TIN TỨC

Những vần thơ vượt qua ranh giới

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-24 07:48:37
mail facebook google pos stwis
2565 lượt xem

MAI VĂN PHẤN

Thơ buổi sáng là thi tập đầu tiên của Nguyễn Đức Tùng xuất bản tại Việt Nam (Nxb. Hội Nhà văn, 2023). Ông là nhà thơ đã ghi dấu ấn trên thi đàn từ những năm trước đây, với các cuốn sách Thơ đến từ đâu (Nxb. Lao Động, 2009), Đối thoại văn chương (Nxb. Tri thức, 2012), Thơ cần thiết cho ai (Nxb. Hội Nhà văn, 2015)...

Thơ Nguyễn Đức Tùng chứa nhiều không gian tiếp nối, đóng-mở bất ngờ, làm hiển lộ những vẻ đẹp thảng hoặc, miên viễn… Thi tập này phong phú và có nhiều điểm khác với những bài thơ của ông trước đây, cho tôi hình dung về một Nguyễn Đức Tùng ung dung, tự tin đến thảnh thơi, có lúc tạt vào những ngã rẽ bất ngờ. Ông đã xác lập ranh giới cho riêng mình và cũng là người vượt qua những ranh giới ấy.

Thơ Nguyễn Đức Tùng giàu có, phong phú một cõi sống, trong suốt những cõi yêu, sắc lạnh những cơn giận dữ, được viết bởi nhiều phong cách với lối kể chậm rãi, nhẹ nhàng và thường cố ý hạ giọng pha chút bông lơn khi đề cập đến những điều hệ trọng. Đó là giọng bình thản an nhiên mà thấu tận tâm can. “Một số người luôn đến đúng giờ/ Một số người thường xuyên lỗi hẹn/ Một số người mở vết thương ra/ Một số người khâu nó lại” (Đàn ông)

Hành trình trong mỗi bài thơ của Nguyễn Đức Tùng không chỉ đơn thuần là khoảnh khắc sống, dấu ấn tâm trạng, không chỉ là cái đẹp cho người đọc thưởng thức, mà nó thường đi, vượt, xuyên, trượt qua một hay nhiều ranh giới.

Ranh giới tự nhiên của nghệ thuật là ranh giới nhận thức của con người. Nghệ thuật cận đại thế kỷ XIX và hiện đại thế kỷ XX hầu như đã vượt qua mọi ranh giới của các loại hình, trong đó có thơ, để mạnh dạn đi đến những nơi mà trước đó chưa có ai vượt qua. Có nhiều ranh giới khác nhau trong nghệ thuật: ranh giới của thi pháp, phong cách, ranh giới thẩm mỹ... Đối với kẻ sáng tạo, những ranh giới ấy không bao giờ cố định, mà thay đổi, làm xuất hiện những quan niệm mới, vẫy gọi mới.

Nguyễn Đức Tùng là cây bút đa tài, tung hoành trong mọi thể loại, từ văn xuôi, dịch thuật đến thơ, phê bình. Ông là một trong số ít những tác giả hiếm khi phải “đi qua vùng tối” hoặc “chiếu nghỉ”, tức hiếm khi phải trải qua một giai đoạn ngừng viết, lắng lại để tích lũy, chiêm nghiệm. Dấu ấn thơ Nguyễn Đức Tùng là hành trình liên tục đi tìm cách viết mới, quan niệm mới. Có thể nói, thơ ông đã vượt qua nhiều ranh giới do chính ông tạo lập. Từ ranh giới ấy độc giả biết thêm nhiều quan niệm nghệ thuật khác, không gian khác nữa của ông.

Ranh giới tâm lý nói chung phụ thuộc vào giới hạn chịu đựng của mỗi cá thể. Sự vượt quá giới hạn tâm sinh lý thông thường của con người, nhưng tồn tại trong đời sống nghệ thuật lại phát sinh những chuyển dịch khác, hệ quả khác. “Mục đích của khăn tay/ Không phải để lau nước mắt/ Mà để chùi thật sạch/ Bia mộ trong cỏ xanh.” (Mục đích của áo quần)

Những ranh giới trong thơ Nguyễn Đức Tùng như cùng chung một áp lực, sức lan tỏa. Có thể là: “Một người đàn bà/ Đi sâu vào gương” (Trong tiệm hớt tóc). Là con ma của tình yêu: “khi tôi lái xe rất nhanh trong nỗi nhớ thầm/ nó xiết chặt thắt lưng an toàn của tôi lần nữa” (Con ma). Hoặc có khi ranh giới ấy chỉ là đường bay của một con muỗi lúc nửa đêm: “Kịp lặng lẽ đẻ trứng xuống/ Bể nước đầy cơn mưa cũ.” (Đêm ngủ trong chùa)

Tiêu đề bài thơ của Nguyễn Đức Tùng cũng là một ranh giới. Ông thường dùng những khẩu ngữ quen thuộc, dung dị như câu nói đời thường của bất kỳ ai: Chúng ta đã làm một lần; Em còn trẻ và em không thể biết; Nếu em muốn, thì anh cũng muốn. Đôi khi là câu nghi vấn: Chúng ta sẽ yêu nhau như thế này chăng; Tại sao chúng ta sống lại. Hay một mệnh lệnh thức: Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời; Tắt hết đèn đi... Và lạ lùng hơn, nhiều khi ông đặt tiêu đề bài thơ như tên một bản thống kê, trần thuật: Một trăm việc bạn phải làm trước khi chết; Những hoàn cảnh khác nhau... Khi đọc vào nội dung những bài thơ của Nguyễn Đức Tùng, độc giả sẽ nhận ra những tiêu đề ấy chính là những lằn ranh mình vừa vượt qua.

Nguyễn Đức Tùng thường tạo ra thói quen để phá vỡ những thói quen, chủ ý mang tới sự  dung dị đời thường để bất chợt xuất hiện những biến ảo xuất thần. Thủ pháp này chỉ những tác giả có nội lực mạnh, thi pháp vững vàng mới có thể thực hiện thành công. Cách tạo ra những ranh giới nhiều khi được ông sử dụng để viết câu thơ đầu tiên trong bài. Những câu thơ dạng này đọc lên như người tung hỏa mù, đánh trống lảng, khiến ta ngỡ ngàng không biết nhà thơ sẽ nói gì, sẽ đưa đến đâu. “Tiếng cú rúc sân chùa/ Thằng bạn tôi gõ cửa bằng chân phải” (Chùa trên núi). Hay: “Tôi mang một loài hoa của làng tôi/ Đi suốt năm này qua năm khác/ Không còn ai biết” (Một loài hoa của làng tôi)

Những câu thơ trên là hình hài khoảng không, địa giới của phía bên này ranh giới mà tác giả chủ định đặt bầy. Không gian ấy vắng lặng, được nén chặt, cho tôi liên tưởng tới những khoảnh khắc trước trận chiến. Ngón tay của “người lính” nào đó đã đặt vào cò súng, viên đạn sẽ vọt khỏi nòng ngay tức khắc, hoặc mãi nằm yên.

Những bài thơ của Nguyễn Đức Tùng có thể xuất hiện những ranh giới khác nhau, tùy thuộc vào từng tình huống và câu chuyện được dẫn dắt. Tại những khổ thơ kết, Nguyễn Đức Tùng thường tạo ra những giới hạn để vượt qua. Trước một số khổ thơ kết, quả thực, có lúc tôi cũng thấy hơi sốt ruột bởi nhịp điệu chậm, giọng kể rề rà của tác giả, thí dụ: “Khi nửa đêm trời sao tối dần, sương mù/ Rơi lặng lẽ, bầy sếu bay qua/ Cất tiếng kêu, tiếng chúng không hay lắm/ Buồn rầu, cô quạnh, khàn khàn, xa vắng” (Chúng ta không cần phải đẹp lắm).

Nhưng tôi đọc tiếp và bắt gặp ánh chớp, sự va đập mạnh ở đoạn kết. Không ít lần tôi ngỡ ngàng tự hỏi, phải chăng tác giả đã bông đùa độc giả? Nhưng không, đó chính là thủ pháp độc đáo của ông.

Vì đã hiểu Nguyễn Đức Tùng và thủ pháp này, nên tôi thường bình tĩnh lắng nghe hết những câu chuyện ông kể. Đây là chuyện nhà thơ đi tìm người thợ may để lấy chiếc áo mà anh trai ông đã đặt. Và nhà thơ đã mang đến điều bất ngờ. “Tôi mặc chiếc áo vào người/ Bước đi trên mặt nước xanh trong” (Chiếc áo). Hay, câu chuyện lạ lùng trong bài thơ “Nếu bạn có một trái tim”. Một trái tim khổ đau đã khô cứng như đá đặt ở góc vườn. Rồi một hôm tác giả trở lại góc vườn xưa, gặp bức tượng Phật mỉm cười. “Bằng đồng, khô, cứng, đen, lạnh toát/ Chỉ lúc đêm về mới ướt sương”.

Nguyễn Đức Tùng đã đưa độc giả đi xa hơn những giới hạn tưởng tượng, biến những bình dị đời thường thành phi thường, thậm chí đó là những điều phi lý mà ta vẫn có thể chấp nhận được. Trong vùng mờ của ranh giới này, những thi ảnh như được thoát xác khỏi câu chữ và tiêu dao trong một đời sống khác.

Cách tác giả vượt qua những giới hạn này gợi cho tôi tưởng tượng Nguyễn Đức Tùng giống như một con cá sấu nhịn thở hàng giờ dưới nước, nằm bất động để dụ những con mồi đến gần. Thủ pháp này được nhà thơ sử dụng rõ nét nhất trong bài thơ Con mèo. Bài thơ không dài, nguyên văn như sau:

Trước rạng đông

Người đàn ông bị dẫn tới

Chân tường, hay tay trói giật lại

 

Con mèo chạy theo chủ

Bị tóm cổ ném vào đám người

Nhưng nó nhìn thấy

Từ chân trời đám mây đen kéo tới

 

Mới đầu: một chấm. Như khăn bịt mặt

Giữa trời bao la, lớn dần

Sắp quét sạch mọi điều, máu và nước tiểu

Nó câm bặt, móng bám chặt vào mặt đất

 

Suốt ba ngày cho đến khi người đàn ông sống lại.

 

Ba khổ thơ đầu để dẫn chuyện, một con mèo trung thành với chủ của nó như bao con mèo khác. Hành động câu chuyện diễn ra tuần tự, đơn tuyến, ai cũng đoán được. Tôi liên tưởng cả ba khổ thơ này như con cá sấu nằm giả chết. Nhưng câu kết bài thơ xuất hiện tựa tiếng nổ lớn. “Suốt ba ngày cho đến khi người đàn ông sống lại.” Ở đây, “con cá sấu” đã bất ngờ đớp trọn con mồi. Tác giả đã cho “người đàn ông sống lại” sau ba ngày cùng con mèo, làm tôi liên tưởng đến sự phục sinh mầu nhiệm của Chúa Giê-su, một tín lý quan trọng trong Ki-tô giáo.

Trong thơ Nguyễn Đức Tùng, ranh giới giữa thơ và phi thơ được thể hiện rõ nét trong những bài thơ ba câu (mà ông gọi Haiku). Trong thể thơ tối giản này, thời gian để nhân vật tái sinh, thăng hoa, hoặc biến hình chỉ trong chớp mắt. Giống như khi ta nghe tiếng súng nổ mà không thể nhìn thấy đường đi của viên đạn đã đến đích. Cuối năm: Treo bức ảnh của cha/ Lên tường/ Miệng ngậm cái đinh. “Trong phòng nhổ răng”: Người nha sĩ/ Xoay mặt tôi/ Về phía rừng thu.

Câu kết của hai bài thơ trên đều là những cái đích chờ sẵn, để từ đó không gian khác được mở ra, thần thái bài thơ được hiển lộ. Mọi ngôn từ của hai bài thơ đều ở bên này lằn ranh, đều đứng ở vạch xuất phát để nhường chỗ hoặc chờ đợi những xung động nơi người đọc khi bài thơ kết thúc. “Miệng ngậm cái đinh” và “Về phía rừng thu” là trạng thái đóng chuyển thành mở, hữu hạn hóa thành vô hạn. Là hạt giống được gieo, sinh trưởng.

Tiết tấu để hình thành những ranh giới trong thơ Nguyễn Đức Tùng thường chậm, thể hiện rõ nhất trong những bài thơ ngắn, tự do. Nhưng trong trường ca, ông tạo ra giọng điệu khác hẳn, gấp gáp, gây áp lực và đẩy mọi chuyển động đi rất nhanh. Ông viết nhiều trường ca, nhưng chọn Bài tiễn biệt thi sĩ để in trong thi tập này. Từ khổ thơ đầu đến kết thúc trường ca là dòng thác đổ xuống liên tục, mạnh mẽ. Những câu thơ vụt hiện như cả đoàn quân chuyển động gấp mà không biết “dự lệnh”, “động lệnh” từ đâu. “Từ trong vùng tối/ Sương mù bay đầy trời/ Anh Du Tử Lê vừa mất/ Sau những ngày thật im lặng/ Điện thoại sáng lên như vầng trăng/ Dưới gối/ Gọi người về”.

Đây là bản giao hưởng thơ. Tính xung đột, tính kịch không nằm trong kết cấu trường ca, không trong lời thoại của các nhân vật mà được thể hiện trong số phận chìm nổi của họ. Những gương mặt đã làm nên diện mạo văn học Việt Nam trong hơn thế kỷ qua như lần lượt vụt hiện qua sân khấu. Những nhân ảnh thấp thoáng, ấn tượng, sáng rõ, mờ nhòe... “Hà Nội phải nhìn từ phía ấy/ Như Mai Thảo nhìn từ trên xuống”; “Khói thuốc lào xanh chiều nghiêng đổ/ Lã chã mưa dầm/ Gác Hoàng Cầm/ Nối ruồi son thánh thót”; “Hoàng Ngọc Hiến bảo: anh cứ mê chuyến đi Bắc Ninh của anh em mình quá “...

Trường ca Bài tiễn biệt thi sĩ là cuộc đưa tiễn mà cũng là chào đón thi sĩ Du Tử Lê về với vĩnh hằng bằng trùng trùng những lớp sóng gối lên nhau. Tác giả không dừng lại ở sự kiện, chi tiết từng nhân vật, từng trường đoạn mà để cảm xúc cuốn các thi ảnh đi nhanh. Trường ca chuyển động theo dòng ý thức, nương theo đời sống nội tâm, những liên tưởng tự do bất chợt vụt hiện cùng cảm xúc của người viết. Tác giả đào sâu vào tiềm thức các nhân vật trôi nổi theo dòng ấn tượng, cho họ bộc lộ nỗi ám ảnh, sợ hãi, lầm lẫn, những dằn vặt, tự vấn... Vẫn là những kết cấu phần mảnh, nhưng trường ca được “phong kín” bằng cảm xúc mạnh, liên tục, nhất quán, đưa người đọc vào một không - thời gian đa chiều, gợi những liên tưởng cứ chợt đến chợt đi, từ hữu hạn chuyển sang vô hạn.

Thơ Nguyễn Đức Tùng chuyển động theo hai hướng: truyền thống và hiện đại. Những bài thơ ông viết theo phong cách truyền thống tuy hình ảnh mới lạ, tràn đầy xúc cảm, nhưng nhịp điệu đôi lúc quen thuộc, lối dẫn dụ câu chuyện cũng không mới. Tôi yêu thích những bài thơ theo phong cách hiện đại của ông hơn và chờ đợi những tác phẩm của ông nối tiếp khuynh hướng này. Cả hai khuynh hướng ông viết đều giản dị, có lẽ càng giản dị thơ ông càng hay, càng ám ảnh. Nguyễn Đức Tùng là người thường xuyên tiếp xúc với văn hóa phương Tây, am tường văn học phương Tây, nhưng dường như ông không bị chi phối, ảnh hưởng bởi bất kỳ khuynh hướng nào. Đôi khi ông sử dụng thủ pháp diễu nhại, phần mảnh của trào lưu hậu hiện đại, nhưng vẫn mang phong cách riêng. Những câu thơ sau đây buông thả tự nhiên nhưng hiển lộ sự uyên bác, hóm hỉnh của riêng ông. “Ghé tai anh, ông nói thầm/ Còn kiếp trước tôi là con chuột/ Anh mua cho ông một cái bánh ngọt/ Croissant” (Ở Paris)

Hình ảnh trong thơ Nguyễn Đức Tùng thường duyên dáng, mang nét đẹp truyền thống. Một số bài thơ của ông vang vọng như những bản tình ca. Tôi thực sự yêu thích những câu thơ như: “Hoa cúi mình đợi gió/ Đất cúi mình chờ em” (Nếu em muốn, thì anh cũng muốn); “Anh nhớ em nằm trên thảm ấm/  Anh nhớ em quần lót vướng gót chân” (Đời là thế đó).

Một ranh giới khác mà thơ Nguyễn Đức Tùng đã vượt qua là ranh giới của sự giản dị. Tôi muốn nói đến tiêu đề tập thơ này của ông: Thơ buổi sáng. “Buổi sáng” ở đây được hiểu là khởi đầu của ngày mới, là buổi bình minh, sự mới mẻ, khai sáng, nó đến và đi theo quy luật tất yếu. Nhưng khái niệm ấy đi liền với thơ, biến thành thơ, tự nhiên tựa hơi thở, khí trời thì lại là điều phi thường. Với cá nhân tôi, đây là cách đặt tiêu đề cho một tập thơ của thi sĩ đã chạm đích. 

Nguyễn Đức Tùng viết tập thơ này trong và cho buổi sáng hôm nay. Phía trước nhà thơ còn nhiều buổi bình minh thơ nữa, dĩ nhiên vậy. Trong thi tập này tôi hầu như không thấy bài thơ nào xuống sức. Nhà thơ của chúng ta đang ở độ chín và sung mãn. Vậy liệu có ai đoán được ranh giới của Thơ buổi sáng tiếp theo của ông không?

Nguồn: Văn nghệ số 11/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm