TIN TỨC

Nguyễn Bính Hồng Cầu tháng ngày nắm buộc chân mây cuối trời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-19 06:09:01
mail facebook google pos stwis
2872 lượt xem

TRẦN MAI HƯỜNG

“Hạt cỏ lông chông” là tác phẩm thứ 7 của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu. Lấy tên một loài hoa ở miền gió cát khắc nghiệt vẫn sắt son, mãnh liệt sống làm tên tác phẩm, chị đã gửi gắm bao nhiêu trăn trở cuộc đời vào từng ký tự. Với 36 bài thơ như 36 ga đời không ga xép. Mỗi ga khai mở một gương mặt riêng, rất riêng...

Tháng ngày nắm buộc chân mây cuối trời, trong rất nhiều câu thơ hay của chị, câu này cứ ám ảnh tôi. Chị, một người đàn bà làm thơ viết văn. Không như nhiều nữ nhà văn khác, gánh trên vai sứ mệnh văn chương từ cái tên mà người cha thương yêu, thi sĩ Nguyễn Bính đặt với bao kỳ vọng. Đi tiếp con đường chữ nghĩa, theo gót lãng du của cha, can trường, lặng lẽ, tài hoa và cô độc.

Chạm vào bài đầu tiên, những dòng thơ ám gợi thăm thẳm, đau đáu và đầy trách nhiệm với Tổ quốc. Mượn ta để nói về nhân sinh, tâm sự với mình mà con chữ bời bời thổn thức: Nghiêng ngửa sơn hà/ máu xương hòa nước mắt/ cột mốc biên cương/ chòng chành sóng dữ/ một trăm năm/ một ngàn năm/ vẽ vời ký tự/ văn bản nào/ thoát kiếp vong nô?/ Ta mù khơi giông gió tơi bời/ đối diện biển đêm tứ bề dựng sóng/ con đường nào ta đi bến bờ nào ta đến/ Tổ Quốc trong ta lặng tiếng thở dài...

Khúc ngày xanh như khúc xạ đời, lênh loang ngày xưa, những cột mốc đời chất chứa cả ngạ quỷ thiên đường. Ẩn mình vào phận cỏ lông chông, vẫn là những nỗi đau và buồn phản diện nhau giằng xé nhau, bằng nổi chìm phận sóng, bằng vọng âm của khúc cầm xưa day dứt: Cỏ Giêng Hai vẫn xanh thời con gái/ thuở chúng mình hai đứa bộn bề nhau/ sông bao năm đổi thay dòng chảy/ căn cớ gì ta phủi sạch trầu cau?

Vẫn mênh mang trong mỹ cảm ngôn từ: “Giữa hai bờ mê thức/ ban mai cuồng phong/ hoàng hôn cuộn sóng/ Con tàu tôi lao về phía không không. Phía không không ấy là phía dại khôn lẫn lộn, vô thức và vô minh. Trong bầu khí quyển của cảm xúc, chị đã thành công khi đọc đúng mình: Tôi dại khôn/ nửa người nửa ngợm/ vô thức vô minh/ đảo điên mộng tưởng/ xòe bàn tay níu giữ mây trời...

Trong tầng tầng lớp lớp cô đơn của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, sự hợp hôn của hoàng hôn với ban mai để có những vần thơ như dứt máu. Trong dằng dặc đêm không ấy là những nỗi đau huyễn hoặc đến tận cùng và nồng hương thân phận. Những mảnh vỡ của đêm cứ nhấn sâu nhấn sâu vào tim người. Cầm cố nụ cười mà buôn nước mắt, ấy là bản tính của người tài nữ: “Người đi nát những đam mê/ đêm gom hết nhớ ngày lê thê buồn/ Gầy tay níu giữ cánh chuồn/ Trăng Giêng quá lứa chiều buông quá mùa/ Nghiêng trời nắng hạn chờ mưa/ Em như cổ tích khuôn vừa chiêm bao/ Giấc nồng trốn biệt nơi nao/ Đêm giăng lưới nhớ chênh chao sóng ngày/ .../ Đành tôi cầm cố nụ cười/ Mà buôn nước mắt khóc người ngày xưa...”, “Đêm vỡ vụn/ mắt cay xè giằng níu/ Hai đầu đêm giấc nhớ dậy thì/ Miếng trầu tươi nợ nần cau quá lứa/ Treo ngược đời nhau gút thắt cuộc luân thường...”.

Trong bài viết về ông lão mù hành khất, những câu thơ ngắt dòng như những giọt buồn giữa trời đông giá, giữa ấm lạnh tình người. Tiếng sáo chơi vơi, mong manh không cất nổi phận người: Tiếng sáo mưu sinh/ của ông lão mù hành khất/ chết nghẽn giữa tầng không/ lọt thỏm xuống lòng đường/ ông lão ngồi lặng câm/ giữa chiều xuân/ hoàng hôn/ hóa đá.../ chút nhân tình/ buốt giá bàn tay...

Đi quá nửa đời người, trôi trong dòng cảm thức, vũ trụ riêng của chị là thơ, kết tinh từ những cảm xúc dị biệt của người cầm bút. Nỗi buồn đậm đặc và đầy tính triết luận. Gánh cả nỗi đau nhân tình thế thái và nỗi đau mình. Thơ chị sáng tạo và ẩn khuất. Cái ẩn khuất trừu tượng và duy lý: “Ta gom nhặt những khóc cười thiên hạ/ hong nóng mình/ sỏi đá chiều buông...”, “Gót thời gian vô tư nhảy nhót/ ngày đêm/ rượt đuổi nhau/ chơi trò cút bắt/ nhật nguyệt trốn tìm/ trăng sao mê đắm/ ta và người/ từng nhau chồng vợ/ ly rượu giao bôi ngọt đắng một đời/ tựa vào miền xưa để được mình mầm nụ/ khát nhớ ngày xanh ngọn lửa cháy qua mùa...”

Mạch suy tư của một nhà thơ từng trải đã gợi lên bao day dứt, tự vấn về sự hy sinh mất mát. Còn bao phận người không được bù đắp sự hy sinh cùng những đau thương trong kiếp sống: “Vòng thời gian quay ngược mùa tang tóc/ giọt chiều rơi đắng đót cõi hương hoa/ đốm lửa tàn nhang lạnh cong dấu hỏi/ tượng mẹ anh hùng nước mắt chảy về đâu”.

Hướng về cõi tâm linh xa xăm vời vợi, câu thơ là một dấu hỏi xoáy sâu vào tâm khảm người đang sống. Đức tin cần sự thành tâm, sự thành tâm cũng cần được thể hiện bởi những tấm lòng cùng với tri ngộ về cuộc sống, về tất yếu hiển linh trong thế giới đa tầng: Lấp lánh vàng sao/ đính trên đầu mộ chí/ Tổ quốc ghi công/ đền đài chất ngất/ có thật ấm lòng/ hai cõi âm dương?

Chị đã mang những vần thơ từ cõi thực tiệm cận với cõi hư không đầy suy tưởng trọng nghĩa, nặng tình. Sức mạnh của tâm thế thi ca hòa quyện cùng tâm linh đã trao cho chị một tình yêu đầy tỉnh thức, đầy bản lĩnh với cuộc sống đang hiện hữu hàng ngày: “Thánh giá gục đầu/ tử nạn/ Phật hồi sinh/ cứu rỗi dân gian/ ghì đất nước/ trong vòng tay/ không tưởng/ phận mỏng dân đen/ mặt trời chết đứng/ tôi hỗn mang/ băng giá tật nguyền”…

Không chỉ nỗi vương vấn đời thường mà đã là nỗi trăn trở trong hồn cốt về một lẽ sống, về con đường phía trước cần lựa chọn. Cũng không chỉ cho riêng mình mà chính là nỗi trăn trở cho quê hương đất nước của bản ngã chân nhân. Nhà thơ đã chọn cách tiếp cận trong tâm thế “lực bất tòng tâm” nhưng với tình yêu Tổ quốc tận lòng. “Cao ốc bồng bềnh/ trời xanh mây trắng/ tầng kê tầng kế tiếp chon von/ chồng lấp mảng bê tông/ đẵm máu xương người thợ/ Nỗi oan khiên buốt đau lòng mẹ/ vợ mất chồng gia đình xé lẻ/ con mất cha côi cút phận nghèo/ canh bạc đời sấp ngửa nông sâu”…

Cảm thương những phận đời, phận người, từ bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, nhà thơ thể hiện một tình thương yêu con người khi mạng sống người lao động bị coi rẻ. Để rồi điều cao cả luôn được nhà thơ khẳng định: “Ta hạt cát nhỏ nhoi/ trong miên man miền cát/ khao khát mặt trời/ ao sâu đầm nước mắt/ bồng bế nụ cười/ băng qua miền bất hạnh/ lấp lánh phận người/ phận mình/ số phận nhân dân”.

Đó là số phận của mỗi con người cần luôn được trân trọng. Đó là quyền tự do được sống, được mưu cầu hạnh phúc chính đáng chứ không phải là những phận người bập bềnh trong may rủi được thua hoặc trở thành những quân cờ trong tay kẻ khác.

Với thơ lục bát, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu có khúc trầm sâu lắng: Từ tôi cánh gió phập phồng/ Ru mình mắt bão chiều đông đắm đò/ .../ Tôi như kẻ đã phải bùa/ Nát tình mấy bận chưa chừa cuộc yêu.

Đâu chỉ là cuộc yêu đôi lứa mà mãi đã là cuộc yêu nhân thế mặc những chuyển dời, kệ những đổi thay. Trong cả tập thơ, chị đã dành lục bát cho tình yêu đôi lứa như một quy ước hay chính là duyên tiền định cõi xưa? Cho dù sự lựa chọn có chủ định hay ngẫu hứng thì đó cứ là sự “vận vào” của cơ duyên: Cầm xưa biệt khúc ru người/ Bóng thời gian đổ khóc cười bể dâu/ À ơi, con sóng bạc đầu/ Ru trăm năm đã từng nhau một thời.

Hạt cỏ lông chông” là một tập thơ trăn trở những tỉnh thức, vương vấn những phận đời cùng những chiêm nghiệm bứt lòng rút ruột từ sâu thẳm cõi tâm. Sự vượt trước thời thế của một tâm hồn nhạy bén, của sự kế thừa và sự từng trải, nữ sĩ Nguyễn Bính Hồng Cầu đã viết nên một bản tâm ca khắc khoải những nỗi niềm. Những câu hỏi mà lời giải đáp đang là chấm phá mông lung đầy suy ngẫm, với biên độ mở ẩn chứa khát khao về tương lai. Sự nặng lòng với đời đã mang đến cho thơ chị mạch nguồn lẽ sống cuồn cuộn bứt phá tầng sâu. Chị đã đi tới đích mà mình mong muốn bằng cả tình yêu thương và sứ mệnh được gửi trao.

Sài Gòn, tháng 3/2021

T.M.H (Nguồn: Báo Văn Nghệ).

Các nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu - Trần Mai Hường
tại một buổi sinh hoạt ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM

Các bạn văn tại Nhà lưu niệm Nguyễn Bính.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm