TIN TỨC

Bùi Minh Vũ - Buông neo hồn thơ vào biển đảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-02 02:19:24
mail facebook google pos stwis
1179 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sau 2 tập thơ Lão ngư Kỳ Tân (2014), Biển và quê hương (2020) Bùi Minh Vũ  cho ra mắt tập thơ Buông neo của (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 113 bài thơ viết về đề tài biển đảo. Cảm hứng chung của tập thơ  là tình cảm mến yêu, cảm phục, trăn trở và gắn bó tâm hồn với với biển đảo, với Trường Sa, Hoàng Sa, với những người lính đảo và người dân bám biển. Những tập thơ trước, Bùi Minh Vũ viết từ cảm xúc của một công dân yêu nước hướng về biển đảo với sự ngưỡng vọng. Ở tập thơ này, sau những chuyến vượt sóng ra Trường Sa, thăm đảo chìm đảo nổi, nhà thơ đã “Buông neo” hồn thơ vào biển đảo của Tổ quốc. Bài đầu của tập thơ đã thể hiện điều đó: Sóng ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi/Bình minh trườn qua con chữ/Bài thơ quyết liệt buông neo/Như cột mốc đứng thẳng (Buông neo).

 

Nhà thơ Bùi Minh Vũ

 

Đọc tập thơ, thấy hiện lên rất nhiều hình ảnh biển đảo từ Trường Sa, Hoàng Sa, đến các đảo Sinh Trồn, Lý Sơn, Song Tử Tây, Đá Tây, bãi Thuyền Chài, Gạc Ma, Sơn ca, đảo chìm, đảo nổi, nước biển, sóng biển, ở nhiều thời điểm khác nhau: sáng, trưa, chiều, tối, rạng đông, mặt trời, ánh trăng, sao đêm… Hình ảnh biển đảo hiện lên trong thơ như một bức tranh thật đẹp: “Trời vừa hừng sáng/Đảo như thân thể mỹ miều/Giữa làng quê ghì chân tôi thăm thẳm” (Trời hừng sáng), “Đêm dưới đáy Gạc Ma/Vút ve đàn cá nhỏ/Nước biển lóng lánh tia mắt đỏ” (Độc huyền cầm). Đó là một đêm trăng trên đảo, đẹp, thanh vắng mà không hoang vu: “Trăng Lý Sơn nở hoa/Thơm trên ngôi mộ gió” (Trăng nhớ). Tác giả có những hình ảnh thơ lung linh đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng xa xôi, lấp lánh: “Luồng ánh sáng trong vắt/Nở hoa/Đính trên đảo Sinh Tồn”(Ánh sáng). Đó là khi ta bắt gặp ngọn Hải đăng như đoá hoa nở trên biển trời Tổ quốc: “Từ hun hút xa mờ chợt loé/Ngọn Hải đăng Trường Sa bật sáng/Nâng ta lên thiết kế lại dáng hình” (Đoá hoa nở). Trong tâm tưởng của nhà thơ, biển đảo không dữ dội, náo động mà gần gũi như cuộc sống bình dị của quê hương: “Người phụ nữ làng chài/Sải tay ra đảo nổi/Há miệng ngậm mặt trời” (Người phụ nữ làng chài). Nhà thơ thật tinh tế khi cảm nhân và so sánh hình ảnh chiếc lá bàng vuông với chiếc thuyền mo cau thuở ấu thơ để biểu hiện biển đảo gần gũi, thân thương: “Toả hương thơm dịu ngần/Những lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng). Âm thanh tiếng chuông chùa hư thực đưa biển đảo gắn với đất liền Tổ quốc, với văn hoá xứ sở và cuộc sống yên bình của nhân dân: “Thênh thang trên đảo Đá Tây/Tiếng chuông chùa trườn trên nước” (Trên đảo Đá Tây). Biển là nguồn tài nguyên vô tận đem đến cho người dân cuộc sống ấm no: “Ngoài khơi ghe chói sáng/ Bầy cá cơm ăn đèn/ Biển như vòng tay mẹ/Ấm sang đời cháu con” (Âm vang); “Nhìn tấm lưới đính hoa/Mùa cưới cá dạt dào/Niềm vui từ biển đến” (Đêm biển khơi). Hình ảnh những chiếc thuyền ngư dân bám biển, bảo vệ chủ quyền và đánh bắt hải sản được gợi lên thật thi vị: “Những ngón tay đan tiếng cười/Thành bè thuyền/Hình nốt nhạc/là những chuyến ra khơi” (Kết tinh). Biển đảo quê hương giàu đẹp cũng là nơi kẻ ngoại bang ngày đêm xâm lấn, quấy phá, cuộc sống lao động của ngư dân chưa được bình yên: “Chiếc thuyền câu ngoài biển/Nhỏ dần/Nhỏ dần/Rồi mất hút/Giữa làn sóng xoay mình quanh chiếc thuyền lạ” (Nghĩ). Đó là nỗi trăn trở thường trực của tác giả, của nhân dân ta đối với chủ quyền biển đảo.

Hoàng Sa, Trường Sa là một phần máu thịt không thể chia rời của Tổ quốc Việt Nam. Từ thời quốc gia phong kiến độc lập, những dân binh đã theo lệnh Vua ra biển xa, cắm mốc chủ quyền quốc gia trên đảo: “Người đi Trường Sa cắm mốc/Người đi Hoàng Sa cắm mốc/Cõi mở rồi/Ở lại” (Mở cõi). Ngày nay, Hải quân nhân dân Việt Nam tiếp tục ra khơi bám biển, bám đảo, giữ vững biển trời quê hương; nhân dân cả nước luôn hướng về biển đảo yêu thương. Dù cuộc sống, sinh hoạt và chiến đấu còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng những người lính đảo vẫn luôn lạc quan, yêu đời, quyết tâm giữ chắc tay súng, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng: “Nụ cười thơm trái chín/Gian truân ngạo nghễ xanh/Nụ cười soi sáng đảo/Gió bão bung nở hoa” (Thức tỉnh). Những người lính đảo và sự hy sinh thầm lặng của họ để giữ vững biển đảo Tổ quốc đã hoá thân thành những mốc chủ quyền: “Chợt thấy những chiếc mũ trắng/Một ngôi sao/Hai ngôi sao/Ba ngôi sao/Sắp hàng luồng ánh sáng chói chang” (Ánh sáng). Những người chiến sĩ nằm lại mãi nơi biển khơi đã hoá thân vào sóng nước, thành “hương hoa” của sóng, thành những ngôi sao đêm không bao giờ tắt. Với lòng yêu kính và cảm phục phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ Hải quân, tác giả đã dùng hình tượng thơ để bất tử hoá sự hy sinh của họ: “Những linh hồn yên ngủ/Trên nấm mồ nước mặn/Hương hoa sóng/Lăn tăn/Chảy dài/Như ngôi sao không nhắm mắt” (Thắp sáng). Hình ảnh những cây lá bàng vuông như một biểu tượng của Trường Sa, Hoàng Sa được lặp lại trong nhiều bài thơ thật ám ảnh: “Bên gốc bàng vuông sừng sững/Ngỡ mình đang sống/Giữa thủ đô” (Vào lúc này), “Những lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng), “Màu gió trăng thủ thỉ/Hương nước xanh thầm thì/Hoa bàng vuông bung nở” (Trời hừng sáng), “Không xa lắm/Hoa bàng vuông thơm như môi/Những màu đêm ngọt” (Trăng), “Mẹ ôm biển vào lòng/Nghe hoa bàng vuông nở/Lặng lẽ/Ánh trăng vàng” (Mẹ chờ), v.v…

Cùng với biển đảo là hình ảnh “cái tôi” trữ tình nhà thơ, thể hiện tình cảm gắn bó, hoá thân vào biển đảo: “Tôi tô lại chữ Trường Sa/To như rạn san hô như đảo chìm đảo nổi/Như khoảng trống trên trời/và tôi nhìn/Thấy tôi ở đó” (Tô chữ). Nhà thơ thấy mình với biển như con sóng, như đàn hải âu: “Nắng chiều/Lưa thưa ốm/Hải âu bay vội vàng/Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ/Mùa sang” (Ru mùa) và sự hoá thân nồng nàn vào biển: “Em tắm biển/Hình như/Nước biển/Có mùi thơm mái tóc anh” (Tắm biển). Gắn bó với biển đảo qua những chuyến đi, hình ảnh biển đảo ám ảnh tâm hồn nhà thơ, nhiều khi hiện lên trong mơ tưởng: “Đêm mơ đặt chân lên bãi Thuyền Chài/Trăng ngọc bích thật thà như đứa bé/Nắm tay tôi” (Bức vẽ). Ước vọng gắn bó với biển đảo được biểu hiện khá sinh động bằng việc nhập thân vào hình ảnh sóng, gió: “Đôi khi muốn làm gió/ Cưỡi sóng biển khuya/ Đôi khi muốn làm sóng/ Lờn vờn quanh Hoàng Sa” (Đôi khi). Yêu thương, gắn bó với biển đảo là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước, sự gắn bó và trách nhiệm của người nghệ sĩ với Tổ quốc mình: “Đêm đêm tôi úp mặt vào sóng/Nghe bài ca Tổ quốc tôi’ (Khúc hát) và một khát vọng thiêng liêng: “Con nhìn lên khung ảnh/Nghe cha bảo/ Con hãy đeo ba lô/ Và cùng cha ra biển” (Cùng cha)…

 

 Tập thơ Buông neo của nhà thơ Bùi Minh Vũ

 

Ở tập thơ Buông neo, Bùi Minh Vũ đã chuyển hẳn sang phương thức biểu hiện của thơ siêu thực hậu hiện đại. Đây là một trong những hướng đổi mới thơ Việt Nam hiện nay. Người đọc nhận ra hình ảnh siêu thực rất điển hình trong bài Ghi chép bên đường: “Ký ức trườn qua/Khoanh tròn/Con rắn lục/chạm vào nắng tím làng tôi”. Nhà thơ chú ý khai thác thế giới cảm thấy trong mơ, trong tiềm thức, ảo giác, biểu hiện bằng những ẩn dụ siêu thực có sức ám gợi: “Tôi thấy ngoài Trường Sa/Những ngôi sao chân thật/Những ngôi sao sắp hàng/ Những ngôi sao đi rầm rập” (Phát sáng). Anh vận dụng triệt để phương thức lạ hoá để xây dựng hàng loạt những hình ảnh so sánh siêu thực, những liên tưởng dựa trên những nghịch lý, bất ngờ, đánh mạnh vào óc tưởng tượng của người đọc: “Sóng ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi” (Buông neo), “Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ mùa sang” (Ru mùa), “Tiếng sóng vọng vào giấc mơ/tha thiết ngày xa nhà/vàng như hoa vạn thọ/ lướt thướt đôi mắt Song Tử Tây” (Tiếng sóng), vv…Hướng về thế giới vô thức, đề cao ngẫu hứng, ghi nhận những ấn tượng mơ hồ, mong manh lướt qua trong đầu, tác giả tạo ra nhiều liên tưởng thú vị: “Khi đoá hoa nở dưới nước/Giọt nước trên sóng lăn tăn/Gió con cá vượt/Trăng ngẩn ngơ một gã si tình” (Đoá hoa nở). Chi tiết, hình ảnh thực của biển đảo ghi nhận bằng giác quan đã được chuyển hoá thành những hình ảnh giấc mơ, ảo giác, tạo nên sự liên tưởng phong phú nơi người đọc: “Đêm qua/Tôi thấy những linh hồn trắng/Tựa vào nhau/Cong như chiến hào” (Những linh hồn trắng), “Ta lặn một hơi dài/Trôi tự do theo dòng hải lưu cùng bầy cá mặt trời/Sau nửa đêm/Ta và bầy cá bắt tay nhau/Hướng về Trường Sa thương nhớ” (Điền dã ngoài biển). Những hình ảnh, sự vật cách xa nhau được đặt cạnh nhau, gợi liên tưởng xa mờ, đa nghĩa: “Tôi câu mực/Từng con mặt trăng/Giấc mơ thánh thót” (Câu mực), “Dấu vết cánh buồm đâu đó/Giữa biển khơi/Như vết môi son tháng Giêng/Như bông hồng sinh nhật/Như tiếng gà khuya xa mờ lấp lánh/Hiển lộ trong chiếc khăn em thêu” (Cánh buồm), “Sóng mật ong cá rỉa/Cõng giấc mơ Sinh Tồn/Mang theo trái tim mẹ/Gặp gỡ nơi đảo xa(Giấc mơ Sinh Tồn). Nhà thơ tạo ra cách trình bày mới mẻ trong bài Chú thích: “Ta hớn hở/ Bước lên đảo chìm/Đi qua bãi cọc/Hiện lên chữ số/ 1/ 2/ 8/ 8”. Con số 1288 được cấu tạo thành 4 dòng thơ theo phương thức lạ hoá. Thì ra, những mũi đá nhọn dưới đảo chìm ở Trường Sa gợi hình ảnh bãi cọc Cao Quỳ trên sông Bạch Đằng đã làm tan tành đạo thuỷ quân Nguyên Mông hùng mạnh, năm 1288. Một sự so sánh ngầm thú vị làm nổi bật sức mạnh của biển đảo Việt Nam, của con người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền Tổ quốc. Tác giả đã đổi mới trong việc ngắt dòng thơ, không dùng dấu câu, ngắt giọng theo nhịp rung của cảm xúc, sự mời gọi của tâm tưởng.

Nhìn chung, Buông neo là một thể nghiệm khá thành công của Bùi Minh Vũ. Với một đề tài quen thuộc có tính thời sự nhưng nhà thơ đã có cách thể hiện mới mẻ và hấp dẫn. Nhà thơ đã ảo hoá những hình ảnh ghi nhận từ giác quan, tạo ra hình tượng thơ có độ nhoè về nghĩa, gợi được nhiều liên tưởng nơi người đọc. Tuy nhiên, tập thơ có những bài, những câu viết dễ dãi, hạn chế về nhịp điệu; hình tượng và cảm xúc còn nhạt nhoà, thiếu sức thuyết phục. Mặt khác, lối thể hiện siêu thực “rất kén”người đọc vì ít nhiều gây khó khăn và ức chế trong việc tiếp nhận, nhất là đối với người đọc đại chúng. Nên chăng, dùng siêu thực như một thủ pháp nghệ thuật biểu hiện cho phương thức thơ trữ tình hiện thực thì người đọc dễ đồng cảm hơn, hiệu quả tác động mạnh mẽ hơn./.

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm