TIN TỨC

Nhà thơ Trăng Khuyết và “Trang thơ tình mùa hạ”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-01 23:54:35
mail facebook google pos stwis
1729 lượt xem

             NGUYỄN QUẾ

Nhà thơ Trăng Khuyết là một trong những gương mặt quen biết của làng thơ  Bình Dương trong nhiều năm qua. Năng lực sáng tác của chị đã được khẳng định qua tuyển tập thơ “Níu thu vào mộng”. Nội dung tuyển tập bao quát nhiều mảng đề tài, trong đó “trang thơ tình mùa hạ” là một trong những chủ đề tạo được ấn tượng trong lòng người đọc.

Tác giả Trăng Khuyết

Nói về việc lựa chọn bối cảnh tình yêu, nhiều người cho rằng đó phải là sắc thái lãng mạn của mùa Thu với lá phông vàng, với chiều “nắng nhạt” và những làn “mây nhè nhẹ”, “gió hiu hiu” như Xuân Diệu, “ông hoàng thơ tình Việt Nam” đã viết, hay là mùa Xuân với không khí ấm áp, cây cối đâm chồi nẩy lộc, đất trời rực rỡ ngàn sắc hoa, biểu thị cho sự sinh sôi và hạnh phúc. Có người lại cho rằng, nói đến tình yêu là nói đến sự rung động, đồng điệu của hai con tim, hà cớ chi phải tính ngày, chọn tháng? Mỗi người một ý, chẳng biết nói sao cho vừa. Còn với nhà thơ Trăng Khuyết, chị bộc bạch nỗi niềm đắm say với “trang thơ tình mùa hạ” của tuổi học trò. Đối với những nam thanh nữ tú chuẩn bị rời ghế nhà trường phổ thông, lòng bâng khuâng trước “thuở” mới “bước vào yêu”, có gì đẹp đẽ, lưu luyến bằng cảnh vật, thanh âm mùa Hạ? Đó là mùa chia ly có tiếng ve kêu rả rích, có những cánh phượng hồng mang theo “nghìn giấc mộng”, có những đóa sen thắm tươi trong màu nắng tinh khôi… Trước không gian đặc biệt ấy, người thiếu nữ thấy lòng mình sao bỡ ngỡ và xao xuyến quá:

“Sương mai sớm khẽ khàng đón hạ

Gió ngỡ ngàng chợt lạ chợt quen

Nắng vàng ôm nhẹ cành sen

Nửa trao nhung nhớ… nửa nghèn nghẹn tim

Dẫu năm tháng trôi qua, những kỷ niệm ấy không phai mờ trong lòng nhà thơ. Chị cảm thấy nuối tiếc, bâng khuâng, muốn “mượn” những năm tháng tuổi trẻ để “cầm về hong lại” nghìn  giấc mộng đẹp cùng một chút hương của tình xưa:

“Một thoáng hạ rơi nghìn giấc mộng

Của thuở nào còn đọng hương xưa

Cho tôi mượn tuổi đón đưa

Cầm về hong lại cho vừa… tình ai”.

(Một thoáng hạ)

Nhịp điệu, âm hưởng của những câu thơ song thất lục bát như tạo nên không khí vừa trang trọng, vừa đằm thắm, tha thiết, giúp tác giả dãi bày nỗi niềm sâu lắng của mình. Sau những phút giây tình tự, chị thoáng hăm hở, ước ao:

“Về hạ xưa

Về tìm tuổi thanh xuân năm mười bảy

Tìm bóng dại khờ chia cắt nửa vầng trăng”

(Hạ năm 17 tuổi)

Tình yêu tuổi học trò tuy “dại khờ” nhưng thật đẹp và luôn gắn liền với không gian đầy thơ mộng. Nhớ về cảnh cũ, người xưa, chị tha thiết, bâng khuâng:

“Phượng hồng rụng đỏ mùa thương

Hỏi người

còn nhớ hạ vương lưng trời”?

(Phượng hồng rụng đỏ mùa thương) 

Chẳng biết, chị “hỏi người”, “người” có nhớ hay chăng? Riêng mình, chị không thể nào quên những tháng ngày lưu luyến ấy. Chị tự bảo lòng:

“Em đi nhặt phượng chia lìa

Xếp đôi bướm hạ mang “dìa” ưu tư

Nhớ ngày xưa… chắc hình như

Cái câu ly biệt cũng từ trong mơ.”

Với nữ nhà thơ, mùa hạ đã xa luôn là quảng đời đầy ắp những kỷ niệm đẹp đẽ, để lại trong chị bao cảm xúc dạt dào, sâu lắng. Đó là những tháng ngày gắn bó với hình bóng người thương, với bao cảnh vật thân quen và những phút giây nhung nhớ. Nhưng tất cả đã thuộc về dĩ vãng. Chị tha thiết được sống lại những phút giây của “ngày xưa” ấy, dù chỉ là để “nhặt” những cánh hoa rơi:

“Một chút…

Một chút thôi nhé hạ!

Cho ta thương… ta nhớ ngày xưa

Đếm thời gian biết nói sao vừa

Người thương hỡi… em nhặt hoa làm kỷ niệm”

Lòng nặng mang nỗi niềm nhung nhớ, nữ nhà thơ cùng nhân vật trữ tình của mình tha thiết “gọi gió”, muốn được “vay một chiều mưa đổ” để tìm lại những phút giây mùa cũ nhưng ước nguyện khó thành:

“Một chút

Một chút hạ sao tình ta mải miết

Có còn chi

Thôi từ tạ phượng xưa ơi…”

(Một chút thôi… cho em về với hạ)

Gọi gió vay mưa không thể tìm về miền hạ gắn liền với bao kỷ niệm thân thương, nữ thi nhân đi đến bến cũ mong gặp lại những hình ảnh ngày nào nhưng vô vọng:

“Em về thăm lại bến xưa

Nhặt sầu ký ức rụng vừa sáng nay

Sông kia lạc kiếp u hoài

Hỏi mùa kỷ niệm trôi bay phương nào?”

Một câu hỏi đầy nỗi niềm sâu lắng mà chưa có lời giải đáp. Lòng người không khỏi xao xuyến, bồi hồi trước nỗi lạc lõng, cô đơn của những cánh phượng già nổi trôi giữa dòng sông – dòng thời gian và không gian xa vời vợi. Nhưng ngay cả cảnh ấy cũng chỉ là sự tưởng tượng pha chút hoài niệm xót xa:

“Phượng già một thuở cuối trời

Cánh hoa đỏ rụng chơi vơi giữa dòng”

(Chuyến đò đưa em vào hạ)

Tấm lòng thi nhân thật mặn nồng, tha thiết, nhưng tình mãi còn đâu như thuyền lạc bến? Trước nỗi niềm vô vọng ấy, người đành tự ru “nửa khúc tự tình”:

“Tình xưa

lạc bến giang đầu

Lỡ quên uống cạn giọt sầu thế nhân.

Mượn chiều sương bạc phù vân

Ru ta vào mộng…

đường trần…

ru ta…”

(Ru ta)

 Với câu lục bát biến thể, ngôn ngữ, nhịp điệu lời ru như vừa khắc sâu, vừa lan tỏa trong cõi lòng người thi sỹ. Nhưng càng ru, càng tỉnh. Một ngày, nhà thơ đành “xếp lại” tiếng lòng mình:

“Em xếp lại trang thơ tình mùa hạ

Có phượng hồng nhuộm cả một trời thương

Có hoa rơi lác đác ngủ ven đường

Che dấu chân tròn vương trên ngọn cỏ”

Dẫu đã quyết “xếp lại” bao nỗi niềm của những ngày tháng cũ, chị vẫn không thể nào quên trang mực tím học trò, và nhớ mãi đêm mưa lạc lối, nhớ “Bàn tay nắm nao nao đêm hò hẹn”, nhớ “Nhành phượng đỏ giấu nụ cười bẽn lẽn/ Trộm nhìn nhau len lén tuổi đôi mươi”… Tuổi học trò cùng mối tình của quãng đời đầy mộng mơ ấy thật đẹp nhưng cũng thường để lại bao nỗi “buồn dang dở” không thể phôi phai, và cảnh cũ, người xưa vẫn vương vấn mãi trong lòng thi nhân. Nhưng buồn mãi cũng chẳng giải quyết được gì nên người thơ đành“khép tuổi buồn một thuở bước vào yêu” :

“Hạ thương ơi… gửi lại lối cỏ mềm

Lời yêu dấu ru đêm… đêm vào hạ”

(Trang thơ tình mùa hạ)

Chất chứa bao nỗi niềm sâu lắng, trang thơ tình mùa hạ của Trăng Khuyết là những hoài niệm đầy xao xuyến, bâng khuâng về mối tình của tuổi học trò mười bảy, đôi mươi. Mối tình ấy thật trong sáng, đắm say và thơ mộng nhưng mang“nỗi buồn dang dở”, được tác giả thể hiện qua những câu thơ đầy xúc cảm, và có lẽ, qua đó, chị cũng đã nói thay nỗi lòng của bao người khác. Tuy “mộng ước không thành” nhưng đó mãi mãi là kỷ niệm đẹp trong cuộc đời của mỗi người. Cũng chính vì vậy, nó góp phần hướng lòng ta vươn tới những giá trị cao quý hơn trong cuộc sống.

Trong quá trình sáng tác, nhà thơ Trăng Khuyết đã sử dụng khá nhuần nhuyễn các thế thơ và thủ pháp nghệ thuật truyền thống, đồng thời có những sáng tạo của riêng mình. Tùy từng văn cảnh, từng sắc thái tình cảm, chị sử dụng những hình thức khác nhau. Khi là những câu lục bát uyển chuyển, nhẹ nhàng. Khi là lục bát chuyển thể để tăng độ nhấn. Lại có khi là song thất lục bát mang hơi hướng thơ ca diễn ngâm; hay thơ tự do, bảy chữ, tám chữ phóng khoáng… Đọc thơ chị, thi thoảng ta bắt gặp những câu, từ khá ấn tượng như “nắng vàng ôm nhẹ cành sen”, hay trạng thái “ngủ” của những cánh hoa rơi ven đườngBằng khả năng quan sát đầy tinh tế và nhạy cảm của mình, tác giả còn phát hiện được bức tranh tuyệt vời: Khi ngủ, những cánh hoa kia đang vô tình“che dấu chân tròn vương trên ngọn cỏ”. Đó là một hình ảnh đẹp và rất lãng mạn.

Thơ Trăng Khuyết giàu hình ảnh và nhạc điệu. Ngôn ngữ trong tác phẩm của chị phong phú, sinh động, uyển chuyển, nhiều lúc trang trọng và có sức lan tỏa. Đọc thơ chị, ta cảm nhận được những rung động của một hồn thơ giàu xúc cảm. 

Tuy nhiên, bên cạnh những cái đẹp, cái hay của tác phẩm, thi thoáng ta bắt gặp một vài từ ngữ, hình ảnh chưa thật hòa nhập với toàn cục. Ví như khi đọc câu “vầng trăng khuya mượn giấc mộng gối đầu”, hay những cụm từ “ngàn năm tao ngộ”, “giọt sầu thế nhân”, “sương bạc phù vân”..., người đọc dễ cảm thấy câu thơ chưa được khoáng đạt, còn cũ kỹ chưa phù hợp với ngôn ngữ hiện đại. Có lẽ, đó cũng là điểm chung của cả tập thơ. Phải chăng Trăng Khuyết muốn tạo nên một không khí thơ thật đặc biệt, có cả những chuẩn mực, biểu tượng xưa và nay để dãi bày bao nỗi niềm chất chứa trong lòng? Dẫu sao, đây chỉ là những vết gợn nhỏ. Thành công là nét chủ yếu và rất đáng trân trọng trong thơ chị nói chung và ở trang thơ tình mùa hạ nói riêng.

N.Q

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm