TIN TỨC

Nguyễn Bính Hồng Cầu tháng ngày nắm buộc chân mây cuối trời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-18 12:42:53
mail facebook google pos stwis
1568 lượt xem

TRẦN MAI HƯỜNG

“Hạt cỏ lông chông” là tác phẩm thứ 7 của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu. Lấy tên một loài hoa ở miền gió cát khắc nghiệt vẫn sắt son, mãnh liệt sống làm tên tác phẩm, chị đã gửi gắm bao nhiêu trăn trở cuộc đời vào từng ký tự. Với 36 bài thơ như 36 ga đời không ga xép. Mỗi ga khai mở một gương mặt riêng, rất riêng...

Tháng ngày nắm buộc chân mây cuối trời, trong rất nhiều câu thơ hay của chị, câu này cứ ám ảnh tôi. Chị, một người đàn bà làm thơ viết văn. Không như nhiều nữ nhà văn khác, gánh trên vai sứ mệnh văn chương từ cái tên mà người cha thương yêu, thi sĩ Nguyễn Bính đặt với bao kỳ vọng. Đi tiếp con đường chữ nghĩa, theo gót lãng du của cha, can trường, lặng lẽ, tài hoa và cô độc.

Chạm vào bài đầu tiên, những dòng thơ ám gợi thăm thẳm, đau đáu và đầy trách nhiệm với Tổ quốc. Mượn ta để nói về nhân sinh, tâm sự với mình mà con chữ bời bời thổn thức: Nghiêng ngửa sơn hà/ máu xương hòa nước mắt/ cột mốc biên cương/ chòng chành sóng dữ/ một trăm năm/ một ngàn năm/ vẽ vời ký tự/ văn bản nào/ thoát kiếp vong nô?/ Ta mù khơi giông gió tơi bời/ đối diện biển đêm tứ bề dựng sóng/ con đường nào ta đi bến bờ nào ta đến/ Tổ Quốc trong ta lặng tiếng thở dài...

Khúc ngày xanh như khúc xạ đời, lênh loang ngày xưa, những cột mốc đời chất chứa cả ngạ quỷ thiên đường. Ẩn mình vào phận cỏ lông chông, vẫn là những nỗi đau và buồn phản diện nhau giằng xé nhau, bằng nổi chìm phận sóng, bằng vọng âm của khúc cầm xưa day dứt: Cỏ Giêng Hai vẫn xanh thời con gái/ thuở chúng mình hai đứa bộn bề nhau/ sông bao năm đổi thay dòng chảy/ căn cớ gì ta phủi sạch trầu cau?

Vẫn mênh mang trong mỹ cảm ngôn từ: “Giữa hai bờ mê thức/ ban mai cuồng phong/ hoàng hôn cuộn sóng/ Con tàu tôi lao về phía không không. Phía không không ấy là phía dại khôn lẫn lộn, vô thức và vô minh. Trong bầu khí quyển của cảm xúc, chị đã thành công khi đọc đúng mình: Tôi dại khôn/ nửa người nửa ngợm/ vô thức vô minh/ đảo điên mộng tưởng/ xòe bàn tay níu giữ mây trời...

Trong tầng tầng lớp lớp cô đơn của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, sự hợp hôn của hoàng hôn với ban mai để có những vần thơ như dứt máu. Trong dằng dặc đêm không ấy là những nỗi đau huyễn hoặc đến tận cùng và nồng hương thân phận. Những mảnh vỡ của đêm cứ nhấn sâu nhấn sâu vào tim người. Cầm cố nụ cười mà buôn nước mắt, ấy là bản tính của người tài nữ: “Người đi nát những đam mê/ đêm gom hết nhớ ngày lê thê buồn/ Gầy tay níu giữ cánh chuồn/ Trăng Giêng quá lứa chiều buông quá mùa/ Nghiêng trời nắng hạn chờ mưa/ Em như cổ tích khuôn vừa chiêm bao/ Giấc nồng trốn biệt nơi nao/ Đêm giăng lưới nhớ chênh chao sóng ngày/ .../ Đành tôi cầm cố nụ cười/ Mà buôn nước mắt khóc người ngày xưa...”, “Đêm vỡ vụn/ mắt cay xè giằng níu/ Hai đầu đêm giấc nhớ dậy thì/ Miếng trầu tươi nợ nần cau quá lứa/ Treo ngược đời nhau gút thắt cuộc luân thường...”.

Trong bài viết về ông lão mù hành khất, những câu thơ ngắt dòng như những giọt buồn giữa trời đông giá, giữa ấm lạnh tình người. Tiếng sáo chơi vơi, mong manh không cất nổi phận người: Tiếng sáo mưu sinh/ của ông lão mù hành khất/ chết nghẽn giữa tầng không/ lọt thỏm xuống lòng đường/ ông lão ngồi lặng câm/ giữa chiều xuân/ hoàng hôn/ hóa đá.../ chút nhân tình/ buốt giá bàn tay...

Đi quá nửa đời người, trôi trong dòng cảm thức, vũ trụ riêng của chị là thơ, kết tinh từ những cảm xúc dị biệt của người cầm bút. Nỗi buồn đậm đặc và đầy tính triết luận. Gánh cả nỗi đau nhân tình thế thái và nỗi đau mình. Thơ chị sáng tạo và ẩn khuất. Cái ẩn khuất trừu tượng và duy lý: “Ta gom nhặt những khóc cười thiên hạ/ hong nóng mình/ sỏi đá chiều buông...”, “Gót thời gian vô tư nhảy nhót/ ngày đêm/ rượt đuổi nhau/ chơi trò cút bắt/ nhật nguyệt trốn tìm/ trăng sao mê đắm/ ta và người/ từng nhau chồng vợ/ ly rượu giao bôi ngọt đắng một đời/ tựa vào miền xưa để được mình mầm nụ/ khát nhớ ngày xanh ngọn lửa cháy qua mùa...”

Mạch suy tư của một nhà thơ từng trải đã gợi lên bao day dứt, tự vấn về sự hy sinh mất mát. Còn bao phận người không được bù đắp sự hy sinh cùng những đau thương trong kiếp sống: “Vòng thời gian quay ngược mùa tang tóc/ giọt chiều rơi đắng đót cõi hương hoa/ đốm lửa tàn nhang lạnh cong dấu hỏi/ tượng mẹ anh hùng nước mắt chảy về đâu”.

Hướng về cõi tâm linh xa xăm vời vợi, câu thơ là một dấu hỏi xoáy sâu vào tâm khảm người đang sống. Đức tin cần sự thành tâm, sự thành tâm cũng cần được thể hiện bởi những tấm lòng cùng với tri ngộ về cuộc sống, về tất yếu hiển linh trong thế giới đa tầng: Lấp lánh vàng sao/ đính trên đầu mộ chí/ Tổ quốc ghi công/ đền đài chất ngất/ có thật ấm lòng/ hai cõi âm dương?

Chị đã mang những vần thơ từ cõi thực tiệm cận với cõi hư không đầy suy tưởng trọng nghĩa, nặng tình. Sức mạnh của tâm thế thi ca hòa quyện cùng tâm linh đã trao cho chị một tình yêu đầy tỉnh thức, đầy bản lĩnh với cuộc sống đang hiện hữu hàng ngày: “Thánh giá gục đầu/ tử nạn/ Phật hồi sinh/ cứu rỗi dân gian/ ghì đất nước/ trong vòng tay/ không tưởng/ phận mỏng dân đen/ mặt trời chết đứng/ tôi hỗn mang/ băng giá tật nguyền”…

Không chỉ nỗi vương vấn đời thường mà đã là nỗi trăn trở trong hồn cốt về một lẽ sống, về con đường phía trước cần lựa chọn. Cũng không chỉ cho riêng mình mà chính là nỗi trăn trở cho quê hương đất nước của bản ngã chân nhân. Nhà thơ đã chọn cách tiếp cận trong tâm thế “lực bất tòng tâm” nhưng với tình yêu Tổ quốc tận lòng. “Cao ốc bồng bềnh/ trời xanh mây trắng/ tầng kê tầng kế tiếp chon von/ chồng lấp mảng bê tông/ đẵm máu xương người thợ/ Nỗi oan khiên buốt đau lòng mẹ/ vợ mất chồng gia đình xé lẻ/ con mất cha côi cút phận nghèo/ canh bạc đời sấp ngửa nông sâu”…

Cảm thương những phận đời, phận người, từ bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, nhà thơ thể hiện một tình thương yêu con người khi mạng sống người lao động bị coi rẻ. Để rồi điều cao cả luôn được nhà thơ khẳng định: “Ta hạt cát nhỏ nhoi/ trong miên man miền cát/ khao khát mặt trời/ ao sâu đầm nước mắt/ bồng bế nụ cười/ băng qua miền bất hạnh/ lấp lánh phận người/ phận mình/ số phận nhân dân”.

Đó là số phận của mỗi con người cần luôn được trân trọng. Đó là quyền tự do được sống, được mưu cầu hạnh phúc chính đáng chứ không phải là những phận người bập bềnh trong may rủi được thua hoặc trở thành những quân cờ trong tay kẻ khác.

Với thơ lục bát, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu có khúc trầm sâu lắng: Từ tôi cánh gió phập phồng/ Ru mình mắt bão chiều đông đắm đò/ .../ Tôi như kẻ đã phải bùa/ Nát tình mấy bận chưa chừa cuộc yêu.

Đâu chỉ là cuộc yêu đôi lứa mà mãi đã là cuộc yêu nhân thế mặc những chuyển dời, kệ những đổi thay. Trong cả tập thơ, chị đã dành lục bát cho tình yêu đôi lứa như một quy ước hay chính là duyên tiền định cõi xưa? Cho dù sự lựa chọn có chủ định hay ngẫu hứng thì đó cứ là sự “vận vào” của cơ duyên: Cầm xưa biệt khúc ru người/ Bóng thời gian đổ khóc cười bể dâu/ À ơi, con sóng bạc đầu/ Ru trăm năm đã từng nhau một thời.

Hạt cỏ lông chông” là một tập thơ trăn trở những tỉnh thức, vương vấn những phận đời cùng những chiêm nghiệm bứt lòng rút ruột từ sâu thẳm cõi tâm. Sự vượt trước thời thế của một tâm hồn nhạy bén, của sự kế thừa và sự từng trải, nữ sĩ Nguyễn Bính Hồng Cầu đã viết nên một bản tâm ca khắc khoải những nỗi niềm. Những câu hỏi mà lời giải đáp đang là chấm phá mông lung đầy suy ngẫm, với biên độ mở ẩn chứa khát khao về tương lai. Sự nặng lòng với đời đã mang đến cho thơ chị mạch nguồn lẽ sống cuồn cuộn bứt phá tầng sâu. Chị đã đi tới đích mà mình mong muốn bằng cả tình yêu thương và sứ mệnh được gửi trao.

Sài Gòn, tháng 3/2021

T.M.H (Nguồn: Báo Văn Nghệ).

Các nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu - Trần Mai Hường
tại một buổi sinh hoạt ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM

Các bạn văn tại Nhà lưu niệm Nguyễn Bính.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Trọng Tạo mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió
Hôm nay 12/6, Nhà lưu niệm nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (1947-2019) được khánh thành tại đội 6, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Xem thêm
Số phận các nhân vật nữ trong tập truyện ngắn “Đảo” của Nguyễn Ngọc Tư
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, là nhà văn, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2018, cô được trao Giải thưởng Văn học Liberaturpreis 2018 do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn, dựa trên việc xem xét các bản dịch tiếng Đức tác phẩm nổi bật của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu trong khu vực. Giải thưởng được trao hàng năm nhằm vinh danh các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và vùng Caribe.
Xem thêm
Lê Khánh Mai và hành trình nhà thơ nữ bứt phá
Nhà thơ, nhà văn Lê Khánh Mai đến nay (năm 2024) đã ấn hành 12 đầu sách, trong đó có 7 tập thơ, 1 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 chuyên luận văn học, 1 tập tiểu luận phê bình văn học, 1 tập tản văn và tuỳ bút. Sức sáng tạo ở một tác giả nữ như vậy là liên tục và rất mạnh mẽ. Thơ là thể loại chính của ngòi bút Lê Khánh Mai nhưng văn xuôi và lý luận, phê bình cũng đạt nhiều thành tựu. Tất cả làm nên tên tuổi của một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của tỉnh Khánh Hoà và của văn học Việt Nam hiện đại.
Xem thêm
Trần Đàm đi tìm một bản ngã
Đã ngoài tám mươi mà mỗi lần theo ông, cánh hậu sinh chúng tôi cách ông cả giáp vẫn thấy hụt hơi. Đúng là không nói ngoa cả khi leo dốc, đường trường lẫn khi viết lách, chơi bời.
Xem thêm
Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh
Giàu Dương Nếu triết học cổ điển đề cao bản chất và dấn thân vào việc tìm kiếm những định nghĩa về bản chất, thì trào lưu hiện sinh tập trung vào sự tồn tại của bản thể, lấy đó làm điểm khởi nguyên cho mọi sự phóng chiếu vào thực tại khách quan. Người xa lạ (L’Étranger) của Albert Camus ra đời như một dấu ấn sâu sắc của triết thuyết hiện sinh ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX. Là một triết gia, nhà văn tài hoa, Camus đã mở ra những cánh cửa để người đọc bước vào thế giới của “kẻ xa lạ” Meursault – một người đàn ông tự mình chọn lấy thế đứng bên lề của xã hội. Hành trình của Meursault không đi tìm một kết luận duy nhất của sự tồn tại mà chỉ trình bày sự tồn tại như nó vốn là.
Xem thêm
Một thế giới rất ‘đời’ trong sáng tác của Tản Đà
Nhà thơ, nhà báo Tản Đà (SN 1889), quê làng Khê Ngoại, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Xem thêm
Cây có cội, nước có nguồn
Nguồn: Báo Văn nghệ số 19/2024
Xem thêm
Khát vọng Dế Mèn
Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…
Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Thấy gì qua một chùm thơ Tết?
Bài viết của nhà văn Lê Thanh Huệ trên Diễn đàn Văn nghệ của Liên hiệp các Hội VHNT Việt nam
Xem thêm
Cảm xúc hoài hương trong thơ Quang Chuyền
Bài viết của nhà thơ Trần Khoái
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh với Dấu thời gian
Dấu thời gian là tập thơ thứ hai của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh. Ông hiện là Trưởng ban biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, kiêm Trưởng Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng.
Xem thêm
Khúc biến tấu “Mặt nạ hương”
 Đọc thơ, như là phép hóa thân, tan chảy cảm xúc của mình cùng cảm xúc bài thơ. Người đọc lắng lòng theo con chữ, hòa điệu với nhịp điệu của ngôn từ. Tôi may mắn tìm thấy sự đồng điệu đầy hứng thú khi đọc thơ Nguyễn Thánh Ngã.
Xem thêm
Chỉ còn lại tháng Tư thiếu nữ | Thơ và lời bình
Thơ Mai Nam Thắng - Bình thơ: Phạm Đình Ân
Xem thêm
Người trẻ thử sức với phê bình
Được biết “Những phức cảm phận người” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là tập phê bình văn học (PBVH) đầu tay của cây bút Lê Hương, nên tôi đọc với một tâm thế trân trọng và chờ đợi.
Xem thêm