TIN TỨC

Nếp nhà xưa cũ trong Về nơi nguồn cội của nhà văn Đới Xuân Việt

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-24 09:22:23
mail facebook google pos stwis
1257 lượt xem

TRƯƠNG NAM HƯƠNG

Cuốn sách "Về nơi nguồn cội" kể về dòng họ nội, họ ngoại của nhà văn Đới Xuân Việt. Tác phẩm phản ánh gần như bức tranh toàn cảnh của gia tộc tác giả những năm đầu thế kỷ trước cho đến khi đất nước độc lập, giang sơn thu về một mối, qua đó ghi nhận những đóng góp của các vị đức cao vọng trọng trong dòng tộc cho xã hội và cho dòng họ.
 


Nhà văn, đạo diễn Đới Xuân Việt.

Tác phẩm còn nhắc nhở chúng ta công lao của các bậc tiền nhân trong việc khai sơn phá thạch, đã xây dựng và để lại cho chúng ta giang sơn gấm vóc như ngày nay.

Tôi đặc biệt ấn tượng với những hồi ức của tác giả về những bậc tiên tổ trong dòng họ. Ông nội tác giả, một thầy đồ Nho hay chữ, một lang y bốc thuốc chữa bệnh cứu người có tiếng ở vùng Quảng Xương - Thanh Hóa. Cụ có lòng yêu thương con cháu đặc biệt. "Năm nào ông cũng nấu cao ban long bồi dưỡng cho người đau yếu. Sáng ra, ông thường cho người nấu một nồi cháo với củ hoàng tinh rồi cho cao ban long đã thái hạt lựu vào bát cháo cho các cháu ăn trước khi đi học". Cụ dạy bảo con cháu rất cẩn thận, tỉ mỉ từ nếp ăn, nếp ở đến công việc nhà nông, giáo dục con cháu sống có đức độ, sống tốt, sống có trên, có dưới. Đặc biệt, cụ luôn bảo ban con cháu phải biết giữ gìn của cải, sống tiết kiệm, tránh xa cờ bạc, rượu chè bê tha. Cụ luôn ý thức về dòng họ, chăm lo các điều kiện cho con cháu làm ăn, lập nghiệp, giao trách nhiệm cho người đi trước giúp đỡ người đi sau làm cho dòng họ ngày càng phương trưởng. Cụ như cây đại thụ xum xuê chở che cho con cháu.

Cùng với ông nội, bà nội của tác giả cũng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Cụ bà là người phụ nữ Việt Nam điển hình cần cù, chăm chỉ, lo toan việc nhà và thương yêu con cháu. Cả một đời lao động vất vả, hầu như ngày nào cũng có mặt ở vườn trước, vườn sau, trồng đủ loại rau mùa nào thức ấy, tự cung cấp rau quả cho bữa ăn gia đình. Cả đời bà làm việc lam lũ, đến già lưng cụ còng xuống nhưng không lúc nào rời mắt khỏi con cháu. "Nhà tôi ở phía trước nhà ông bà. Bà tôi đã ngoài bảy mươi tuổi, mỗi lần sang nhà tôi đều phải chống gậy. Ấy vậy mà ngày nào bà cũng sang thăm một, hai lần. Lúc thì mang cho rổ rau, rổ khoai lang, lúc thì dăm bơ lạc, bơ vừng. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in hình ảnh bà lưng còng, mặc váy đen, áo nâu sồng, da nhăn nheo chống gậy lững thững sang nhà tôi mà thương bà vô hạn".

Khi nhìn sang bên họ ngoại của tác giả, ta được chiêm ngưỡng một dòng họ trâm anh thế phiệt. Là hậu duệ của vị vua có nhiều con nhất Việt Nam - Vua Minh Mạng, ông ngoại của tác giả, cụ Công Tôn Ưng Dinh là tấm gương sáng về rèn luyện, học tập, phấn đấu tu dưỡng đạt được các kết quả đáng mơ ước trên con đường công danh sự nghiệp. Là một thượng thư, tổng đốc tỉnh Thanh Hóa, một tỉnh có diện tích lớn vào bậc nhất Việt Nam, ngoài việc làm tròn bổn phận của một quan đầu tỉnh, cụ còn có công khai khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp, xây dựng hệ thống cống dẫn thủy nhập điền góp phần biến một vùng đất hoang hóa, sình lầy rộng lớn thành đồng ruộng.

Là một vị quan to nhưng cụ không nề hà việc nhà nông chân lấm tay bùn. Cụ vẫn xắn quần đi cày bừa, nhổ mạ, làm quần quật ngoài đồng không kể nắng mưa, lao động cần cù chăm chỉ như một nông dân thực thụ. Ngoài bảy mươi tuổi, cụ vẫn chống ba-toong ra đồng kiểm tra lúa má, nước nôi. Cụ có một tình yêu đặc biệt đối với đất đai và cây lúa.


Bìa sách của nhà văn Đới Xuân Việt.

Cụ ngoại của nhà văn cũng sống rất tiết kiệm, không xa hoa lãng phí. Ra ngoài chỉ đội khăn xếp, áo the thân dài. Đi tàu hỏa chỉ lựa hạng 3. Bữa cơm thường nhật đạm bạc với canh cá kình, cá bống kho khô… Cụ cũng rất quan tâm đến việc giáo dục con cái, rất trân trọng, khuyến khích từng thành quả học vấn nhỏ nhoi của con cháu… Các bậc tiên tổ trong dòng họ của tác giả đều có lối sống giản dị, tiết kiệm, yêu thương con cháu hết mực và chăm lo đến sự nghiệp của con cháu. Đó chính là cái gốc đạo đức của các dòng họ Việt Nam, góp phần vào việc ổn định và phát triển xã hội từ đời này qua đời khác.

Cuốn sách cũng đề cập những vấn đề nhạy cảm, thường rất khó truyền tải suôn sẻ. Song, với giọng văn chân thật và trân trọng, những vấn đề gai góc bỗng trở nên đơn giản, dễ chấp nhận. Trong truyện, có những đoạn đời, phần đời gắn với những sự kiện lớn của đất nước, ví dụ cách mạng ruộng đất ở nông thôn miền Bắc những năm năm mươi của thế kỷ trước, tác giả đã kể cho ta biết những câu chuyện đau lòng, cười ra nước mắt nhưng không đi sâu vào nỗi đau quá khứ mà chủ yếu phản ánh những con người, những số phận chịu nhiều thiệt thòi, mất mát đã đứng dậy ra sao, đã phấn đấu ra sao cho một cuộc sống bình yên và tốt đẹp hơn. Những đau khổ, đắng cay của cuộc đời đã không đẩy họ đến những hành động tiêu cực. Họ vẫn phấn đấu hướng đến những điều tốt đẹp, tiếp tục có những đóng góp tích cực cho xã hội, cho đất nước. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, con cháu của nhiều địa chủ trong dòng họ của tác giả đã đi bộ đội chiến đấu ở các chiến trường và đã hoàn thành nhiệm vụ của người lính. Tác giả luôn có xu hướng nghiêng về tính tích cực của các sự kiện. Cuốn sách đề cao truyền thống quý báu của dòng họ, niềm tự hào cho con cháu noi theo. Nó cũng là nguồn động lực tiếp sức cho các thế hệ sau phấn đấu và vươn lên.

Truyện còn kể về một người bà con của tác giả, một ông Cai Tổng trong chính quyền của thực dân Pháp, một đại địa chủ lại là người giác ngộ tham gia cách mạng ngay từ khi Đảng mới thành lập. Ngôi nhà của ông là nơi thành lập và hoạt động của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của vùng phía Nam huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, đã được công nhận là di tích cách mạng cấp tỉnh.

Nhiều tấm gương sáng của các bậc tiền bối trong dòng họ của tác giả mang tính khái quát, đại diện cho những đức tính tốt của các bậc tiên tổ trong các dòng họ ở Việt Nam. Ví dụ, truyền thống hiếu học, tính cần cù lao động, sống tiết kiệm, tích cóp tiền của xây dựng cơ nghiệp để lại cho con cháu. Hoặc lòng yêu nước, thương nòi thì ở dòng họ nào cũng có. Và ta có cảm giác, dường như số phận của dòng họ gắn liền với sự thăng trầm của đất nước.

Hướng về cội nguồn là tâm tưởng của người Việt từ bao đời nay. Điều này được thể hiện qua các ngày giỗ chạp. Giỗ ông bà, giỗ cha mẹ. Giỗ quốc Tổ Hùng Vương…  Cũng từ đó, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được gìn giữ và phát huy từ đời này sang đời khác. Đó là truyền thống rất quý báu của dân tộc ta.

"Về nơi nguồn cội" là một thiên truyện ký, một truyện dài về dòng họ đã trải qua hơn một thế kỷ từ khi đất nước còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ cho đến khi hoàn toàn được độc lập. Bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu khổ hạnh và sung sướng tưới đẫm số phận các nhân vật, đem lại cho chúng ta những cảm xúc nhiều chiều. Tác phẩm, với các chi tiết, sự kiện phong phú, ngồn ngộn trải ra trước mắt người đọc, khiến cuốn sách, dù là ở thể hồi ký, nhưng đọc rất hấp dẫn, không khô khan, đơn điệu. Đã 70 năm trôi qua, nhưng nhiều sự kiện, sự việc vẫn rõ mồn một, hiển hiện trên từng trang sách. Hy vọng cuốn sách sẽ đem đến cho bạn đọc niềm tự hào về dòng họ, về ông cha với một tình yêu và lòng kính trọng dành cho các bậc tiên tổ.

Tháng 5/2024

Một vài hình ảnh nhà văn Đới Xuân Việt và bạn bè tại TP. Hồ Chí Minh
 
Từ trái: Đới Xuân Việt, Trần Mạnh Hảo, Nguyên Hùng và Trương Nam Hương
 

 
Từ trái: Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Bùi Quang Lâm, Đới Xuân Việt, Nguyên Hùng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm