TIN TỨC

Người giữ lại những vần thơ người nhất

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-10 07:33:51
mail facebook google pos stwis
2234 lượt xem

LÊ VĂN VỴ

Sinh ra bên dòng sông Ngàn Phố, huyện miền núi Hương Sơn, nhưng tuổi thơ Tuấn theo bố ra thành phố. Bố Tuấn, nhà báo Đinh Nho Liêm - TBT báo Nghệ Tĩnh và là nhà thơ với bút danh Minh Nho có nhiều đóng góp cho Thơ ca, báo chí Cánh mạng.


4 trong 5 tập thơ đã xuất bản của nhà thơ
Đinh Nho Tuấn

Tốt nghiệp THPT, Tuấn theo học Khoa Luật, Trường ĐH Tổng hợp quốc gia Odessa (1986-1991). Tháng 9/1993-9/1996, Tuấn là nghiên cứu sinh tại Trung tâm nghiên cứu quan hệ quốc tế kinh tế, chính trị, Học viện hàn lâm khoa học Moscow, Liên bang Nga và tiếp tục làm việc tại thành phố Moscow, Liên bang Nga 3 năm. Tháng 9/1999, Tuấn về TP Hồ Chí Minh, làm việc tại Khoa Luật quốc tế Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh. Hai năm sau (2001), Tuấn trở lại LB Nga. Từ tháng 9/2003 đến nay Tuấn sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay, Tuấn là hội viên chuyên ngành Thơ, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Những tác phẩm đã xuất bản: “Em hãy cho anh vội” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2018); “Em tôi” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2019); “Díu dan với núi sông” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2020); “Ngàn tiếng đời ấp ủ” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2022). GS Phong Lê trong “Lời bạt” cho tập thơ ”Em hãy cho anh vội” nhận xét: “Tuấn đã tạo được một thế giới nghệ thuật riêng, đối với tôi là rất ấn tượng ở hồn thơ, giọng thơ không giống, không lẫn với bất cứ ai trong đội ngũ làm thơ hôm nay…”.

Năm 2022, Đinh Nho Tuấn được Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh tặng thưởng thơ.

Thật có lý khi nói rằng: Không phải Tuấn làm thơ mà thơ lựa chọn Tuấn để trao bút.  “Ngàn tiếng đời ấp ủ” bấy lâu nay đã tuôn trào cảm xúc, thăng hoa, gọi về lớp lớp sóng ngôn từ để cho ra đời 332 bài thơ với 4 tập thơ xuất hiện dày đặc chỉ trong 5 năm. Trong bài thơ “Xứ Nghệ”, Đinh Nho Tuấn đã phân thân nhập vai nhân vật trữ tình lạ lẫm và ngạc nhiên khi “xúc thơ từng đọi” :/ Anh ơi, chơ răng mà anh xúc thơ từng đọi/ Đổ xuống mùa em say cả ánh trăng rằm!/. Người thơ như người nông dân, “xúc… thơ” dễ dàng như người nông dân xúc lúa gạo.  Tuấn hồn nhiên làm thơ. “Những vần thơ cào xé” từ gan ruột máu thịt. Dấu vết tham dự của kỹ thuật cấu trúc bài thơ cũng như tổ chức khổ, câu dòng thơ không lộ diện. Hình như những câu thơ hồn nhiên tuôn chảy theo cảm xúc và khi nào cảm xúc không còn tuôn trào, bài thơ kết thúc. Do vậy, dòng, câu trong thơ Tuấn chủ yếu là vài chục câu trở lên, thậm chí có những bài trên 100 câu, như “Tổ quốc và tôi” 128 câu thơ và “Lễ cưới vui vẻ” 252 câu thơ. Điều đáng nói là những bài thơ trường thiên của Tuấn từ câu đầu tiên đến câu kết thúc vẫn tràn trề cảm xúc, không gây nên sự hụt hững trong lòng độc giả. Không có nội lực thơ mạnh mẽ, không thể tạo nên được thế giới thơ đa dạng, sinh động hấp dẫn!

Mặt khác, với Tuấn thơ là tinh lọc, làm thơ là “vót thơ”, viết những câu thơ bạc đầu” và “những câu thơ thít cổ ta rồi” không hề dễ dãi!

Những sóng thơ ào ạt tuôn chảy tràn ra những quy phạm, những khuôn mẫu tìm đến thể thơ trữ tình điệu nói tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau, nhịp điệu biến hóa mang hơi thở nhịp điệu của đời sống hiện sinh. Có một xứ Nghệ làm nên dòng chảy sông thơ Đinh Nho Tuấn. Dòng sông đó bắt nguồn từ Ngàn Phố, Ngàn Sâu chảy qua sông La, sông Lam, soi bóng Hồng Lĩnh, uốn lượn giữa những xóm làng trù mật, giữa đôi bờ ví dặm, ca trù mà nên duyên câu Kiều, lục bát, chảy mãi đến vô cùng, vô tận…

Quê Tuấn nằm bên tả ngạn sông Ngàn Phố, hạ Hương Sơn, vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Nhưng từ nhỏ, Tuấn theo cha ra rời làng ra phố. Tốt nghiệp THPT, Tuấn xa xứ, tu nghiệp ở Liên xô (cũ), trở về nước lập nghiệp ở TP Hồ Chí Minh, nên Tuấn cõng quê hương, xứ sở và mang hồn cốt quê hương suốt với hành trình. Do vậy, xứ Nghệ, quê hương là không gian ký ức, sâu đậm, ám ảnh, sống động với những đối nghịch: vừa hùng vĩ vừa hiểm trở; vừa thơ mộng vừa khắc nghiệt; vừa tĩnh, vừa động; vừa tồn tại vừa phát triển; vừa mất vừa còn vừa khoảnh khắc vừa vĩnh cửu; vừa đi qua chiến tranh, tang tóc, hòa bình đã đến nhưng hạnh phúc còn là một hành trình…Ở đấy, núi Hồng sông La, Tam Soa, Giang Đình vv… không chỉ là địa danh thiên nhiên mà còn là tâm thức văn hóa, tâm linh, là thơ ca nhạc họa được sinh ra, nuôi dưỡng bởi con người: /Núi làm cha/Đất làm mẹ/Cha mẹ sinh ra dòng sông con người/(Quê hương).

Có một Hồng Lĩnh rất khác biệt trong thơ Tuấn:/Hồng Lĩnh chôn chân không trốn chạy/Núi nhấp nhô đánh võng trú bên trời/(Quê hương) và xứ sở “chảo lửa túi mưa”,  nắng nóng: “ hững con đường khạc lửa”; “bão chồng bão, lũ chồng lũ” hiện lên ám ảnh trong thơ Tuấn: /Những con sông không uống dùm hết nước/Thương sông Lam chết đuối cả trong vườn/ (Quê hương - Díu dan với núi sông).

Trong sự biến thiên của lịch sử, vô thủy, vô chung của thời gian, QUÊ với Tuấn là LÀNG; LÀNG QUÊ, chứa đựng biết bao vỉa tầng văn hóa; là cõi đi về, vừa cố hữu vừa thay đổi với số phận gắn chặt với số phận con người. Những con người xứ Nghệ mang những tính cách đối nghịch, ranh giới thật mong manh giữa cách tân và bảo thủ; anh hùng và ương gàn; quyết liệt và liều lĩnh; lạnh lùng và nồng ấm; hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa tinh tế nhận xét: ”Đặc sắc của xứ Nghệ là người Nghệ. Đặc sản xứ Nghệ cũng là người Nghệ. Tôi và anh trai; nhà thơ Trần Nhuận Minh, mỗi lần đi qua cầu Bến Thủy bao giờ cũng ngã mũ, vì bên kia sừng sững 99 ngọn Hồng Lĩnh, là thông Ngàn Hống với những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…”.

Trong thơ Đinh Nho Tuấn có người Nghệ ở lại và người Nghệ ra đi. Người Nghệ ở lại không chỉ là những người thân yêu, ruột thịt: ông, bà, cha mẹ, chị em, con cháu mà còn là những người vô danh, những người đã khuất linh hồn họ hóa vào làng quê, đồng ruộng, sông núi.  Những người nhà quê đối mặt với chiến tranh, tang tóc, với bão lũ, với thiên nhiên nghiệt ngã, với nghèo đói và trong họ ánh lên những vẻ đẹp kiên trì, bền bỉ, ân tình, ân nghĩa, chịu thương, chịu khó, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng chưa bao giờ nguôi tắt ngọn lửa của khát vọng. Họ là nguồn cội, hồn cốt, khát vọng của quê hương. Nỗi nhớ của Tuấn về họ thật là khác biệt:

Có nỗi nhớ đè ta như hòn đá

Dằn lên ta trong vại nhút người ơi!

(Quê hương)

Nỗi nhớ sâu nặng ấy đã giúp Tuấn viết được những câu thơ hay rất thân phận. Đây là hình ảnh “Giữa trưa hè cha tôi bổ củi”: /Bổ xuống nhấc lên lưỡi rìu bóng loáng/ Đời cha tôi sét rỉ dưới lưỡi rìu/. Còn đây là thân phận chị tôi lấy chồng: “duyên tình trà trộn”, “ ép giày vẹt mòn” “lí lắc rơi”:/ Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ/ Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng/ (Chị tôi) mà nổi da gà, sởn ốc, lạnh gáy trước nỗi bất hạnh của người phụ nữ mỏng duyên ở làng quê!

Nhưng có lẽ Tuấn đã dành những vần thơ ám ảnh cho những người nông dân, và những người tri thức ở làng quê. Những người “phận người như lá chuối”, “xanh như da bưởi”, “mười ngón tay” tua tủa ngọn khoai:

Đội mưa nắng cả khi ở trong nhà

Củ khoai quả cà làm nên vóc dáng

(Quê hương)

Những người“dân thường”, thân phận “con ong cái kiến”, là hạt cát bãi sông, khoai sắn ngoài đồng, bầu bí rau cà ngoài vườn, chắt chiu, lam lũ, cần mẫn, chịu thương chịu khó, ân tình, ân nghĩa, nhưng khi giặc ngoại xâm đến xâm phạm bờ cõi mang sức mạnh khác thường của lòng yêu nước: /Gộp cốt xương cao hơn Trường Sơn/ Gộp máu đào chảy tràn hơn sông Hồng mùa lũ/Gộp đau thương quằn lên lịch sử/ để cho: “Bốn ngàn năm đứng thẳng trường tồn”. Người nông dân Nghệ tằn tiện chắt lót nhằm“hy sinh đời bố, củng cố đời con”như một lẽ sống. Bài thơ “Quà quê” kể chuyện đứa cháu từ quê, khăn gói, mang theo can rượu, bịch kẹo cu đơ vào Sài Gòn thăm dượng với khao khát:/Bỏ nhà đi vào dượng/ Tìm mưu kế sinh nhai/ Quyết cứu mấy đứa nhỏ/ Không như bố sau này/, mặc dầu làng quê giờ đã nông thôn mới, nhưng thân phận của người nông dân vẫn quăng quật bươn chải, lăn lóc sang Lào “buôn gỗ”, “nấu rượu cả ngày”, chăn  vịt: ”Lơ thơ mấy lều hoang”mà vẫn không thoát nghèo. Đinh Nho Tuấn đã nhìn thẳng sự thật, có những phản biện bằng thơ đáng suy ngẫm. Bài thơ kết lại hình ảnh hai dượng cháu thưởng thức “Quà quê” đơn giản mà rưng rưng xúc động bởi ân tình, ân nghĩa của người nhà quê: /Cu đơ thơm mùi mía/ Hạt lạc đồng sơn khê/ Bánh tráng giòn hơn pháo/ Tròn trịa vành trăng quê/.

Những người tri thức xứ Nghệ là niềm tự hào của non nước Hồng Lam. Những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu, Huy Cận…đó là những thi sĩ đã dọn những bữa tiệc thi ca không chỉ cho các thế hệ người Việt mà còn của nhân loại. Trong thơ Tuấn, hình ảnh những ông giáo “đồ gàn xứ Nghệ” đã truyền cảm hứng cho bao thế hệ học sinh:

Bút nghiên lặng thầm ngàn sâu dâu bể

Quê hương lặng thầm, phấn bảng hát ru

(Mái tóc thu đổ- Em tôi)

Những thế hệ học sinh, bạn bè của Tuấn “dùi mài kinh sử”, “học gạo” để mong mỏi “kiếm cần câu cơm”. Những vần thơ hồi ức về bạn bè một thuở đã vượt lên đói nghèo vật chất, cơm áo gạo tiền để nuôi giấc mộng đèn sách, ôm chí lớn thành người.

Rau dưa là cái bút nghiên

Còn thêm gia vị đã nghiền thơ ra

Mắm tôm là cái dân ca

Còn thêm trái ớt ấy là tản văn

(Uống ta - Em tôi)

Mảng thơ viết về người xứ Nghệ ra đi trong hành trình hội nhập với đất nước nhân dân là mảng thành công của Tuấn. Không chỉ thời đèn sách mà sau này lập thân, lập nghiệp, Tuấn vẫn bôn ba xứ người. Vì vậy, bao nhiêu tính cách, hồn cốt người Nghệ được thể hiện ở hình tượng nhân vật trữ tình với muôn vàn sắc điệu khác nhau mà chẳng thể nào lẫn được. “Người Nghệ” là bài thơ tự do thành công của Tuấn. Với giọng điệu trữ tình điệu nói, ngôn ngữ đặc Nghệ, hìnhảnh câu chữ từng vỉa, từng tảng như khắc như chạm, ngòi bút của Tuấn đã “cá biệt hóa” tính cách Nghệ. Người Nghệ có mặt khắp nơi, gặp người Nghệ không bình thường mà khác thường “húc” vào người Nghệ, như trâu bò “húc” vào nhau. Tính cách Nghệ khác thường “Ăn”, “Nói”, “Làm”, “Yêu” đều “phăm phăm” như ngựa tung bờm, trên hành trình bất chấp mọi trở lực. Điệp từ, điệp cấu trúc, nhịp thơ dứt khoát câu thơ ngắn gọn, như “đinh đóng cột” khẳng định tính cách khác biệt của người Nghệ. Đinh Nho Tuấn đã quan sát tinh tế từng hànhđộng, điệu bộ, cử chỉ và pha chút tếu táo bằng những hìnhảnh phóng đại: /bắt tay ngỡ bẻ xương/ cười đôi khi ướt bạn/ bộc lộ ranh giới giữa bên này là thẳng thắn chân tình bên kia là thô vụng. Tính cách Nghệ “làm hết ga, chơi tới bến, yêu tận cùng”/ Yêu chi yêu dập yêu vùi/ Ghét chi phang thẳng đến đui, đến què/. Nhưng cá biệt đến mức “xả láng”: / Hết tiền tiêu cắm cả thơ Xuân Diệu/ Ngày xông xênh giở Huy Cận làm mồi/ thì trên trái đất này không  có ở mô có giống người như người Nghệ. Thú thực tôi khoái nhất 4 câu thơ sau của Tuấn: /Vác ví dặm/ Ngâm bốn phương/ Cõng nàng Kiều/ Đi tán gái/ nhìn bề ngoài hình ảnh câu chữ có gì đó thô kệch của gã đàn ông hám gái nhưng lắng lại, ngẫm kỹ không tầm thường chút nào, bởi Kiều “nghiêng nước nghiêng thành”, tài đàn, tài thơ, trung hiếu vẹn toàn “mười phân vẹn mười ” thì “cõng Kiều đi tán gái” không phải là người thường rồi. Điều này được xác tín bởi sinh thời, Nguyễn Du về ở ẩn ở Tiên Điền đã cùng bè bạn “xăm xăm đè nẻo” Trường Lưu, Can Lộc, hát ví với thập nhị mỹ nhân phường vải Trường Lưu đó sao?

Trong hành trình hội nhập với đất nước, nhân dân với nhân loại, Đinh Nho Tuấn đã hun đúc tình yêu đất nước, quê hương, nhất là trước những biến cố ở biển Đông hay Coovid 19, “ăng ten thơ” Đinh Nho Tuấn nhạy bén đập nhịp đập cùng đất nước, thời đại. Tuấn đã viết “những vần thơ cào xé” “Những hòn đảo Tổ quốc” -   “Ngàn tiếng đời ấp ủ”:

Nếu biết đi, những hòn đảo quê hương

Sẽ hội nghị Diên Hồng trên biển rộng

Tuấn trưởng thành và tình yêu đất nước trong Tuấn lý trí, thẳm sâu, gắn liền với trách nhiệm công dân.

Tuấn đã phát triển đến đỉnh cao hồn cốt Nghệ và trên hành trình tận cùng bản sắc dân tộc, Tuấn gặp nhân loại. Cũng như vậy, soi vào nhân loại vào các dân tộc khác, Tuấn đã thức dậy, bổ sung làm giàu có bản sắc văn hóa Nghệ. Chỉ cần một âm thanh, một hình ảnh về quê hương đã đánh thức trong Tuấn cả nỗi nhớ vô tận. Tôi muốn dừng lại ở bài “Khói rơm”. Một bài thơ 5 chữ phảng phất giặm vè xứ Nghệ. Trong 74 bài thơ 5 chữ, “Quà quê” và “Khói rơm” là 2 tác phẩm đặc sắc. Nếu quà quê thân phận, thì “Khói rơm” bay bổng, tràn đầy chất thi sĩ. Những làn khói đốt rơm rạ bay là là vào thành phố, đã khơi dậy biết bao ký ức về làng quê. Tôi yêu vô cùng bức tranh quê mà Tuấn vẽ ra trong ký ức: // Ô hay trong sương khói/ Thấy đàn trâu ra đồng/ Con đê lười nằm nghỉ/ Tiếng sáo diều thinh không// Ô hay trong sương khói/ Mẹ nhen lửa lá ngô/ Nước chè lên xanh ngắt/ Con giếc quẫy mặt hồ// Ô hay, trong sương khói/ Ễnh ương rúc tù và/ Nỉ non buồn lũ dế/ Rô đồng vẫy đuôi xa//

Chính bản sắc văn hóa đã giúp Tuấn hòa nhập chứ không hòa tan. Những năm tháng học ở Liên Xô (cũ), Tuấn đã mang văn hóa Hồng La hòa nhập với văn hóa Slavơ. Có một chi tiết thú vị là người yêu và sau này là người bạn đời của Tuấn có tên Việt là Lê Nghiêm và tên Nga là Lê Na. Lê Nghiêm - Lê Na với trái tim thắp lửa đã sưởi ấm tâm hồn Tuấn đi qua mùa đông tuyết trắng, băng giá xứ người.

Tuấn ao ước, con cò ca dao, dân ca nước Việt thân yêu sẽ sải cánh cùng “Đàn sếu” thơ Rasul Gamzatov. Không phải con cò thơ nào cũng cùng hành trình với đàn sếu thi ca Nga. Nhưng có những con cò trắng thơ Đinh Nho Tuấn đã hòa nhập với “Đàn sếu” thơ ca Nga. Không vui sao được!?

Hà Tĩnh 11/6/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm