TIN TỨC

Những hoài niệm cứ thao thức trong thơ Nguyễn Đình Sinh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-12-29 14:43:10
mail facebook google pos stwis
2627 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Tôi đã gặp Nguyễn Đình Sinh vào những năm chín mươi của thế kỷ hai mươi, trong những lần giao lưu bè bạn văn chương, của nhóm thân hữu giữa Bình Định và Gia Lai, anh nhiệt tình, sôi nổi, luôn mở lòng ra với bạn bè, dễ gần gũi, có những lần anh đã cùng bạn bè vượt đèo An Khê vời vợi lên miền Tây Sơn Thượng Đạo, để thưởng thức trăng rừng, gió núi với tôi, rồi lại có lần tôi cùng anh với gió cát, trăng sao, rót khuya đầy ly, ngồi nghe tiếng vọng của trùng khơi, trên bãi biển Quy Nhơn.

Nguyễn Đình Sinh là người lính trở về sau cuộc chiến, anh trở lại với con đường học vấn rồi giảng dạy tại trường Đại Học Quy Nhơn. Hành trang mà anh đã mang theo trong suốt hành trình thi ca là hình ảnh quê nhà, người mẹ, cây đa, bến nước, sân đình, con đò, sông trăng, có cô láng giềng mây mẩy dậy thì, những bước chân hành quân rạo rực Trường Sơn, những miền đất anh đã đến và đi đã gợi cho anh bao vẻ đẹp của non sông hùng vỹ.


Nhà thơ Nguyễn Đình Sinh và bìa tập thơ mới nhất của anh.

Những câu thơ tạc vào Trường Sơn, những hình ảnh không thể nào quên, đã làm cho ta xúc động biết bao: “Những bức thư tình viết xong không gửỉ được / Bởi nơi anh gặp em là ở chiến trường / Cô gái Trường Sơn tràn đầy mơ ước / Đã xếp bút nghiên tình nguyện lên đường”, và rồi anh đã “Giữ bức thư như báu vật chiến trường / Nay có dịp về Trường Sơn thăm lại / Xin thầm đọc tặng em với tấm lòng thành kính / Và sự chân thành người lính tới em yêu”. Lá đỏ Trường Sơn đã đi vào thi ca, nhạc, họa, là điểm nhấn trong ký ức Trường Sơn một thời máu lửa chưa xa và nay đã rơi vào thơ Nguyễn Đình Sinh những kỷ niệm nhạt nhòa thương nhớ “Giữa nơi đạn bom mịt mờ khói lửa / Chuyện tử sinh nào tính trước bao giờ / Em làm hoa tiêu qua ngầm đêm bom dội / Anh xót xa hoài nặng nỗi ưu tư”, rồi anh lại đau đáu “Mỗi độ giao mùa cây ngời là đỏ / Lại duềnh lên nỗi nhớ Trường Sơn”.

Những dòng lưu bút ngày xanh viết cho nhau ở lứa tuổi học trò mỗi mùa hoa phượng đỏ thắm sân trường, thường làm cho chúng ta nhớ nhung, man mác nỗi buồn ly biệt, chênh chao tuổi mới lớn, Nguyễn Đình Sinh cũng đã từng như thế, nhưng khi giã từ mái trường thân yêu để lên đường ra chiến trường anh lại sống giữa yêu thương lo lắng cho nhau của đồng đội, lứa tuổi đôi mươi, mười tám trăng tròn, hương thơm làm dịu cả núi rừng, làm nô nức con đường ra trận. Nguyễn Đình Sinh lại trưởng thành với những dòng lưu bút màu đỏ, nhắc nhau những năm tháng hãi hùng, gian khổ hy sinh, sống chết trong tấc gang, nhưng rất tự hào, anh đã tan chảy theo những dòng lưu bút màu đỏ ấy của những cô gái Thanh Niên Xung Phong, dẫn đường, canh đường qua ngầm sâu trong khi vẫn đạn nổ bom rơi trên đầu, có đó rồi mất đó, sự hy sinh bất ngờ, không ai biết trước được, những dòng lưu bút ấy đã thức dậy trong nhà thơ những hoài niệm khó quên, và ngày trở lại Trường Sơn anh đã nghe lòng rướm máu “Anh hiểu em, viết dòng lưu bút để tặng anh / Giữa hai đợt giặc ném bom vừa dứt / Để thể hiện tinh yêu người lính chiến trường / Tình đồng đội thiêng liêng hơn tình yêu nam nữ”. Rồi nhà thơ muốn tan theo dòng lưu bút ngược về lịch sử, để mà yêu thương trân quý, một hoài niệm hành trình “Vài dòng lưu bút em ghi mang hồn thiên sứ / Để anh nhớ về một thời hào hùng gian khổ / Vẫn còn ngời lên sắc đỏ yêu thương”.

Những câu thơ viết cho cảnh cũ người xưa, quê hương tuổi thơ, người thân, mẹ già, khói bếp, mây chiều, ngày xuân tháng hạ luôn đau đáu trong tâm hồn anh. Nhớ lắm yêu lắm, thương đến vô bờ anh đã viết ra những câu thơ tự nhiên như thế này “Từ phương xa con nhớ / Khói bếp chiều ba mươi /Cái rét đi ngang ngõ / Mùa xuân giăng đầy trời /…/ Và xuân về gõ cửa / Chợt thấy lòng bâng khuâng / Lửa bập bùng lòng Mẹ / Gọi giêng hai quay quần / Từ phương xa con nhớ / Khói bếp chiều ba mươi”. Người lính ra đi vào chiến trường, ngày về trong thanh bình lại tất bật áo cơm, lại xa quê lần nữa lại dặm dài thương nhớ quê hương, với tốc độ đô thị hóa đến chóng mặt hôm nay, không riêng gì Nguyễn Đình Sinh mà không biết bao nhiêu người con xa xứ khác, khi trở về đã thở dài thương nhớ ngày xưa “Tiếng vạc đêm đã thành điển tích / Chìm vào dĩ vãng mong manh / Quê giờ đã thành đô thị / Cánh vạc bơ vơ phố xá lên đèn”. Và anh đã nghe tiếng chim và hạt lúa lạc nhau, đây cũng là những ý lạ trong thơ Nguyễn Đình Sinh “Quê nay đã thành phố thị / Đông vui san sát nhà tầng / Về làng chân chim bối rối / Sương chiều mắt lúa rưng rưng”.

Anh đã lớn lên từ cái gian khó của quê hương, và dậy thì theo sắc đẹp của những cô láng giềng, để rồi sức vóc trai trẻ giữa trái tim trưởng thành “Củ khoai, đọt bí rổ cà / Ngoài vườn bòn mót đem ra chợ làng / Lời em rót mật dịu dàng / Áo bà ba mỏng hiền ngoan dáng người / Lưng ong thắt đáy nụ cười / Thắt luôn cả trái tim tôi với nàng/…/ Về quê lòng dạ bồi hồi / Xa quê tôi lại ngậm ngùi nhớ quê”. Ngày xưa Làng là đơn vị hành chính gắn liền với mỗi một con người sinh ra và lớn lên ở đấy, nơi thân thương gắn bó hữu cơ gần như máu thịt giữa những con người với nhau, bảo vệ nhau, thương nhau hết mực, bởi vậy mỗi khi có sự uy hiếp nào đó họ thường “la làng”, không dưng mà dân gian lại có câu ca dao “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, nhất là những ngày xuân đến người ta lại nhớ làng da diết. Nguyễn Đình Sinh cũng đã từng “Mỗi độ tết về hanh vàng quê nỗi nhớ / Ngõ xóm nhà nhà hớn hở đón xuân / Là người con của Làng bao năm xa xứ / Rưng rức đi đau đáu nỗi niềm / Qúa nửa đời tha hương phiêu bạt / Tôi muốn về quê tạc lại chính mình”. Nhớ Làng là thuộc tính của mỗi con người trong chúng ta, trên những bước chân lãng du thi ca, nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng đã từng “Khách xa gặp lúc mùa xuân chín / Lòng trí bâng khuâng sực nhớ Làng”, cảm xúc này đã và sẽ vượt thời gian dù rằng nhịp độ đô thị hóa có diễn ra từng ngày.

Trong thơ Nguyễn Đình Sinh ta thường thấy xuất hiện rất nhiều tiếng “em”, hầu như gần khắp cả tập thơ. Tôi nghĩ đây là những người em không cụ thể, anh hư cấu vào để đối thoại, để tâm sự, để giải bày, để kêu gọi, để năn nỉ, làm cho những bài thơ tình của anh như đang nở rộ yêu thương nguyên mẫu vậy. người em ở đây cũng có thể là, những địa danh, những bông hoa anh đã gặp và thân thương.

Nguyễn Đình Sinh đã quen viết những bài thơ ngắn không vần, anh quan tâm về ý, đa nghĩa đa chiều, ẩn, hiện, người đọc cũng khó đi hết chiều sâu của nó, thật ra viết thơ không vần không phải là dễ, nó vẫn cần cách nói, nhịp điệu, sự vang của âm thanh, giàu nhạc điệu. v.vv. Tuy nhiên thơ anh đã có từng bước vững chắc cho thể loại này. Từ “Gánh thời gian” qua “Tiếng vọng” đến “Gío còn thổi mãi” và nay đến “Nhớ một miền trăng”, thơ anh ngày càng khởi sắc. Với những chia sẻ trên đây, tôi xin mở cửa cho quý vị vào thưởng thức “Vườn trăng” của Nguyễn Đình Sinh xuất bản năm 2022. Tôi tin rằng thơ anh sẽ có bứt phá trong tương lai, và luôn ở lại trong lòng bạn đọc, xin chúc anh có sự thành công trong hướng đi của mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm