nhìn, từng nhịp thở đều trở thành chất liệu cho dòng tự sự thấm đẫm tình người.

Chính trong sự lặng yên ấy, các tầng sâu của tâm trí được đánh thức, các cung bậc cảm xúc tinh vi nhất được chưng cất, hiện hình. Càng lặng yên, nhân vật “mình”/“tôi” càng có khả năng lắng nghe âm vang của những điều chưa kịp nói, những mối quan hệ chưa kịp hóa giải, những khúc mắc của tình yêu, tình thân còn day dứt. Càng lặng yên, tác phẩm càng đánh thức ở người đọc một tâm thế đồng cảm, chậm rãi bước vào thế giới của hồi ức, của kí ức bị vỡ vụn nhưng vẫn lung linh ánh sáng của niềm thương và nỗi nhớ. Tài năng của Phú Thọ là gọi ra được tên của những nỗi niềm cảm xúc bằng tất cả sự chính xác và tinh tế, nó tràn ra một cách dễ dàng, có lẽ, đằng sau sự dễ dàng ấy là một quá trình rèn luyện công phu. K. Paustovsky từng nói “truyện hay đến một mức nào đó thì thành thơ”, tản văn của Phú Thọ có lẽ đã chạm đến cái ngưỡng của sự chuyển động ấy, với ngôn ngữ giàu sức gợi, giàu hình ảnh, tràn đầy màu sắc và hình khối được thoát thai từ lối tư duy của một nhà thơ, đó thực sự là những bài thơ văn xuôi mượt mà.

Sự tĩnh lặng sâu xa trong cảm thức của tác giả dù cho kỷ niệm có vài vết xước, dù cho tuổi thơ sớm mất mát tình yêu, dù cho thời hoa mộng trải qua nhiều chia rẽ thì ngòi bút vẫn ngọt ngào tí tách dòng chảy của cuộc sống, dù cho cuộc sống ấy “có muộn phiền, có những giọt nước mắt hòa tan vào mưa, trong suốt” (Mưa). Sự yên lặng, tịch liêu là không gian chủ đạo, song đó không phải là sự tịch liêu chìm vào hư vô, thoát khỏi bản ngã để tiến tới vô ngã như cảm thức “sabi” trong thơ haiku mà sự tĩnh lặng như là nếp nghĩ, nếp sống rất đời của một tâm hồn rất trẻ đầy khao khát và tự vấn. Tự sự trong suốt ở đây, vì thế, cũng là một hành vi đạo đức - viết là để giữ lại cái đẹp của đời sống, để sống chậm lại, để con người không lạc mất chính mình giữa dòng đời vội vã.

Nỗi buồn trong suốt không chỉ là một tập tản văn ghi lại những hồi ức, cảm xúc, ký ức cá nhân mà còn là một hành trình nghệ thuật của cái tôi đang kiếm tìm bản thể giữa những đổ vỡ và chênh vênh của tuổi trẻ. Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt mà Nguyễn Đức Phú Thọ kiến tạo chính là ở sự tinh tế, trong sáng của cảm xúc, ở giọng kể trầm lắng, giàu chất thơ và giàu tính đối thoại liên tầng giữa ký ức và hiện tại, giữa nhà văn và bạn đọc. Những phiến đoạn, những bức thư muộn như những ngấn tích tâm hồn của người kể chuyện, đồng thời, cũng là khối pha lê trong suốt để người đọc chiêm nghiệm.

Ở cột mốc thứ hai trong hành trình sáng tạo, Nguyễn Đức Phú Thọ không chỉ khẳng định phong cách trữ tình, thiên về nội tâm, giàu mỹ cảm, tinh tế trong cảm xúc và ngôn ngữ trong thơ ca, mà còn nỗ lực mở ra hướng đi mới với tản văn, nơi anh thử nghiệm một kiểu tự sự trong suốt, mang tính đối thoại nội tâm mạnh mẽ. Có thể nói, từ Nỗi buồn trong suốt, cá tính sáng tạo của anh được định hình. Đó là mỹ học của sự tinh tế, giản dị và trong trẻo. Con đường phía trước còn dài, mong rằng tinh thần không ngừng tự vấn, không ngừng thử thách bản thân sẽ tiếp tục là động lực thôi thúc nhà văn trẻ khám phá những miền khác của nghệ thuật và con người./.

N.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm