TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”

“Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-26 00:01:16
mail facebook google pos stwis
1307 lượt xem

Thái Hải Đăng

Nhà phê bình văn học là người có tâm hồn giao cảm mãnh liệt với từng lời văn, con chữ và những giai điệu du dương của thơ ca. Họ đã có những cảm nghiệm sâu sắc giữa thơ văn và đời mình. Với họ, mỗi tác phẩm văn học không chỉ là một tư tưởng cần được khám phá mà còn là một thế giới sống động, nơi những dòng chữ biết thủ thỉ cùng tâm hồn.

Từ trái sang: Thái Hải Đăng ; Hoàng Quốc Hải; Hoàng Kim Đáng; Phùng Văn Khai

Như một triết gia say mê khám phá vẻ đẹp của ngôn từ, một y sĩ tận tâm mổ xẻ từng thớ rung cảm tinh tế của nhân vật trữ tình trên trang thơ, PGS.TS Phùng Minh Hiến đã nghiên cứu nhiều tác phẩm văn chương trên tinh thần khoa học nhân văn đầy nhiệt huyết và đam mê. Sự hòa quyện giữa trải nghiệm cá nhân và hiểu biết chuyên sâu đưa ông trở thành người dẫn đường tận tụy, mở ra những chân trời mới cho người đọc, giúp họ cảm nhận và trân trọng hơn vẻ đẹp và sức sống của thơ ca Việt Nam.

Chúng tôi biết đến PGS Phùng Minh Hiến qua tác phẩm “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”. Trong tác phẩm này, tác giả không chỉ bộc lộ cảm nhận bằng đôi mắt cá nhân sâu lắng mà còn sử dụng tri thức khoa học để phân tích hầu như toàn bộ các sáng tác của ba nhà thơ nổi tiếng: Hàn Mặc Tử, Huy Cận và Trần Đăng Khoa. Tập nghiên cứu phê bình gồm ba chương đã mở ra những điểm nhìn mới mẻ: Chương 1 với những con vật sống gần gũi, thân thiện bên cạnh con người; Chương 2 với những cây cối quanh nhà và ở ngoài đồng; Chương 3 với những hiện tượng và vật thể trong tự nhiên.

Trong tập phê bình này, PGS.TS Phùng Minh Hiến đã vận dụng khái niệm “sinh thể nghệ thuật” để nhấn mạnh tính chất “toàn vẹn hữu cơ” của các sản phẩm thi ca được sáng tạo nên. Khái niệm này đã được ứng dụng rộng rãi và không gây nhiều tranh cãi trong các tác phẩm sử thi, tác phẩm truyện. Tuy nhiên, việc “tìm tòi và xác định” đặc tính phẩm chất “sinh thể nghệ thuật” của thơ ca trữ tình vẫn còn mới mẻ và mở ra nhiều hướng nghiên cứu. Chính quá trình khám phá và xác định những đặc tính này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm hồn và phong cách của từng nhà thơ, tạo ra sự kết nối sâu sắc giữa độc giả và tác phẩm. Bởi lẽ, thơ ca phần nhiều được sáng tác dựa trên cảm xúc của tâm hồn, và những trường cảm xúc này luôn tồn tại song song giữa khác biệt và thống nhất bên trong mỗi tác giả. Khác biệt này làm nên sự đa dạng trong thơ ca, trong khi sự thống nhất tạo nên phong cách độc đáo, đặc trưng cho từng ngòi bút thi nhân.

Trong việc hệ thống lại hầu như toàn bộ các tác phẩm của ba nhà thơ lớn, PGS.TS Phùng Minh Hiến đã gợi mở những lý do dẫn đến thành công xuất sắc cũng như một số trường hợp chưa thành công trong sáng tác của họ. Người đọc sẽ nhận thấy tiến trình vận động trong chuỗi những điểm nhìn nghệ thuật của các nhà thơ. Tuy nhiên, tác giả không đi đến kết luận về sự hay - dở, khen - chê các tác phẩm thơ ca, mà để phần việc này cho bạn đọc tự cảm nhận với đôi mắt nhìn nhận nghệ thuật của riêng mình. Thay vào đó, tác giả tập trung trình bày ý tưởng của nhà thơ, thông qua các điểm nhìn nghệ thuật mở ra các tầng nghĩa trong câu thơ, dấn thân vào tâm hồn các nhân vật trữ tình trên trang thơ để khám phá tâm hồn và những điều thi nhân gửi gắm. PGS.TS Phùng Minh Hiến đã khiêm tốn nép mình, nhường đường cho tâm hồn độc giả vẫy vùng trong thế giới cảm thụ của riêng mình.

Để khám phá thế giới sinh động luôn vận hành trong trang thơ và tâm hồn thi sĩ, tác giả không chỉ hệ thống các tác phẩm đã có mà còn mở rộng nghiên cứu bằng phương pháp so sánh với các thi nhân và thi phẩm nổi tiếng khác. Cùng là người câu cá ở ao làng, nhưng “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến lại có những điểm nhìn nghệ thuật khác biệt so với bài thơ “Câu cá” của Trần Đăng Khoa. Trong khi đó, cùng là ánh trăng đêm, nhưng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện dày đặc hơn cả so với các nhà thơ khác. Bóng trăng trong thơ thi sĩ họ Hàn mang màu sắc ma mị, lạnh lẽo, hoang vu, mơ màng, da diết và đầy thương đau, tạo nên một bức tranh trăng độc đáo và sâu sắc. Tác giả đã gợi mở về sự biến đổi và “tiến hóa” trong cách nhìn nhận và diễn đạt của từng thế hệ thi sĩ. Cùng là cảnh vật thiên nhiên, nhưng cảm xúc và tư duy của mỗi nhà thơ lại tạo nên những sắc thái riêng biệt, phản ánh những tâm hồn và cuộc đời khác nhau. Những phân tích và so sánh này giúp người đọc không chỉ hiểu sâu hơn về các tác phẩm mà còn cảm nhận được những rung động tinh tế, những tư tưởng và triết lý sâu sắc ẩn chứa trong mỗi câu thơ.

Để tìm ra những khác biệt đặc trưng này, PGS.TS Phùng Minh Hiến có lẽ đã thực hiện nhiều chuyến phiêu lưu vào tâm hồn thi sĩ, thể hiện cái gọi là “cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người”. Mặc dù tác phẩm không đào sâu nghiên cứu đến hiện thực cuộc sống đời thường, tác giả cũng đã gợi mở nhiều hướng suy tư cho bạn đọc tìm đến những nguyên nhân tác động đến điểm nhìn nghệ thuật của mỗi thi nhân.

Trước cách mạng tháng Tám, thơ Huy Cận thường mang phong cách trầm buồn, triết lý và suy tư về cuộc đời. Sau cách mạng, thơ ông lột xác hoàn toàn mới mẻ, luôn bám sát hiện thực cuộc sống, phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước và con người Việt Nam. Thi sĩ Trần Đăng Khoa lại nổi lên như một hiện tượng đặc biệt trong làng thơ Việt, đặc biệt khi còn rất trẻ, ông đã mang đến những lời thơ giản dị, trong sáng, gần gũi với thiên nhiên và lạc quan về cuộc sống. Trong khi đó, thơ Hàn Mặc Tử chứa đựng những cảm xúc trào dâng mãnh liệt, phức tạp và có phần đớn đau bởi phần đời đau bệnh, cô đơn của mình. Bóng trăng đặc trưng trong thơ ông không chỉ là một hình ảnh thiên nhiên tả thực mà còn là biểu tượng cho những nỗi niềm sâu thẳm, khát khao vượt thoát khỏi thực tại khắc nghiệt.

PGS.TS Phùng Minh Hiến đã khéo léo mở ra cho người đọc những góc nhìn mới mẻ về tâm hồn và cuộc đời của các thi nhân. Sự thay đổi trong phong cách sáng tác của Huy Cận từ trước đến sau cách mạng, sự trong sáng, gần gũi của Trần Đăng Khoa từ thuở thiếu thời đến khi trưởng thành, hay nỗi đau và sự cô độc trong thơ Hàn Mặc Tử đều được tác giả khám phá và phân tích một cách khoa học, uyển chuyển. Từ lối so sánh này, giúp bạn đọc nhận ra rằng mỗi nhà thơ đều có một hành trình sáng tạo riêng, chịu ảnh hưởng từ hoàn cảnh sống, từ những biến động xã hội và từ chính tâm hồn nhạy cảm của mình.

Khách quan mà nói, tác phẩm “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại” của PGS.TS Phùng Minh Hiến không dễ để thấu hiểu tường tận, đòi hỏi bạn đọc cần có một thái độ nghiêm túc và kiên nhẫn trong khi tiếp nhận. Tập sách vận dụng nhiều thuật ngữ và khái niệm chuyên sâu dành cho công tác phê bình văn học, điều này có thể gây khó khăn cho những ai chưa quen thuộc với lĩnh vực này.

Tuy nhiên, đây cũng chính là điểm mạnh của tác phẩm, bởi sự chuyên sâu và học thuật sẽ mở ra những tầng nghĩa mới, giúp bạn đọc đi sâu vào thế giới thơ ca của ba nhà thơ lớn. Để hiểu rõ hơn những vấn đề và thuật ngữ được nhắc đến trong quyển sách này, bạn đọc nên tham khảo thêm tập sách chuyên luận “Tác phẩm văn chương - Một sinh thể nghệ thuật” mà PGS.TS Phùng Minh Hiến đã công bố trước đó. Tập sách này sẽ cung cấp nền tảng lý thuyết cần thiết, giúp bạn đọc tiếp cận và thấu hiểu sâu sắc hơn những luận điểm và phương pháp phân tích của tác giả. Việc kết hợp giữa hai tác phẩm này không chỉ nâng cao khả năng thẩm thấu văn học của bạn đọc mà còn giúp chúng ta nắm bắt được toàn diện hơn những góc nhìn nghệ thuật, sự sáng tạo và phong cách độc đáo của các nhà thơ.

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS Phùng Minh Hiến đã dày công nghiên cứu tác phẩm “Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại”. Đây quả thực là một tài liệu khoa học quý giá, giúp chúng tôi tìm hiểu rõ hơn về sự nghiệp và phong cách sáng tác của các nhà thơ lớn. Đặc biệt, với lối phân tích so sánh “các sinh thể nghệ thuật đặc trưng” khác nhau tương ứng với mỗi “hệ nẻo đường sáng tạo” của ba thi sĩ Hàn Mặc Tử, Huy Cận và Trần Đăng Khoa, tác giả đã dẫn dắt chúng tôi đến với những tầng nghĩa sâu sắc nhất mà bản thân chưa thể am tường. Chúng tôi rất mong chờ được khám phá những tác phẩm nghiên cứu và phê bình văn học tiếp theo của ông.

T.H.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm