TIN TỨC

Nguyễn Ngọc Hạnh mắc nợ trần gian trong “Câu thơ mắc cạn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-16 13:50:21
mail facebook google pos stwis
3424 lượt xem

NGUYÊN BÌNH

Tôi đọc bài thơ CÂU THƠ MẮC CẠN của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh năm lần bảy lượt với tâm thế khám phá cái vị trí mà câu thơ đã “tát nhẹ” vào anh. Tuy thế, tôi vẫn đoan chắc là “câu thơ” không tát nhẹ vào đôi má nhà thơ hiền lành kia, mà nhắm vào nơi sâu thẳm nhất, mẫn cảm nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất trong tâm hồn anh. Tất nhiên rồi, sau cái tát ấy, huyền thức trong anh bỗng “Sáng bừng” lên, chớp lóe lên tựa động năng của thiên thạch va đập vào ý thức, đảo lộn tư duy có sẵn, thay thế bằng một trường suy tưởng mới đầy ắp năng lượng.

Nếu nói rằng thơ Nguyễn Ngọc Hạnh “trung thành với cảm xúc nhân bản, trở về với bản thể” (Ngô Đức Hành) thì “Câu thơ mắc cạn” là cảm thức thơ mà ta có thể lấy làm cơ sở dẫn dụ để khai thác, phân tích nhận định thú vị này.

Cặp câu lục bát đầu tiên theo tôi là dư chấn của trạng thái ray rứt, từ lâu gậm nhấm tâm cảm, dường như không chịu thỏa hiệp với thực tại. Ý thức bất an co cụm, dồn nén, bỗng nhiên bộc phát bởi sự kích họat của tác động vô hình nào đó, câu thơ bật ra ngay từ giây đầu tiên của cảm xúc:

Lời ru hát lại lần đầu

Đường mòn

Lối nhỏ

Hẹp câu thơ buồn...

Cái gì khiến cho Nguyễn Ngọc Hạnh nhủ lòng phải “hát lại lần đầu” lời ru êm đềm với ánh hào quang của hành trình văn chương khá dày dặn của mình? Đến nỗi tác giả bỗng thấy con đường phía trước trở nên “hẹp câu thơ buồn”. Phải chăng cảm thức thơ, không gian thơ bấy nay chao đảo trong cái vòng tư duy luẩn quẩn, gượng ép, xa rời khát vọng nhân bản? Có phải chính vì lẽ đó mà thi nhân lặng lẽ bỏ rơi mình, lang thang đi tìm chân trời mới trong tâm thế cô đơn để mong hội ngộ cùng thơ: “Núi mờ một bóng đầu truông/Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ”. Càng đi tìm, nhà thơ càng “lạc lối về” trong sự hoang mang ngờ vực, như chàng Siddhartha trong “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse trước khi thức ngộ:

Cầm hư ảo giữa bến bờ…

Đợi trông

Vừa như có lại như không

Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây

Như là gấp mở bàn tay

Như là sấp ngửa ai bày…

Trần gian

Trầm tích của bao nhiêu lỡ làng, nuối tiếc vì chưa được khai phóng khỏi cái ao bèo tù hãm, thi nhân rơi vào trạng thái say trong tỉnh thức, tâm tư ngổn ngang trăm mối: “Biết là chân thấp trời cao/Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này”, có lúc lại đắm chìm vào cõi hoang khai túy lúy say men trời đất khi “dốc cạn trời mây”:

 

Thôi đành lỡ với đò ngang

Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng

Chiêm bao

Biết là chân thấp trời cao

Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này

Ruột gan cháy xé miệng cay

Tôi xin dốc cạn trời mây...

Rượu tràn

Có những tấu khúc ngôn ngữ mà ta không thể giải mã. Mà thơ đâu có cần giải bày cùng ai. Đến ngưỡng, thơ tự trần tình với thơ, như con thuyền độc thoại với dòng sông, như tâm linh độc thoại với tôn giáo, hay nói giản dị hơn, nhà thơ độc thoại với chính mình, giải bày trong vô thức:

Rượu nào là rượụ trần gian

Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu

Mắc chi tôi với đêm sâu

Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi...

Ai người đẽo đọt bờ môi

Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh

Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong…

Những dan díu trần gian kia chẳng qua là những mặc định mơ hồ, bởi: “Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu” và tôi, tôi chỉ là “Tôi như vừa mới là tôi sinh thành”. Tôi ngưỡng mộ câu thơ này quá, có thể nói là một ẩn dụ vô biên. Vậy đó, tôi là nhân bản, ngu ngơ như đứa trẻ sơ sinh, thơ là tiếng khóc chào đời hồn nhiên, mắc mớ chi mà phải chịu đẽo gọt để: “Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong”. Phải chăng, Nguyễn Ngọc Hạnh “phơi cảm xúc của chủ thể về những nỗi niềm muôn thuở của con người… Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh luôn chân thành với nỗi đau, với bao nỗi buồn của cuộc đời này. Nguyễn Ngọc Hạnh không kiểu cách giả tạo, màu mè với chữ nghĩa, làm dáng cách tân để lừa lọc người đọc…” (Ngô Đức Hành). Nhà thơ phơi phóng tâm cảm của mình trong giây phút thăng hoa và sau cùng là:

Nhiễu nhiên da lột mặt người

Câu thơ tát nhẹ vào tôi

Sáng bừng!

Tôi tin rằng, tia chớp sáng bừng ấy lại là động lực cho Nguyễn Ngọc Hạnh đi tiếp hành trình văn chương của mình mà không phải: Bàn chân vấp bước chân mình/Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao” dù có vẻ như định mệnh ràng buộc nhà thơ “mắc nợ trần gian từ quan niệm về thơ của mình…” (Ngô Đức Hành)      

Chúc nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, một con người luôn “nhân ái, vị tha, thủy chung với bạn bè” (Ngô Đức Hành) vững vàng giữa trần gian này với tâm thế như một câu của Hermann Hesse viết trong bài thơ "Gestutzte Eiche“ (Cây sồi trần trụi): "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”
 

Bà Rịa, ngày 29/8/2023
NB

 

Câu thơ mắc cạn
 

Lời ru hát lại lần đầu

Đường mòn

Lối nhỏ

Hẹp câu thơ buồn...

Núi mờ một bóng đầu truông

Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ

 

Khôn ngoan cắt tiết dại khờ

Cầm hư ảo giữa bến bờ…

Đợi trông

Vừa như có lại như không

Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây

Như là gấp mở bàn tay

Như là sấp ngửa ai bày…

Trần gian

 

Thôi đành lỡ với đò ngang

Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng

Chiêm bao

Biết là chân thấp trời cao

Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này

Ruột gan cháy xé miệng cay

Tôi xin dốc cạn trời mây...

Rượu tràn

 

Rượu nào là rượụ trần gian

Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu

Mắc chi tôi với đêm sâu

Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi...

Ai người đẽo đọt bờ môi

Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh

Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong

 

Bàn chân vấp bước chân mình

Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao

Đâu là đất thấp trời cao

Đâu là dấu vết cồn cào đầy vơi

Nhiễu nhiên da lột mặt người

Câu thơ tát nhẹ vào tôi

Sáng bừng!
 

Nguyễn Ngọc Hạnh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm