TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những câu thơ ướt mưa kỷ niệm mà tươi xanh màu mắt của Nhật Quỳnh

Những câu thơ ướt mưa kỷ niệm mà tươi xanh màu mắt của Nhật Quỳnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-12-17 17:40:27
mail facebook google pos stwis
1860 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Nhật Quỳnh đến giữa chúng ta như một nàng thơ trang trọng và tao nhã, chị đã thực hiện sứ mệnh trời giao là “trút vào linh hồn người khác những khoái lạc đam mê, nhưng rất thơm tho và tinh khiết” chị chưa sống lâu nhưng chị đã sống nhiều, với đầy đủ những chiêm nghiệm và từng trải trong cuộc sống, yêu đương, những bềnh bồng dâu bể, những hạnh phúc và đau thương, những bình yên và sóng gió.

Nhật Quỳnh cũng giống như bao nhiêu người con gái khác, “ai lớn lên mà không từng yêu đương” hò hẹn đó là lẽ thường tình. Thế nhưng tình yêu luôn là đề tài muôn thuở của nhân loại, nó đem đến cho loài người những thiên đường hạnh phúc, đê mê, nhưng nó cũng dìm con người tận đáy bể sâu đau thương, tột cùng bế tắt. Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từng: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu / Có nghĩa gì đâu một buổi chiều  / Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt / Bằng hương nhè nhẹ gió hiu hiu”. Mong manh dễ vỡ là thế, nhưng mênh mông, khó hiểu đến vô cùng, khi ta đã “sai duyên” và “nhầm người”. Nhật Quỳnh đã dùng giả dụ, lấy lòng đo lòng, để phác họa cái nông sâu của yêu đương từ hai phía của nhân loại, giữa thăm thẳm hành trình. Duyện phận không thành, mệnh số lênh đênh, mất đi một bờ vai để tựa, Nhật Quỳnh đã tựa vào bờ vai thơ, ra ngoài vòng danh lợi mà đi, nhắm hướng vô cùng mà đến, hồn nhiên, bản lĩnh như không gì lay chuyển nổi những bước đơn thân của chị.  Nhật Quỳnh mong manh, Nhật Quỳnh hồng nhan, chị đã tìm thơ trong cơm áo chứ không tìm cơm áo trong thơ, nên cuộc sống đã phả vào thơ chị, một ngôn ngữ riêng, chất liệu nhẹ mà bền vững. Không gian thơ của chị triền miên vang lên những âm thanh của tình yêu rung cảm tâm hồn chúng ta, đánh động tiềm thức, chấm lửng trái tim, của một thời mà ai cũng đã từng qua, Bông hoa trái mùa thường là quý hiếm, mưa trái mùa, lại là điều báo hiệu gì đây của thiên nhiên đối với con người, mưa hạ sẽ gợi lên sự rạo rực của mái tranh khô, nhưng không thể nào ướt nổi ngon nến sinh nhật của một người thơ thì chỉ có mưa lòng:

“Biết không anh

mùa hạ đã vào mưa

những cơn mưa mang gương mặt người

nhảy múa

những cơn mưa vô tình vây bủa

không ngăn được ngọn nến cháy lên

ngập hoa

ngọt bánh

trong nghĩa bạn bè em có thêm anh …”

(Ngày sinh nhật)

“Cơn mưa mang gương mặt người, nhảy múa” đó là hình tượng mới trong thơ Nhật Quỳnh gợi cho ta cả vấn đề triết lý nhân sinh gì đây? Trong thăm thẳm, tận cùng sự vỡ vụn của tình yêu đã kết lại tình bạn. Trong mênh mông tuyệt vọng, tình yêu lại bắt đầu. Nhật Quỳnh đã vớt lên giữa dòng đời, những nỗi buồn trong veo, buồn mà không nản, bi mà không lụy, trằn trọc mà không than vãn, tiết lộ nội tâm, những nỗi buồn làm vui cho thiên hạ qua thơ. Cũng như ngoài đời còn biết bao những bôn ba xuôi ngược áo cơm thế mà Nhật Quỳnh vẫn im lặng làm thơ, miệt mài với lao động nghệ thuật thật là điều quý hóa vô cùng, khổ thơ trên đa nghĩa, đa chiều, thật lòng thì ta khó đi hết chiều sâu của nó

“Em lại thấy buồn vô cớ vì anh

khi thành phố đã về đêm khuya khoắt

kỷ niệm tưởng khô cằn thức giấc

em giật mình cay mắt giữa cơn mưa …”

Trong toàn tập thơ Nhật Quỳnh nhắc đến những cơn mưa. Phải chăng mưa là chứng nhân cho những cung bậc tình yêu nên đã đi vào thơ Nhật Quỳnh rất hồn nhiên, Đúng vậy không dưng mà nhạc sĩ Hà Phương đã viết: “ Cô đơn cuộc đời / Ngồi bên song cửa / Trông bóng ai ngoài mưa / Mà nhớ người”.  Nhật Quỳnh đã đưa cái vô hạn của thiên nhiên vào trong cái hữu hạn của đời người để rồi phát tiết ra những âm thanh trong hư không mà vọng về hiện thực

“Cuối đông ngồi ngắm cơn mưa

giọt hiện tại giọt xa xưa chan hòa

cuối xuân ngồi đếm cành hoa

đâu điều hiện hữu đâu là hư không”

(Tôi)

Người đã nhận biết được sự có, không trên cõi đời này là người đã bình tĩnh trước cái mất mát không thành để xác tín cho hướng đi của mình giữa còi tạm trần ai đa đoan này. Do vậy, Nhật Quỳnh phát tiết ra những tiếng lòng dữ dội từ một cõi lặng đến bất ngờ.

“Anh không về qua ngõ cuối mùa thu

em một mình xòe tay đếm lá

cơn mưa bất chợt về ngang cửa

có ánh mắt nhìn – chết phía người dưng

……

Anh không về qua ngõ cuối mùa thu

cây cải luống hết ngồng đứng khóc

đốm nắng vàng mong manh cơn gió bấc

giọt sương ngập ngừng lăn qua kẻ tay.”

(Anh không về)

Lại mưa, thơ Nhật Quỳnh không thể vắng những cơn mưa, thế mà người thơ cứ bỏng rát hành trình. Viết hết mình cho trọn vẹn và dở dang là vậy. Toàn bộ tập thơ hơn 80 bài, chị đã nhuần nhuyễn với những câu lục bát hiện đại, lay gợi với những câu thơ tự do bằng những hình tượng và ngôn từ mới lạ qua cách nói rất riêng của chị. “Anh không về qua ngõ cuối mùa thu / Cây cải luống hêt ngồng đứng khóc”. Cây cải mang hồn người biết khóc cho người con gái đợi chờ. Thiên nhiên và con người có mối quan hệ như một cái đạo, hiểu nhau thương nhau, luôn mở ra và hướng tới, không khép lại bao giờ, đối với thơ haiku Nhật, ý này sâu sắc lắm.

Thường thì Nhật Quỳnh viết một mạch từ đầu đến cuối bài, một dòng thơ tha hồ chảy. Nhưng chị đã khéo léo trong chuyển ý và ngắt câu rõ ràng tạo thành dấu nhấn cho bố cục, đây cũng là đặc tính riêng trong thơ Nhật Quỳnh. Chị đã cắt nhịp và vận dụng luật đổi thanh trong thể thơ tự do mà tạo thành tiết tấu êm tai khi ta đọc lên. Có những bài thơ viết dài nhưng không thừa ý, giãn tứ, những câu kết bao giờ cũng vớt lên sự bình yên, nhân hậu. Thơ Nhật Quỳnh giàu nhạc điệu, chị là một nghệ sĩ diễn ngâm, do vậy mà cách ngắt nhịp, ngắt câu vừa hơi cho người đọc:

… “Trời lại sâu hơn trong ánh mắt của cha

mẹ giấu sau lưng tiếng thở dài khắc khoải

cửa vào đời ta những ngày nắng cháy

gió thở lên trời nứt khô môi đồng bãi…

ta lớn lên tuổi thơ thì ở lại

bên những dòng sông khát nước mệt nhoài

sẽ chẳng bao giờ nỗi nhớ nguôi ngoai

dẫu màu thu vẫn ấp đầy hương cốm

em vẫn mơ gặp anh – thời mới lớn

tìm lại “cọng rơm vàng”

em cột tóc năm nao …”

(Gởi cho thơ)

“Gió thở lên trời nứt khô môi đồng bãi” là hình tượng mới lạ, thiên nhiên đã xuất hiện ngôn ngữ và hành động trong thơ Nhật Quỳnh. Hay là Nhật Quỳnh đã mở tâm hồn ra cho thiên nhiên ùa vào. Chứng kiến con sông khát nước mệt nhoài, “con sông khát nước” một nghịch lý mà Nhật Quỳnh nêu ra lại rất có lý khi con người tác động xâm hại môi trường.

Có những lúc Nhật Quỳnh chưng nắng rồi cất vào khoảng mênh mông, cho nắng về với thiên nhiên nhưng đẹp hơn, tinh khiết hơn thật là một việc khó khăn chỉ có nhà thơ mới làm được.

Những người anh không cụ thể trong thơ Nhật Quùnh, chị đã giả dụ để đối thoại, chất vấn làm làm rõ cảm xúc của mình, làm phong phú cho thơ. Chúng ta hãy đọc lục bát của Nhật Quỳnh:

… “Tháng ba rét ngọt cánh chuồn

bếp xâu từng sợi khói luồn ngõ sau!

áo toan sứt chỉ bạc màu

mẹ toan vá lại nỗi đau thuở nào

tôi thành một khúc ca dao

níu chân mẹ lại cầu ao bên này

phong phanh áo mong vai gầy

gió lùa buốt cả gót lầy cuối đông

………

Heo may lất phất sương mù

mẹ ngồi bên lở

lời ru bên bồi”.

Hai câu thơ “Tôi thành một khúc ca dao/Níu chân mẹ lại cầu ao bên này” đã bức phá chuyển thực vào hư, rất đậm chất thơ câu ca dao đã hóa hồn người, níu chân mẹ.

Hoặc:

 “Mớ rau đã trật trưa rồi

dăm con tép bạc nói lời gió sương

chợ quê nhóm dọn bên đường

chân quê sấp ngửa còn vương bóng chiều”

Nhật Quỳnh đã đưa ta đi từ những cảm xúc đô thị đến những huyền cảm của nông quê yêu dấu, tình cảm thiêng liêng của người thân và tình yêu đôi lứa. Ở đây Nhật Quỳnh đã vẽ nên một bức tranh biết nói mà ai cũng thấy mình được mời đến thưởng ngoạn.

Thơ Nhật Quỳnh, hiện đại phát triễn trên nền truyền thống, lưu giữ được tâm hồn thơ Việt, thơ chị đã thực sự đi vào lòng người đọc của nhiều thế hệ.

Nhật Quỳnh đã giả dụ hành trình thơ từ nguyên mẫu xa xưa, nên đằm sâu cảm xúc, không hoan ca như những ai đã vẹn câu thề. Nhật Quỳnh làm thơ thường khi cảm xúc đã chín muồi, chị lơ mơ sương khói với vô thức nên những câu thơ như trời cho đã xuất hiện, nếu không ghi lại trong lúc thăng hoa tôi nghĩ vài giây sau không tìm lại trong trí mình được. Giả dụ của Nhật Quỳnh cũng đẹp như “Ví dụ ta yêu nhau” của nhà văn Đoàn Thạch Biền.

Mưa trời sẽ kín đáo quán trọ trần gian này, mưa lòng sẽ kín đáo cho thơ Nhật Quỳnh. Nhật Quỳnh luôn tĩnh lặng, không chen lấn ra phía trước, không thể hiện mình trước đám đông, khiêm tốn là cái chất của Nhật Quỳnh, có lẽ do vậy mà nội lực của chị thâm hậu và bền vững. Đi trong mưa của Nhật Quỳnh, ai mà không bồi hồi nhớ nhung những những kỷ niệm, những mưa xưa. Chị đã làm tôi nhớ đến giọng ca của Thanh Thúy với những ca từ đứt ruột của nhạc sĩ Huỳnh Anh “Phải chăng mưa buồn vì tình đời / Mưa sầu vì lòng người muôn kiếp không phai”. Chưa thể đi hết những gì trong thơ Nhật Quỳnh, xin mở đường đôi dòng về “Giả dụ”. Chúc chị thành công trong hướng đi của mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm