TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”

“Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-26 00:01:16
mail facebook google pos stwis
896 lượt xem

Thái Hải Đăng

Nhà phê bình văn học là người có tâm hồn giao cảm mãnh liệt với từng lời văn, con chữ và những giai điệu du dương của thơ ca. Họ đã có những cảm nghiệm sâu sắc giữa thơ văn và đời mình. Với họ, mỗi tác phẩm văn học không chỉ là một tư tưởng cần được khám phá mà còn là một thế giới sống động, nơi những dòng chữ biết thủ thỉ cùng tâm hồn.

Từ trái sang: Thái Hải Đăng ; Hoàng Quốc Hải; Hoàng Kim Đáng; Phùng Văn Khai

Như một triết gia say mê khám phá vẻ đẹp của ngôn từ, một y sĩ tận tâm mổ xẻ từng thớ rung cảm tinh tế của nhân vật trữ tình trên trang thơ, PGS.TS Phùng Minh Hiến đã nghiên cứu nhiều tác phẩm văn chương trên tinh thần khoa học nhân văn đầy nhiệt huyết và đam mê. Sự hòa quyện giữa trải nghiệm cá nhân và hiểu biết chuyên sâu đưa ông trở thành người dẫn đường tận tụy, mở ra những chân trời mới cho người đọc, giúp họ cảm nhận và trân trọng hơn vẻ đẹp và sức sống của thơ ca Việt Nam.

Chúng tôi biết đến PGS Phùng Minh Hiến qua tác phẩm “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”. Trong tác phẩm này, tác giả không chỉ bộc lộ cảm nhận bằng đôi mắt cá nhân sâu lắng mà còn sử dụng tri thức khoa học để phân tích hầu như toàn bộ các sáng tác của ba nhà thơ nổi tiếng: Hàn Mặc Tử, Huy Cận và Trần Đăng Khoa. Tập nghiên cứu phê bình gồm ba chương đã mở ra những điểm nhìn mới mẻ: Chương 1 với những con vật sống gần gũi, thân thiện bên cạnh con người; Chương 2 với những cây cối quanh nhà và ở ngoài đồng; Chương 3 với những hiện tượng và vật thể trong tự nhiên.

Trong tập phê bình này, PGS.TS Phùng Minh Hiến đã vận dụng khái niệm “sinh thể nghệ thuật” để nhấn mạnh tính chất “toàn vẹn hữu cơ” của các sản phẩm thi ca được sáng tạo nên. Khái niệm này đã được ứng dụng rộng rãi và không gây nhiều tranh cãi trong các tác phẩm sử thi, tác phẩm truyện. Tuy nhiên, việc “tìm tòi và xác định” đặc tính phẩm chất “sinh thể nghệ thuật” của thơ ca trữ tình vẫn còn mới mẻ và mở ra nhiều hướng nghiên cứu. Chính quá trình khám phá và xác định những đặc tính này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm hồn và phong cách của từng nhà thơ, tạo ra sự kết nối sâu sắc giữa độc giả và tác phẩm. Bởi lẽ, thơ ca phần nhiều được sáng tác dựa trên cảm xúc của tâm hồn, và những trường cảm xúc này luôn tồn tại song song giữa khác biệt và thống nhất bên trong mỗi tác giả. Khác biệt này làm nên sự đa dạng trong thơ ca, trong khi sự thống nhất tạo nên phong cách độc đáo, đặc trưng cho từng ngòi bút thi nhân.

Trong việc hệ thống lại hầu như toàn bộ các tác phẩm của ba nhà thơ lớn, PGS.TS Phùng Minh Hiến đã gợi mở những lý do dẫn đến thành công xuất sắc cũng như một số trường hợp chưa thành công trong sáng tác của họ. Người đọc sẽ nhận thấy tiến trình vận động trong chuỗi những điểm nhìn nghệ thuật của các nhà thơ. Tuy nhiên, tác giả không đi đến kết luận về sự hay - dở, khen - chê các tác phẩm thơ ca, mà để phần việc này cho bạn đọc tự cảm nhận với đôi mắt nhìn nhận nghệ thuật của riêng mình. Thay vào đó, tác giả tập trung trình bày ý tưởng của nhà thơ, thông qua các điểm nhìn nghệ thuật mở ra các tầng nghĩa trong câu thơ, dấn thân vào tâm hồn các nhân vật trữ tình trên trang thơ để khám phá tâm hồn và những điều thi nhân gửi gắm. PGS.TS Phùng Minh Hiến đã khiêm tốn nép mình, nhường đường cho tâm hồn độc giả vẫy vùng trong thế giới cảm thụ của riêng mình.

Để khám phá thế giới sinh động luôn vận hành trong trang thơ và tâm hồn thi sĩ, tác giả không chỉ hệ thống các tác phẩm đã có mà còn mở rộng nghiên cứu bằng phương pháp so sánh với các thi nhân và thi phẩm nổi tiếng khác. Cùng là người câu cá ở ao làng, nhưng “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến lại có những điểm nhìn nghệ thuật khác biệt so với bài thơ “Câu cá” của Trần Đăng Khoa. Trong khi đó, cùng là ánh trăng đêm, nhưng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện dày đặc hơn cả so với các nhà thơ khác. Bóng trăng trong thơ thi sĩ họ Hàn mang màu sắc ma mị, lạnh lẽo, hoang vu, mơ màng, da diết và đầy thương đau, tạo nên một bức tranh trăng độc đáo và sâu sắc. Tác giả đã gợi mở về sự biến đổi và “tiến hóa” trong cách nhìn nhận và diễn đạt của từng thế hệ thi sĩ. Cùng là cảnh vật thiên nhiên, nhưng cảm xúc và tư duy của mỗi nhà thơ lại tạo nên những sắc thái riêng biệt, phản ánh những tâm hồn và cuộc đời khác nhau. Những phân tích và so sánh này giúp người đọc không chỉ hiểu sâu hơn về các tác phẩm mà còn cảm nhận được những rung động tinh tế, những tư tưởng và triết lý sâu sắc ẩn chứa trong mỗi câu thơ.

Để tìm ra những khác biệt đặc trưng này, PGS.TS Phùng Minh Hiến có lẽ đã thực hiện nhiều chuyến phiêu lưu vào tâm hồn thi sĩ, thể hiện cái gọi là “cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người”. Mặc dù tác phẩm không đào sâu nghiên cứu đến hiện thực cuộc sống đời thường, tác giả cũng đã gợi mở nhiều hướng suy tư cho bạn đọc tìm đến những nguyên nhân tác động đến điểm nhìn nghệ thuật của mỗi thi nhân.

Trước cách mạng tháng Tám, thơ Huy Cận thường mang phong cách trầm buồn, triết lý và suy tư về cuộc đời. Sau cách mạng, thơ ông lột xác hoàn toàn mới mẻ, luôn bám sát hiện thực cuộc sống, phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước và con người Việt Nam. Thi sĩ Trần Đăng Khoa lại nổi lên như một hiện tượng đặc biệt trong làng thơ Việt, đặc biệt khi còn rất trẻ, ông đã mang đến những lời thơ giản dị, trong sáng, gần gũi với thiên nhiên và lạc quan về cuộc sống. Trong khi đó, thơ Hàn Mặc Tử chứa đựng những cảm xúc trào dâng mãnh liệt, phức tạp và có phần đớn đau bởi phần đời đau bệnh, cô đơn của mình. Bóng trăng đặc trưng trong thơ ông không chỉ là một hình ảnh thiên nhiên tả thực mà còn là biểu tượng cho những nỗi niềm sâu thẳm, khát khao vượt thoát khỏi thực tại khắc nghiệt.

PGS.TS Phùng Minh Hiến đã khéo léo mở ra cho người đọc những góc nhìn mới mẻ về tâm hồn và cuộc đời của các thi nhân. Sự thay đổi trong phong cách sáng tác của Huy Cận từ trước đến sau cách mạng, sự trong sáng, gần gũi của Trần Đăng Khoa từ thuở thiếu thời đến khi trưởng thành, hay nỗi đau và sự cô độc trong thơ Hàn Mặc Tử đều được tác giả khám phá và phân tích một cách khoa học, uyển chuyển. Từ lối so sánh này, giúp bạn đọc nhận ra rằng mỗi nhà thơ đều có một hành trình sáng tạo riêng, chịu ảnh hưởng từ hoàn cảnh sống, từ những biến động xã hội và từ chính tâm hồn nhạy cảm của mình.

Khách quan mà nói, tác phẩm “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại” của PGS.TS Phùng Minh Hiến không dễ để thấu hiểu tường tận, đòi hỏi bạn đọc cần có một thái độ nghiêm túc và kiên nhẫn trong khi tiếp nhận. Tập sách vận dụng nhiều thuật ngữ và khái niệm chuyên sâu dành cho công tác phê bình văn học, điều này có thể gây khó khăn cho những ai chưa quen thuộc với lĩnh vực này.

Tuy nhiên, đây cũng chính là điểm mạnh của tác phẩm, bởi sự chuyên sâu và học thuật sẽ mở ra những tầng nghĩa mới, giúp bạn đọc đi sâu vào thế giới thơ ca của ba nhà thơ lớn. Để hiểu rõ hơn những vấn đề và thuật ngữ được nhắc đến trong quyển sách này, bạn đọc nên tham khảo thêm tập sách chuyên luận “Tác phẩm văn chương - Một sinh thể nghệ thuật” mà PGS.TS Phùng Minh Hiến đã công bố trước đó. Tập sách này sẽ cung cấp nền tảng lý thuyết cần thiết, giúp bạn đọc tiếp cận và thấu hiểu sâu sắc hơn những luận điểm và phương pháp phân tích của tác giả. Việc kết hợp giữa hai tác phẩm này không chỉ nâng cao khả năng thẩm thấu văn học của bạn đọc mà còn giúp chúng ta nắm bắt được toàn diện hơn những góc nhìn nghệ thuật, sự sáng tạo và phong cách độc đáo của các nhà thơ.

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS Phùng Minh Hiến đã dày công nghiên cứu tác phẩm “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”. Đây quả thực là một tài liệu khoa học quý giá, giúp chúng tôi tìm hiểu rõ hơn về sự nghiệp và phong cách sáng tác của các nhà thơ lớn. Đặc biệt, với lối phân tích so sánh “các sinh thể nghệ thuật đặc trưng” khác nhau tương ứng với mỗi “hệ nẻo đường sáng tạo” của ba thi sĩ Hàn Mặc Tử, Huy Cận và Trần Đăng Khoa, tác giả đã dẫn dắt chúng tôi đến với những tầng nghĩa sâu sắc nhất mà bản thân chưa thể am tường. Chúng tôi rất mong chờ được khám phá những tác phẩm nghiên cứu và phê bình văn học tiếp theo của ông.

T.H.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc việt nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm