TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những khắc khoải phận người ở ‘Thời nắng xanh” của thi sĩ Trương Nam Hương

Những khắc khoải phận người ở ‘Thời nắng xanh” của thi sĩ Trương Nam Hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-15 05:21:43
mail facebook google pos stwis
4745 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Ở Thời nắng xanh & những bài thơ khác hành trình sáng tạo của nhà thơ Trương Nam Hương mang nét thâm trầm, thanh dịu như các tập thơ trước, thể hiện rõ nét hơi thở thời đại và tiếng nói của một thế hệ biết tận hiến hết mình trước cuộc sống và tình yêu; và đó như là niềm mơ ước của nhiều người cầm bút.

146 bài thơ trong Thời nắng xanh & những bài thơ khác bao gồm nhiều đề tài, chủ đề khác nhau nhưng tất cả đều thể hiện một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, với nhiều suy tư và trắc ẩn. Dù viết về điều gì, viết về đối tượng, chủ đề nào thơ Trương Nam Hương vẫn mang những rung động rất đỗi chân thành, nhân văn, nhân ái và có chiều sâu của triết lý. Mẹ nuông ấm đời con bằng Quan họ/ Thuở trúc xinh gọi chú ớt ơi à/ Môi đã ríu mạn thuyền thừa Quán dốc/ Mắt đã dài cho ướt cả ngày xa/ Trăng ửng lớn một lần con dối mẹ/ Đánh rơi đêm vào chỗ rễ si xòa/ Sông Mẹ thức trắng nửa bờ lau nhắc/ Mai con về tạ lỗi với phù sa (Nhớ sông Mẹ). Đọc những câu thơ, người đọc không khỏi bồi hồi xúc động, nỗi nhớ sông Mẹ với những biểu tượng đầy ám ảnh, dòng sông Mẹ chính là dòng sông đời, luôn chảy dài trong huyết mạch nhà thơ. Để rồi, anh nhận ra mình còn mắc nợ và tận trong sâu thẳm tâm can Trương Nam Hương tự nhắc nhớ: Mai ta về tạ lỗi với phù sa.

Nhân đọc tập thơ Thời nắng xanh & những bài thơ khác của Trương Nam Hương, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022.

Ở Thời nắng xanh..., người đọc vẫn thấy Thơ Trương Nam Hương trung thành với lối thơ truyền thống có sự giao thoa với hiện đại. Vì thế độc giả rất dễ đồng cảm với những vần thơ anh viết ra. Thơ Trương Nam Hương, viết ở thể thơ nào cũng đều có những bài thơ hay. Tập Thời nắng xanh, thơ lục bát, thơ tứ tuyệt, thơ 7-8 chữ có thể xem là chủ đạo làm nên vóc dáng, hồn cốt của tập sách này.

Thơ tứ tuyệt có thế mạnh riêng của nó trong việc bày tỏ tình cảm, cảm xúc của người viết. Nhưng khó ở chỗ là dung lượng câu chữ ít, người viết nếu không có nghề, không có kiến văn thì dễ rơi vào nhàm chán, sáo mòn. Nhưng Trương Nam Hương đã không mắc vào những lỗi ấy. Nhà thơ đã rất thành công ở những bài thơ viết theo thể loại này, nhất là viết về những tên tuổi văn học nổi tiếng, những nhân vật văn học điển hình bất hủ: Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đồ Chiểu, Sơn Nam, Thảo Phương, Chữ Đồng Tử, Thúy Kiều, ... và cả những bài thơ viết về mẹ, về cha, về con và về em!

Viết về những nhân vật điển hình trong văn học, dù chỉ 4 câu thơ ngắn nhưng Trương Nam Hương vẫn phác họa được những đặc trưng, phẩm tính của từng nhân vật. Đây là điều không hề đơn giản, nếu không am tường, không có vốn sống, không có tài năng thì không thể nào viết được như vậy. Chẳng hạn khi viết về nhân vật Thị Nở, một nhân vật điển hình trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, hình ảnh vầng trăng ỡm ờ, tình vật say của Chí Phèo trong vườn chuối, ta thấy được cái hồn cốt của nhân vật được nhà thơ chuyển tải sinh động, đủ đầy, độc đáo: Trăng ỡm ờ Thị Nở/ Tình vật say Chí Phèo/ Gió đầm đìa hớp thở/ Lá chuối vường giãy yêu (Trăng Thị Nở).

Trong hành trình thơ Trương Nam Hương, bên cạnh những bài thơ tứ tuyệt hay, anh còn có những bài thơ viết theo các thể thơ khác tạo ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc như: Tâm sự nàng Thúy Vân, Chí Phèo tự bạch, Ưu tư Thị Mầu, Mưa lạc mùa, Xa lắc mùa thu, Cổ tích của bà, Làm vua ở Huế, Với sông Hồng, Quán thời gian, Nhặt tuổi mình...

Những bài thơ được chia khổ, mỗi khổ 3 dòng thơ cũng là những bài thơ rất ấn tượng của Trương Nam Hương. Đọc. Ngẫm ngợi. Suy tưởng. Người đọc sẽ thấy ró nét tinh hoa, sự độc đáo được phát tiết trên từng con chữ, khổ thơ. Bài thơ Bóng quê, Lỗi hẹn sông Cầu, Lặng lẽ, Trăng mật... là những bài thơ tiêu biểu cho điều vừa nói ở trên.

Cái hay là anh đã tạo ra được những liên tưởng mới mẻ, độc đáo với những tứ thơ lạ; ngôn ngữ trôi chảy theo mạch tự nhiên nhưng giàu cảm xúc, nhiều từ ngữ sử dụng rất đắt, hình ảnh thơ mang tính hình tượng cao. Giữa phông sóng, voan sương và cát biển/ Anh cúi hôn em ở thế trăng quỳ/ Em nở lên anh đóa sen hây múa/ Đất với trời cuống quýt khỏa xiêm y. Những hình ảnh ví von đẹp, lạ, bất ngờ và giàu sức gợi.

Thế giới nghệ thuật được chuyển tải qua lời thơ như một chuỗi phát ngôn. Nhà thơ Trương Nam Hương sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế, tạo thành hình tượng đa dạng, độc đáo. Ngôn ngữ đã được hiện thực hóa, mang phong cách sáng tạo và bút pháp riêng của Trương Nam Hương. Có những từ ngữ, câu thơ anh sử dụng rất hay/lạ chứa đựng khả năng biểu cảm lớn, mang ý nghĩa sâu xa. Lòng ta giờ cũng sa trường/ Niềm tin giương nỏ, nỗi buồn trúng tên! (Tạp nghĩ); Sông nằm cho Huế nghiêng xinh/ Núi ngồi cho Huế nghiêng mình rêu phong (Nhỡ mùa sen); Tôi uống cạn dòng sông trong vốc tay ký ức/ Nghe mùa Thu xa lắc ngấm vô lòng (Xa lắc mùa Thu); Những mộ cỏ đầu gà ngúc ngắc/ Tuổi thơ tôi thơm thao bùn đất (Thời nắng xanh); Núi khom khom vái mây dâng lễ/ Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm! (Lên Yên Tử); Lần về cuối ấy đi qua lửa/ Nến tiễn thương buồn - lệ ngún thân! (Vô thường)... Điều đó cho thấy nhà thơ đã luôn có ý thức và rất nghiêm túc trên hành trình sáng tạo thi ca. Bởi thơ hay, điều quan trọng phải là cảm xúc, ý tưởng. Câu chữ hay phải được kết tinh từ máu thịt, hơi thở của chính người sản sinh ra nó.

Bên cạnh đó, Trương Nam Hương còn sử dụng hàng loạt các hình ảnh ẩn dụ, so sánh, nhân hóa... thể hiện các cung bậc của một cái tôi nội cảm, giàu tình yêu thương! Củ khoai gầy trơ ngót mút/ Tuổi thơ mót gió trên đồng (Hoa gạo); Không vớt nỗi Thúy Kiều qua mực bút/ Nguyễn Du buồn sợi tóc nhớm hoa lê! (Nỗi niềm Nguyễn Du); Chim kêu thót ngực hoa vườn/ Em xa, hòn sỏi cuối đường thót đau (Khoảng lặng)... Dường như những hình ảnh  đa dạng của cuộc sống được Trương Nam Hương chuyển tải vào thơ qua lăng kính và cảm nhận của riêng anh. Vì thế, đến với thơ Trương Nam Hương, tâm hồn con người sẽ trở nên trong trẻo, đáng yêu và nhân hậu hơn.

Trương Nam Hương có nhiều suy nghĩ sâu sắc và khái quát thành những vấn đề có ý nghĩa bản chất của sự sống. Những hình ảnh bình dị, gần gũi của đời thường nhưng Trương Nam Hương đã khéo đưa vào thơ và thổi hồn mình vào đó để tạo nên tính triết mỹ.

Đỡ một người đứng dậy/ Lắm khi ta ngã nhào/ Níu cỏ, đất lại bở/ Vói cây, cành lệch cao (Ngẫu cảm).

Cái tôi cô đơn thường trở đi trở lại trong thơ Trương Nam Hương. Nhất là nỗi thương nhớ người xưa, cảnh cũ, bóng dáng em, tình yêu một thuở vẫn còn lưu luyến, thậm chí nỗi nhớ đã mọc mầm. Năm anh mười bảy/ Sông Hồng tuổi em/ Bờ đê. Đêm ấy.../ Sóng. Trăng. Cỏ mềm...// Anh vốc nước lên/ Chạm môi em đỏ/ Khoác vai bóng thuyền/ Buồm lơi nếp gió// Em đổ đầy anh/ Tiếng sông úng ớ/ Mắt sao mướt xanh/ Rơi nhòe ngấn cỏ// Ngày trăng biết nhớ/ Sông Hồng biết yêu/ Năm anh mười bảy/ Cầm con sóng liều...// Rồi anh biền biệt/ Dạt trôi bao miền/ Ba mươi năm ấy/ Sông Hồng hóa em! (Sông 17 tuổi).

Quê hương hiện ra trong tâm tưởng nhà thơ đẹp, trữ tình, da diết. Đan cài giữa hiện tại, quá khứ, tương lai làm cho tâm hồn người thi sĩ không khỏi xốn xang, đẫm lệ.

Gửi hai dòng sông quê, đọc lên có điều gì đó ứ nghẹn, có gì đó rưng rưng. Một tấm lòng thành, một tình yêu đằm sâu với quê hương bản quán:

Trong tôi có chút sâu đằm/ của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô/ sông Hồng hắt đỏ lên thơ/ tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang// Lòng mình chả dễ đa mang/ nên thương nhớ cũng ngổn ngang mấy dòng/ ơi sông Hương, hỡi sông Hồng/ giọng tôi lạc giữa mênh mông nỗi buồn// Giờ xin ngồi khóc với nguồn/ mở bàn tay với cánh buồm hút xa/ may còn dăm khúc dân ca/ mấy câu hò để ngâm nga tháng ngày// Gia tài của mẹ cha đây/ Tôi đem trang trải đất này quê kia/ dòng sông từng hẹn tôi về/ qua cầu để rớt lời thề với em// Mẹ chờ bạc tóc theo đêm/ cha thương chuốc rượu đến mềm cơn ho/ em qua xuân sắc bao giờ/ để chân lược nhắc chiều thưa mái đầu// Có gì sâu, rất thẳm sâu/ nói ra cứ sợ làm đau đến nguồn/ tôi bên gần cửa bờ thương/ ầu ơ... ngồi dỗ nỗi buồn bờ xa!

Trong tâm khảm, quê hương là hồn cốt, là máu thịt của mình trong đó. Đặc biệt có bóng dáng của mẹ cha, của những người thân thuộc và cả những người nông dân chân lấm tay bùn, họ tảo tần hôm sớm để làm ra hạt lúa hạt gạo cho ta ăn; sức mạnh tập thể nhân dân là sức mạnh vĩ đại, hùng hậu nhất để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Vì thế, bằng ý thức trách nhiệm của người cha, nhà thơ không quên dặn dò con của mình rằng: Khi con nói về giang sơn gấm vóc/ Nhớ đừng quên có hạt lúa tảo tần/ Khi con viết về lớn lao Tổ quốc/ Nhờ có phần vĩ đại của nhân dân! Một lời căn dặn thật sâu sắc và giàu ý nghĩa!

Hình ảnh người mẹ đã khuất nhưng luôn sống mãi trong ký ức và luôn nhắc nhớ anh bao thứ trên mỗi bước đường anh đi. Anh viết về mẹ bằng tình cảm của một đứa con cảm thấy mình có lỗi, luôn yêu kính và mong mẹ tha thứ cho anh. Nhìn đâu Trương Nam Hương cũng thấy thấp thoáng bóng người mẹ hiền luôn ẩn hiện. Anh nhớ tất cả về mẹ, ngay từ những năm tháng ấu thơ: Mùa Xuân theo mẹ lên chùa/ Oản, xôi hóng nhận - chuỗi, bùa hóng đeo/ Mẹ quỳ tôi nép quỳ theo/ Lạy từ ngọn cỏ lạy veo... tới trời! (Tuổi thơ).

Hay đến lúc xế chiều và cả khi đã về miền sương khói, nắm tro cốt và hương hồn của mẹ ở chùa Vĩnh Nghiêm... Bây giờ nhà mẹ là đây/ Tiếng chim tràng hạt dâng đầy khói hương/ Mẹ ra ngoài cõi vô thường/ Rưng rưng con thắp nỗi buồn vào thơ! (Chùa Vĩnh Nghiêm). Dù muộn màng, nhưng thái độ, tấm lòng của một đứa con như anh cũng làm cho ta trân trọng.

So với thơ viết về mẹ, thơ viết về cha của anh ít hơn nhưng đọc lên cũng trĩu nặng nỗi niềm thương nhớ. Dấu chân cha in hằng bãi sông Hồng/ Gánh giông bão băng qua mùa giáp hạt/ Điếu thuốc lào rít cay khóe mắt (Bóng quê). Tết vắng cha, nhà buồn và thiếu vắng đi nhiều thứ, dẫu biết đó là quy luật sinh tử của đời người nhưng trong lòng nhà thơ vẫn thảng thốt: Con tìm đâu giữa chơi vơi/ Cha đi về phía xanh lời cỏ hoa/ Cách người thước đất mà xa/ Rót mời cha một chén trà hư không// Rưng rưng tàn thuốc quặn vòng/ Thương cha khói cũng nặng lòng không bay

Cái tôi trữ tình trong thơ Trương Nam Hương bàng bạc, nhẹ nhàng, trắc ẩn và đầy sâu lắng. Anh về thương câu hát cũ/ Trúc xinh thuở ấy đâu rồi/ Lá đa sân đình ngơ ngác/ Sông Cầu nghiêng sóng qua môi// Mưa giêng ướt câu Quan họ/ Dài khăn hoa lý ơ hờ/ Mượn nón quai thao tát gió/ Dễ gì cạn hết bơ vơ... (Thương câu hát cũ). Trong dòng hoài niệm về quá khứ, âm hưởng chủ đạo trong thơ Trương Nam Hương vừa có nỗi xót xa, nuối tiếc vừa thấm đẫm niềm tin và khát vọng ở tương lai phía trước.

Kết thúc tập sách, Trương Nam Hương đưa vào bài thơ cùng tên với thi tập. Phải chăng đây là sự sắp xếp có chủ ý. Bài thơ dài Thời nắng xanh, vẽ ra và gợi liên tưởng đến nhiều vấn đề trong đời sống, nó như là lời tường trình, tự bạch , lời cảm ơn trân trọng nhất đối với những người thân yêu, bạn bè và cả những người đang sống quanh mình. Ký ức tuổi thơ về quê hương, làng xóm, người bà, vườn nhà, những vật dụng thân thuộc, các loài chim, chú mèo, gà con, ốc sên, trái ớt... luôn đồng hiện trong tâm thức nhà thơ. Để rồi hôm nay, sau bao nhiêu năm xa quê, bôn ba nơi đất khách nhà thơ vẫn một lòng nhớ thương ngày xưa cũ đến quặn lòng. Những lõm trũng đằm trâu/ Những mộ cỏ đầu gà ngúc ngắc/ Tuổi thơ tôi thơm thao bùn đất/ Rặng duối cho không quả duối hươm vàng/ Tôi ngửa mặt nhìn trời đêm thổn thức/ Thấy bóng người đã khuất đặc như sao/ Con đom đóm nháy điều bí mật/ Cứ đêm đêm xanh nhói phía bên rào/... Bà ơi cây cải lên trời/ Rau răm cay đắng phận người đắng cay/ Chân bấm lên rêu/ Bà tôi gánh cả gió chiều - xót xa/ Dẹp tròn mắt nứa mắt na/ Tôi nhem nhọ bếp sáp gà dính tay/ Loăn thoăn đồng đất tối ngày/ tiếng bà gọi ới bờ này bãi kia// Tôi chạy theo bà đòn tre kẽo kẹt/ Tiếng chim gù khuất khuất// Bóng làng xa... Đúng như thế, giờ đây bà, bóng làng và cả những hình ảnh thân thuộc của tuổi thơ chỉ còn trong tâm tưởng!

Thơ Trương Nam Hương hấp dẫn người đọc bởi giọng dịu ngọt, gần gũi thân thương. Thế giới hình ảnh đa dạng, độc đáo tạo ra được những tứ thơ hay. Cùng với đó là khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách uyển chuyển, linh hoạt, lạ, bất ngờ góp phần làm cho thơ anh mang nét độc đáo, tạo nên phong cách riêng, phong cách thơ Trương Nam Hương.

Nguồn: https://toquoc.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tìm về lời rạ rơm – Bến trú ngụ của những bão giông đời người
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm