TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những câu thơ ướt mưa kỷ niệm mà tươi xanh màu mắt của Nhật Quỳnh

Những câu thơ ướt mưa kỷ niệm mà tươi xanh màu mắt của Nhật Quỳnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-12-17 17:40:27
mail facebook google pos stwis
1648 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Nhật Quỳnh đến giữa chúng ta như một nàng thơ trang trọng và tao nhã, chị đã thực hiện sứ mệnh trời giao là “trút vào linh hồn người khác những khoái lạc đam mê, nhưng rất thơm tho và tinh khiết” chị chưa sống lâu nhưng chị đã sống nhiều, với đầy đủ những chiêm nghiệm và từng trải trong cuộc sống, yêu đương, những bềnh bồng dâu bể, những hạnh phúc và đau thương, những bình yên và sóng gió.

Nhật Quỳnh cũng giống như bao nhiêu người con gái khác, “ai lớn lên mà không từng yêu đương” hò hẹn đó là lẽ thường tình. Thế nhưng tình yêu luôn là đề tài muôn thuở của nhân loại, nó đem đến cho loài người những thiên đường hạnh phúc, đê mê, nhưng nó cũng dìm con người tận đáy bể sâu đau thương, tột cùng bế tắt. Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từng: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu / Có nghĩa gì đâu một buổi chiều  / Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt / Bằng hương nhè nhẹ gió hiu hiu”. Mong manh dễ vỡ là thế, nhưng mênh mông, khó hiểu đến vô cùng, khi ta đã “sai duyên” và “nhầm người”. Nhật Quỳnh đã dùng giả dụ, lấy lòng đo lòng, để phác họa cái nông sâu của yêu đương từ hai phía của nhân loại, giữa thăm thẳm hành trình. Duyện phận không thành, mệnh số lênh đênh, mất đi một bờ vai để tựa, Nhật Quỳnh đã tựa vào bờ vai thơ, ra ngoài vòng danh lợi mà đi, nhắm hướng vô cùng mà đến, hồn nhiên, bản lĩnh như không gì lay chuyển nổi những bước đơn thân của chị.  Nhật Quỳnh mong manh, Nhật Quỳnh hồng nhan, chị đã tìm thơ trong cơm áo chứ không tìm cơm áo trong thơ, nên cuộc sống đã phả vào thơ chị, một ngôn ngữ riêng, chất liệu nhẹ mà bền vững. Không gian thơ của chị triền miên vang lên những âm thanh của tình yêu rung cảm tâm hồn chúng ta, đánh động tiềm thức, chấm lửng trái tim, của một thời mà ai cũng đã từng qua, Bông hoa trái mùa thường là quý hiếm, mưa trái mùa, lại là điều báo hiệu gì đây của thiên nhiên đối với con người, mưa hạ sẽ gợi lên sự rạo rực của mái tranh khô, nhưng không thể nào ướt nổi ngon nến sinh nhật của một người thơ thì chỉ có mưa lòng:

“Biết không anh

mùa hạ đã vào mưa

những cơn mưa mang gương mặt người

nhảy múa

những cơn mưa vô tình vây bủa

không ngăn được ngọn nến cháy lên

ngập hoa

ngọt bánh

trong nghĩa bạn bè em có thêm anh …”

(Ngày sinh nhật)

“Cơn mưa mang gương mặt người, nhảy múa” đó là hình tượng mới trong thơ Nhật Quỳnh gợi cho ta cả vấn đề triết lý nhân sinh gì đây? Trong thăm thẳm, tận cùng sự vỡ vụn của tình yêu đã kết lại tình bạn. Trong mênh mông tuyệt vọng, tình yêu lại bắt đầu. Nhật Quỳnh đã vớt lên giữa dòng đời, những nỗi buồn trong veo, buồn mà không nản, bi mà không lụy, trằn trọc mà không than vãn, tiết lộ nội tâm, những nỗi buồn làm vui cho thiên hạ qua thơ. Cũng như ngoài đời còn biết bao những bôn ba xuôi ngược áo cơm thế mà Nhật Quỳnh vẫn im lặng làm thơ, miệt mài với lao động nghệ thuật thật là điều quý hóa vô cùng, khổ thơ trên đa nghĩa, đa chiều, thật lòng thì ta khó đi hết chiều sâu của nó

“Em lại thấy buồn vô cớ vì anh

khi thành phố đã về đêm khuya khoắt

kỷ niệm tưởng khô cằn thức giấc

em giật mình cay mắt giữa cơn mưa …”

Trong toàn tập thơ Nhật Quỳnh nhắc đến những cơn mưa. Phải chăng mưa là chứng nhân cho những cung bậc tình yêu nên đã đi vào thơ Nhật Quỳnh rất hồn nhiên, Đúng vậy không dưng mà nhạc sĩ Hà Phương đã viết: “ Cô đơn cuộc đời / Ngồi bên song cửa / Trông bóng ai ngoài mưa / Mà nhớ người”.  Nhật Quỳnh đã đưa cái vô hạn của thiên nhiên vào trong cái hữu hạn của đời người để rồi phát tiết ra những âm thanh trong hư không mà vọng về hiện thực

“Cuối đông ngồi ngắm cơn mưa

giọt hiện tại giọt xa xưa chan hòa

cuối xuân ngồi đếm cành hoa

đâu điều hiện hữu đâu là hư không”

(Tôi)

Người đã nhận biết được sự có, không trên cõi đời này là người đã bình tĩnh trước cái mất mát không thành để xác tín cho hướng đi của mình giữa còi tạm trần ai đa đoan này. Do vậy, Nhật Quỳnh phát tiết ra những tiếng lòng dữ dội từ một cõi lặng đến bất ngờ.

“Anh không về qua ngõ cuối mùa thu

em một mình xòe tay đếm lá

cơn mưa bất chợt về ngang cửa

có ánh mắt nhìn – chết phía người dưng

……

Anh không về qua ngõ cuối mùa thu

cây cải luống hết ngồng đứng khóc

đốm nắng vàng mong manh cơn gió bấc

giọt sương ngập ngừng lăn qua kẻ tay.”

(Anh không về)

Lại mưa, thơ Nhật Quỳnh không thể vắng những cơn mưa, thế mà người thơ cứ bỏng rát hành trình. Viết hết mình cho trọn vẹn và dở dang là vậy. Toàn bộ tập thơ hơn 80 bài, chị đã nhuần nhuyễn với những câu lục bát hiện đại, lay gợi với những câu thơ tự do bằng những hình tượng và ngôn từ mới lạ qua cách nói rất riêng của chị. “Anh không về qua ngõ cuối mùa thu / Cây cải luống hêt ngồng đứng khóc”. Cây cải mang hồn người biết khóc cho người con gái đợi chờ. Thiên nhiên và con người có mối quan hệ như một cái đạo, hiểu nhau thương nhau, luôn mở ra và hướng tới, không khép lại bao giờ, đối với thơ haiku Nhật, ý này sâu sắc lắm.

Thường thì Nhật Quỳnh viết một mạch từ đầu đến cuối bài, một dòng thơ tha hồ chảy. Nhưng chị đã khéo léo trong chuyển ý và ngắt câu rõ ràng tạo thành dấu nhấn cho bố cục, đây cũng là đặc tính riêng trong thơ Nhật Quỳnh. Chị đã cắt nhịp và vận dụng luật đổi thanh trong thể thơ tự do mà tạo thành tiết tấu êm tai khi ta đọc lên. Có những bài thơ viết dài nhưng không thừa ý, giãn tứ, những câu kết bao giờ cũng vớt lên sự bình yên, nhân hậu. Thơ Nhật Quỳnh giàu nhạc điệu, chị là một nghệ sĩ diễn ngâm, do vậy mà cách ngắt nhịp, ngắt câu vừa hơi cho người đọc:

… “Trời lại sâu hơn trong ánh mắt của cha

mẹ giấu sau lưng tiếng thở dài khắc khoải

cửa vào đời ta những ngày nắng cháy

gió thở lên trời nứt khô môi đồng bãi…

ta lớn lên tuổi thơ thì ở lại

bên những dòng sông khát nước mệt nhoài

sẽ chẳng bao giờ nỗi nhớ nguôi ngoai

dẫu màu thu vẫn ấp đầy hương cốm

em vẫn mơ gặp anh – thời mới lớn

tìm lại “cọng rơm vàng”

em cột tóc năm nao …”

(Gởi cho thơ)

“Gió thở lên trời nứt khô môi đồng bãi” là hình tượng mới lạ, thiên nhiên đã xuất hiện ngôn ngữ và hành động trong thơ Nhật Quỳnh. Hay là Nhật Quỳnh đã mở tâm hồn ra cho thiên nhiên ùa vào. Chứng kiến con sông khát nước mệt nhoài, “con sông khát nước” một nghịch lý mà Nhật Quỳnh nêu ra lại rất có lý khi con người tác động xâm hại môi trường.

Có những lúc Nhật Quỳnh chưng nắng rồi cất vào khoảng mênh mông, cho nắng về với thiên nhiên nhưng đẹp hơn, tinh khiết hơn thật là một việc khó khăn chỉ có nhà thơ mới làm được.

Những người anh không cụ thể trong thơ Nhật Quùnh, chị đã giả dụ để đối thoại, chất vấn làm làm rõ cảm xúc của mình, làm phong phú cho thơ. Chúng ta hãy đọc lục bát của Nhật Quỳnh:

… “Tháng ba rét ngọt cánh chuồn

bếp xâu từng sợi khói luồn ngõ sau!

áo toan sứt chỉ bạc màu

mẹ toan vá lại nỗi đau thuở nào

tôi thành một khúc ca dao

níu chân mẹ lại cầu ao bên này

phong phanh áo mong vai gầy

gió lùa buốt cả gót lầy cuối đông

………

Heo may lất phất sương mù

mẹ ngồi bên lở

lời ru bên bồi”.

Hai câu thơ “Tôi thành một khúc ca dao/Níu chân mẹ lại cầu ao bên này” đã bức phá chuyển thực vào hư, rất đậm chất thơ câu ca dao đã hóa hồn người, níu chân mẹ.

Hoặc:

 “Mớ rau đã trật trưa rồi

dăm con tép bạc nói lời gió sương

chợ quê nhóm dọn bên đường

chân quê sấp ngửa còn vương bóng chiều”

Nhật Quỳnh đã đưa ta đi từ những cảm xúc đô thị đến những huyền cảm của nông quê yêu dấu, tình cảm thiêng liêng của người thân và tình yêu đôi lứa. Ở đây Nhật Quỳnh đã vẽ nên một bức tranh biết nói mà ai cũng thấy mình được mời đến thưởng ngoạn.

Thơ Nhật Quỳnh, hiện đại phát triễn trên nền truyền thống, lưu giữ được tâm hồn thơ Việt, thơ chị đã thực sự đi vào lòng người đọc của nhiều thế hệ.

Nhật Quỳnh đã giả dụ hành trình thơ từ nguyên mẫu xa xưa, nên đằm sâu cảm xúc, không hoan ca như những ai đã vẹn câu thề. Nhật Quỳnh làm thơ thường khi cảm xúc đã chín muồi, chị lơ mơ sương khói với vô thức nên những câu thơ như trời cho đã xuất hiện, nếu không ghi lại trong lúc thăng hoa tôi nghĩ vài giây sau không tìm lại trong trí mình được. Giả dụ của Nhật Quỳnh cũng đẹp như “Ví dụ ta yêu nhau” của nhà văn Đoàn Thạch Biền.

Mưa trời sẽ kín đáo quán trọ trần gian này, mưa lòng sẽ kín đáo cho thơ Nhật Quỳnh. Nhật Quỳnh luôn tĩnh lặng, không chen lấn ra phía trước, không thể hiện mình trước đám đông, khiêm tốn là cái chất của Nhật Quỳnh, có lẽ do vậy mà nội lực của chị thâm hậu và bền vững. Đi trong mưa của Nhật Quỳnh, ai mà không bồi hồi nhớ nhung những những kỷ niệm, những mưa xưa. Chị đã làm tôi nhớ đến giọng ca của Thanh Thúy với những ca từ đứt ruột của nhạc sĩ Huỳnh Anh “Phải chăng mưa buồn vì tình đời / Mưa sầu vì lòng người muôn kiếp không phai”. Chưa thể đi hết những gì trong thơ Nhật Quỳnh, xin mở đường đôi dòng về “Giả dụ”. Chúc chị thành công trong hướng đi của mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm