TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Một - Người mắc nợ ký ức

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-16 00:04:14
mail facebook google pos stwis
2765 lượt xem

Lê Trâm

Quê nhà Nguyễn Một thời chiến tranh là vùng đất “xôi đậu”, nơi ngày nào cũng xảy ra chiến sự, các bên giành nhau từng mét đất. Cha bị bắn chết khi ông còn trong bụng mẹ. Chưa được bốn tuổi, mẹ bị viên đạn lạc bắn ra từ một lô cốt của lính Mỹ, trút hơi thở cuối cùng khi đang ôm con ngủ… Những ám ảnh ấy chừng như khiến anh trở thành người mắc nợ ký ức, được bày biện với chính mình trong tập “Truyện ngắn Nguyễn Một” (NXB Hội Nhà văn - 2020).

Nhà văn Nguyễn Một

Quê nhà một cõi…

Có lẽ không phải ngẫu nhiên Nguyễn Một mở đầu cuốn “Truyện ngắn Nguyễn Một” với tác phẩm “Tha hương”. Nơi đó, được khái quát đơn giản nhưng dễ hình dung: “Quê tôi nghèo nhưng có một dòng sông rất đẹp. Dòng sông là tài sản lớn nhất của tuổi thơ tôi”. Ở đó, có núi Chúa như một chứng nhân nhìn xuống làng mạc, nhìn xuống bao phận người giữa thời ly loạn, là cụm tháp Mỹ Sơn đẹp ma mị chứa đựng bao nhiêu câu chuyện huyền hoặc phủ lên suốt một tuổi thơ đầy biến động của tác giả. Là vùng rừng đồi gò cằn khô sỏi đá với những câu chuyện kể không dứt của người lớn, về một gia tộc có những số phận kỳ lạ, về những cái chết của bên này lẫn bên kia, những cái chết “không ít điều kỳ lạ”, về những cuộc bỏ xứ ra đi, có kẻ quay về có người đi biệt…

Trong “Truyện ngắn Nguyễn Một”, những tên truyện nghe qua đã thấy nao lòng: “Sông xưa”, “Xứ người”, “Viễn xứ”, “Gió núi”, “Thanh minh”… Trong bước đường tha hương, quê nhà thỉnh thoảng cứ dội lại trong tâm khảm người viết, không dứt được. Nhiều lúc bật lên trong câu chuyện cứ như những lời tự sự: “Tôi mang cái sinh lực tràn trề của tuổi hai mươi lên đường lập nghiệp. Tôi sẽ đến một vùng đất màu mỡ. Nghe anh Nam kể, xứ đó cây sắn vứt ngoài hàng rào, vài tháng sau nhổ lên củ to bằng bắp chân. Chứ không như cái miền quê nghèo khó này, trồng được củ sắn bằng ngón chân phải tốn cả gánh phân chuồng. Tôi đã chán tột cùng sự nghèo khổ truyền kiếp. Cậu tôi quanh năm xòe bàn chân “Giao Chỉ” bám trên những thửa ruộng khô khốc, để đổi lấy ngày hai bữa cơm độn, ăn xong ợ lên rát cổ họng. Tôi ra đi. Cái tình nghĩa quê hương, mà cậu tôi bỏ công giáo dục từ nhỏ, chẳng hề lóe sáng trong sự mông muội của đầu óc đã tê liệt vì đói khổ. Thật ra, tôi có chút xao động khi cô gái mà tôi dự định cưới làm vợ đã khóc ướt đẫm ngực áo trong đêm chia tay. Dù thế nào tôi cũng sẽ đi!” (Xứ người).

Chiến tranh luôn ám ảnh, thỉnh thoảng dội lại trong hồi ức. Cái chết của Hương trong “Tiếng chim sẻ trong thánh đường” chắc chắn có sự liên tưởng về cái chết oan nghiệt của người mẹ năm nào: “Hương nằm như đang ngủ. Một viên đạn vô tình xuyên qua lồng ngực tuổi dậy thì của em. Chiến tranh! Tôi nghe mẹ Hương kể rằng “Trước lúc hấp hối, con Hương muốn được quàn trong thánh đường nhỏ bên nghĩa địa”.

 Ở truyện “Viễn xứ”, phía sau cái giọng Quảng Nam đặc sệt bày ra trong câu chuyện là một cái kết buồn. Từ buổi sơ giao không xa ấy: “Nè! Cô lòm ơn chỉ dùm nhà ven hóa chỗ mô?- Chớ ông ở mô mà không biết nhà ven hóa?-…- Quảng Nom!”. Và người con trai ấy đã chết sau một lần đùa với cô gái. Buổi chiều mưa buồn cô gái mỏi mòn chờ chiếc xe tang đưa anh về quê.

Không còn gì buồn hơn nữa với một kiếp người tha hương: “Trời sập tối. Mưa nặng hạt. Dãy nhà hai bên đường đóng kín cửa. Chiếc xe màu đen từ từ lăn bánh vào thị trấn và dừng lại trước con hẻm. Xe tang của Trọng. Hạnh như dính chặt vào ghế không đứng lên nổi. Người phụ nữ đứng tuổi thò đầu ra ngoài nhìn quanh rồi khoát tay. Chiếc xe trở đầu khuất dần trong làn mưa mờ đục. Hạnh lao ra đường, mưa quất vào mặt rát rạt”. Một đoạn văn đặc tả như một shot phim hay. Theo tôi, đây là đoạn văn cô đọng và hay của Nguyễn Một.

Ghi dấu đậm nét về một quê xứ có lẽ là “Giếng tiên”. “Ngày ông tổ tộc Trần đến lập nghiệp, lúc đó nơi đây còn là rừng rậm, đã có giếng này. Hồi xưa cả làng xài chung, bây giờ người đông nên nhà nào cũng đào giếng riêng gần nhà. Vì vậy, giếng tiên thành sở hữu của gia đình tôi.

Ngôi nhà từ đường to lớn của tộc Trần do ông tôi cai quản, mảnh vườn không lớn lắm nhưng có nhiều loại trái cây”. Câu chuyện của nhân vật xưng “tôi” và chị Sinh có nhiều tình tiết nhưng ám ảnh nhất vẫn là cái chết của người mẹ, qua lời kể của ông, lại hiện về đỏ sẫm dưới trăng. “Mẹ mày chết đêm Rằm tháng Mười, linh lắm… Tôi còn nhớ hôm đó trăng sáng như ban ngày, đang thiu thiu ngủ nghe heo kêu, tôi cầm đèn ra coi thử, đi ngang gường con nhỏ, tôi giẫm nhằm vũng máu mới hay nó chết. Tội nghiệp con nhỏ, nó mới mười chín tuổi đầu. Các anh biết không, một viên đạn đại liên trên đồn Bốn Lăm bắn xuyên qua đầu con nhỏ, may mà thằng này (ông chỉ tôi) nằm dưới nách mẹ nó, nên viên đạn trượt qua đầu nó, làm bị thương con heo đằng sau nhà...”. Một cái chết đầy ám ảnh nên hằn lên trong trí nhớ mọi người!

Có cảm giác ký ức như món nợ dai dẳng thỉnh thoảng cứ hiện lên, không nơi này thì nơi khác. Là người, trong “Chiều tha hương”: “Ông thường nhớ những buổi chiều xa lắc xa lơ. Từ dạo ông còn là chú bé làm cái việc thắp nhang cho vô số bàn thờ trong căn nhà từ đường rộng mênh mông… Ông còn nhớ mỗi buổi chiều như vậy, ông thường thơ thẩn nhìn xa xăm về phía triền núi Chúa”. Ở đó có những con người “quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, vậy mà con gái Mỹ Sơn cứ xinh đẹp mơn mởn và trắng như bông bưởi...

Những cái nhớ như vậy, dai dẳng: “Làng Phú Đa nằm cạnh chân núi Chúa. Trai làng khỏe mạnh nhất vùng, những bắp thịt săn cuồn cuộn, có lẽ do những tháng ngày lùng sục, bắt núi rừng cúi đầu dâng cho họ cái ăn cái mặc để bù lại sự cằn cỗi của cánh đồng bậc thang khô rốc, nứt nẻ dưới cái nắng chói chang của mùa hè và những ngọn gió hun hút thổi cháy người”.

Rồi “Sông xưa” với cô gái hái dâu đã ngã xuống dòng sông trong “một buổi chiều nhạt nắng, bãi dâu bên bồi, chuyển sang màu xanh thẳm” (Khoảnh trời sót lại)… Tất thảy, quá đủ để làm nên bao nhiêu sự ám ảnh!

Xứ người

Không gian truyện ngắn Nguyễn Một là vùng đất anh đã chọn để sống. Ở đó, một vùng Đông Nam bộ không kém khắc nghiệt, nhất là thời điểm sau khi kết thúc chiến tranh. Nhà văn Nguyễn Hiệp chọn rất đúng cụm từ để nói về sự lựa chọn ấy trong một bài viết: “Mê lộ trong hành trình tha hương”, con đường để trở thành một nhà văn tiếng tăm không hề dễ dàng. Không gian ấy thể hiện rất rõ cùng những số phận, đa phần là lưu dân, không kém phần nghiệt ngã. Thấy rất rõ khi đọc những: “Thị trấn thiếu dòng sông”, “Chuyện tình trong rừng cấm”, “Hoa mua bên hồ”, “Mắt lá”, “Vũ điệu trên đỉnh Kung Pô”… Những đặc trưng văn hóa của các dân tộc ít người như Châu ro, Mạ, Tày Mường, được Nguyễn Một viết lên theo kiểu khác, thường là những câu chuyện tình buồn, đầy trắc trở và không kém phần nên thơ đã khiến truyện đọc rất lôi cuốn.

Chỉ với 20 trang sách, một miền Đông Nam bộ hiện ra khá kỳ vĩ dưới ngòi bút của Nguyễn Một qua truyện ngắn “Trước mặt là dòng sông” nên không có gì làm lạ khi đạo diễn Khải Hưng đã chọn để dựng thành phim. Cũng vậy, “Xứ người” là một cách khắc họa khác về vùng đất đã níu giữ chân bao lớp người lưu lạc, đã đến, lưu lại, sống và trở thành “người cũ của vùng đất mới”. Sự gặp gỡ, “giao thoa” giữa người cũ - người mới sau này đã làm nên một lớp công dân mới, một cố kết xã hội mới ở vùng đất này, thể hiện khá rõ nét qua “Miền Đông”. Và, hầu hết không gian truyện đã đề cập vẫn là sự đan xen giữa cảnh cũ, người với đất mới - người mới, qua sự “kết nối tài tình” của tác giả.

Tương tự như vậy một “Lửa bên sông”, đã vẽ lên rất rõ nét một Đồng Nai đầy mê hoặc như câu ca dao tác giả chọn làm đề từ: “Rồng chầu xứ Huế, ngựa tế Đồng Nai/ Nước sông trong đổ lộn sông ngoài/ Thương người xa xứ lạc loài tới đây”. Truyện đọc nghe buồn như một nỗi ngậm ngùi cùng lòng người xa xứ! Truyện Nguyễn Một cứ như những lời tự sự, những lớp kể nhẩn nha.

Những tình tiết truyện mới cũ trôi đi, đan xen. Hầu hết các truyện đều kết cấu bởi nhiều xen cảnh khác nhau, đan xen kiểu kết cấu điện ảnh nhờ thế không gian truyện được mở ra khá nhiều và mạch chuyện cũng mở ra nhiều hướng giúp hạn chế được sự đơn giản, đơn điệu của câu chuyện.

Nhiều câu văn ngắn, gọn, súc tích khiến mạch kể trôi đi khá nhanh đồng thời tạo nên nhiều sự liên tưởng, “đồng sáng tạo” ở người đọc. Phần lớn các truyện viết dựa vào các câu thoại khiến truyện gần gũi cuộc sống, sống động hơn, có cảm giác đang đọc một truyện ngắn “như thiệt”. Như đời vốn vậy!

L.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm