TIN TỨC

Nỗi buồn trổ bông và tình mẹ trong thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-24 11:37:50
mail facebook google pos stwis
1459 lượt xem

Nguyễn Quế

Nguyễn Minh Ngọc Hà sinh năm 1985 tại vùng đất An Sơn thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nơi đây vốn là chiến khu cách mạng hào hùng trong hai cuộc kháng chiến và là một phần của Vườn trái cây đặc sản Lái Thiêu nổi tiếng. Có lẽ đặc điểm, truyền thống quê hương đã sớm chắp cánh cho hồn thơ của chị. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trong đầu cô cựu học sinh lớp chuyên toán của trường trung học phổ thông chuyên Hùng Vương luôn phảng phất âm điệu của thi ca. Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng tại trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh rồi vào làm việc tại một ngân hàng lớn chưa bao lâu, như duyên phận đã định trước, Nguyễn Minh Ngọc Hà “rẽ bước”, chọn nghề tự do để có thời gian dành cho văn chương nghệ thuật.

 

Ngoài hai tập thơ viết riêng đã in (Đắng - 2018 và Nỗi buồn trổ hoa - 2020, do Nhà xuất bản Văn học ẩn hành), chị còn là đồng tác giả của 12 tuyển tập thơ được bạn đọc yêu thích. Bài thơ Bảy sắc cầu vồng của chị được chọn in trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 2 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của chị. Ngoài thơ, Nguyễn Minh Ngọc Hà còn nặng lòng với sân khấu. Chị là chủ nhân của gần 30 giải thưởng trên các lĩnh vực sáng tác, tiêu biểu là Giải Nhất chuyên ngành thơ Cuộc thi sáng tác VHNT “Đất và người Bình Dương” năm 2021. Chị hiện là Ủy viên Ban Điều hành phân hội văn học thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Dương.

Thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà bắt rễ từ hai nguồn cảm xúc chính: Mẹ và tình yêu. Thơ tình của chị thường mang nỗi buồn da diết. Cầm trên tay các tác phẩm chị tặng, tôi cảm thấy bồi hồi, xao xuyến khi bắt gặp những tiếng lòng đầy hoài niệm:

“Người ngồi xuống đời ta như giấc mộng

 Ngỡ xa xăm nhưng bỗng chốc thật gần

 Nơi mạch máu hồi sinh niềm khát vọng

 Trái tim cằn bung nở đóa hoa xuân”

 (“Ngồi lại bên đời” – Nỗi buồn trổ hoa) 

Hay những câu thơ “tình nhẹ nhàng, tứ xa vắng” như:

“Tôi nhặt lá gom lại chiều hạ cũ

 Hứng tiếng ve trên mấy nhánh phượng già

 Kỷ ức xưa tưởng chừng như yên ngủ

 Bỗng hiện về như vừa mới hôm qua”

 (“Chiều hạ cũ”- Đắng)

Những câu thơ mang tâm trạng trắc ẩn ấy đã cuốn hút tôi. Tuy vậy, khi tìm hiểu kỹ hơn thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà, tôi nhận ra những vần thơ viết về mẹ mới là tiếng lòng sâu lắng nhất của chị. Bên cạnh những tác phẩm đã in sách, chị tiếp tục  cho ra đời những bài mới khá thành công. Hình ảnh người mẹ hiện hữu trong thơ chị thật bình dị nhưng cũng rất cao đẹp:

“Sen hồng

 gói nắng

 ủ sương

 thơm trong gió

 một làn hương dịu dàng”

 (Mẹ và sen)

Có gì ý nghĩa hơn khi ta so sánh mẹ với hình ảnh hoa sen? Và hạnh phúc thay,  khi ta được hưởng niềm hạnh phúc bao la từ lời ru của mẹ. Những trưa hè nóng bỏng hay những đêm đông giá lạnh, tiếng à ơi cất lên cùng với mùi thơm sữa lan tỏa từ bầu ngực trẻ, nơi có trái tim nặng tình yêu thương của mẹ, hòa với tiếng nôi đưa kẽo cà kẽo kẹt dẫn ta vào giấc ngủ thần tiên. Qua những lời ru, mẹ thổi vào trong ta hồn thiêng đất nước cùng tình yêu bao la trước cuộc sống, hoặc có khi đó là một thế giới như thực như mộng và những giấc mơ tuyệt đẹp đầu đời. Cũng như bao người khác, trong trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà, hình ảnh thân thương của mẹ luôn gắn liền với những lời ru tha thiết buổi ấu thơ. Niềm hạnh phúc to lớn ấy không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng nữ nhà thơ:

“Ngọt ngào giấc ngủ đầu nôi

  Dịu dàng giọng hát “à ơi” mẹ hiền”

  (Mẹ)

Trong tâm tưởng của một người con hiếu thảo, Nguyễn Minh Ngọc Hà trân quý biết bao mối quan hệ máu thịt thiêng liêng và hình ảnh thân thương của những người sinh thành, nuôi dưỡng mình:

“Con lớn khôn theo từng lời ru mẹ

 Êm tiếng võng đưa kẽo kẹt của bà

Vai mẹ mỏi từ độ còn son trẻ

 Lưng sớm còng bởi quang gánh đường xa”

 (Lời ru quằn vai mẹ)

Hình như lúc nào nhắc tới người mẹ yêu kính, bên cạnh sự biết ơn sâu sắc công lao của mẹ, trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà cũng quặn đau trước sự vất vả, hy sinh mẹ phải gánh gồng. Trong tâm tưởng chị, nỗi vất vả, hy sinh ấy thật bền bỉ và to lớn:

“Cả đời che nắng chắn mưa

 Tháng năm dầu dãi, bốn mùa phong sương

 Mẹ dành trọn vẹn tình thương

  Đạp lên đá sỏi, lát đường con đi

 

  Tuổi xuân mẹ có tiếc gì

  Hy sinh tất cả cũng vì đàn con

  Dáng mẹ ngày một hẻo hon

 Chỉ mong con được vuông tròn tương lai”

  (Mẹ)

Tác giả Nguyễn Minh Ngọc Hà

 Ngay cả những khi tưởng nhớ người mẹ hiền với những hình ảnh đẹp đẽ cùng niềm tự hào to lớn nhất, chị vẫn không khỏi xót xa trước quãng đời lam lũ, vất vả của mẹ:

“Đời sen như mẹ gian nan

 tháng năm quanh quẩn

 ao làng ruộng quê

      

Mẹ ta đội chiếc nón mê

 nắng chang

mưa dội

đường về thêm xa

áo tơi che tấm thân già

làm bóng mát

che con qua nhọc nhằn”

 (Mẹ và sen)

 Rồi một ngày, khi phải lìa xa bàn tay yêu thương của mẹ để đi vào biển đời rộng lớn, chị càng cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của mẹ và lưu giữ mãi hình ảnh mẹ lúc chia ly:

“Đò đưa con qua sông

 Ngược dòng trôi về phố

 Nước mắt mẹ lưng tròng

 Chưa xa mà đã nhớ”

Càng thấu hiểu tình cảm bao la cùng sự tần tảo, hy sinh của mẹ, chị lại càng trăn trở, băn khoăn:

“Con đi tìm tri thức

 Trên tay mẹ chai sần

 Con ấm chăn trước ngực

 Mẹ thêm nhiều nếp nhăn”

 (Con đò của mẹ)

Mỗi khi nghĩ tới tương lai tươi đẹp phía trước, chị lại cảm nhận sâu sắc công ơn của mẹ. Sau bao tháng ngày đi tìm hạnh phúc, chị mới vỡ lẽ, niềm hạnh phúc to lớn nhất của đời mình chính là được mẹ che chở, thương yêu:

“Đường con đi rộng thênh thang tương lai

 đường của mẹ gập ghềnh bao khó nhọc

 con mải miết kiếm tìm hạnh phúc

đâu hay rằng hạnh phúc ở sau lưng”

 (Mẹ)

Thương mẹ lưng ngày một còng thêm, những người thân trong gia đình nữ nhà thơ - mà chắc chị là một trong những người tích cực nhất - đã có những việc làm đầy tính nhân văn: Hạ lần bậc cửa để mẹ khỏi bước hụt. Nhắc tới sự việc này, Nguyễn Minh Ngọc Hà đã bộc bạch nỗi niềm của mình qua những câu thơ bình dị nhưng đầy xúc cảm:

 “Nhà mình mấy lần thay bậc cửa

  Đến hôm nay bậc cửa cũng chẳng còn

  Sàn nhà bằng mặt sân

 Tránh cho mẹ thêm lần bước hụt”

  (Dáng hình mẹ thân thương)

   Với trái tim giàu yêu thương, xúc động và đầy nhạy cảm của người phụ nữ, chị  đau đớn biết bao khi cảm nhận những điều không mong muốn đang ngày một đến gần:

“Thời gian rụng đầy tay

 cho hơi thở mẹ dần ngắn lại

 mỗi sáng mai ít thêm lần người dậy

 lá vàng rơi kín mặt sân buồn”

   Với quy luật khắc nghiệt của tự nhiên, ngày không mong đợi ấy cuối cùng cũng  sẽ đến. Thật cảm động khi ta đọc những câu thơ mang tâm trạng đau thương của tác giả:

 “Hối hả trở về trong nhói buốt hoàng hôn

  sau tin nhắn “Mẹ đang chờ” như sét đánh

  hành lý mang theo là trái tim ân hận

 trên chuyến bay dài nhất cuộc đời

 

“Con đã về bên mẹ, mẹ ơi”

 khán giọng gọi nhưng không lời đáp lại

 căn nhà rồi lặng im mãi mãi

 mắt ta nhòe hay trời đổ mưa bay?”

 (Chuyến bay dài nhất cuộc đời)

Đọc những bài thơ viết về mẹ của Nguyễn Minh Ngọc Hà, ta cảm thấy trân quý biết bao tình cảm dạt dào, sâu lắng của một người con giàu lòng yêu thương và hiểu thảo. Những tiếng lòng của chị được biểu đạt qua nhiều cung bậc cảm xúc với những bối cảnh khác nhau nhưng đó luôn là nỗi niềm sâu nặng của tình mẫu tử thiêng liêng, làm rung động trái tim người đọc.

Bên cạnh tình cảm dành cho người mẹ đẻ, trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà luôn hướng về những bà mẹ đã đóng góp, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó là những người mẹ cụ thể, bằng xương bằng thịt chị may mắn được gặp trong đời nhưng cũng là người mẹ Việt Nam nói chung mà chị trân trọng gọi bằng chữ viết hoa. Chị cảm phục biết bao trước những tấm gương cao đẹp ấy:                                 

“Như thân tằm rút ruột nhả tơ

 Mẹ rứt ruột mình hiến dâng cho đất nước

 Lớp lớp máu xương tạc nên dáng hình Tổ quốc

Có máu xương chồng và những đứa con”

Tháng Bảy tri ân, về bên mẹ, nghe mẹ kể về những năm tháng khói lửa đạn bom, lội suối băng rừng tải đạn, tiếp lương cho bộ đội, đào hầm bí mật nuôi dấu cán bộ, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, chong đèn thức thâu đêm canh từng giấc ngủ cho các anh, bị địch bắt tra tấn dã man vẫn xem thường đòn roi và các thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù, một lòng trung kiên với cách mạng, chị rất khâm phục và càng thêm kính yêu mẹ. Nhưng với trái tim đầy nhạy cảm và sự thấu hiểu sâu sắc tấm lòng cao cả cùng tình cảm bao la của mẹ, chị biết còn những điều sâu xa mẹ còn giữ lại trong lòng. Chị không nỡ khơi sâu nỗi niềm của mẹ và cảm thấy ray rứt trong tâm:

“Mẹ ơi, sao không kể nhiều hơn?

Những lần khóc tang chồng, khóc tang con

 hay một cánh tay Mẹ gửi lại trên dòng sông ngày ấy

 Bao chiến công lừng lẫy

 Bao tàn khuya bốn bề vắng im Mẹ đau lòng đến vậy

 Nước mắt Mẹ chảy nhiều hơn mưa ngâu tháng Bảy

 Sao không kể Mẹ ơi?!”

(Những điều Mẹ chưa kể)

Qua những câu thơ trên đây, hình ảnh người Mẹ chiến sỹ, người Mẹ Việt Nam hiện lên trước mắt ta thật cao đẹp. Tình cảm tác giả dành cho Mẹ cũng rất đáng được trân trọng, và chính điều đó đã góp phần nâng tầm giá trị của bài thơ, làm cho thơ chị có sức lan tỏa rộng rãi hơn.

Thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà nói chung và các tác phẩm chị viết về mẹ nói riêng  luôn là sự biểu đạt chân thực cảm xúc của chị. Những rung động dạt dào, sâu lắng  trước những con người và cuộc sống mến thương là mạch nguồn nuôi dưỡng hồn thơ chị, đồng thời là điểm tựa để thơ chị cất tiếng giữa cuộc đời tươi đẹp nhưng vẫn còn nhiều vất vả, lo toan.  

Đề tài trong thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà không mới nhưng đọc giả yêu thích thơ chị vì họ có thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu trong từng câu thơ của nữ tác giả trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những câu thơ hay, thỉnh thoảng thơ chị còn có những câu, chữ chưa thật thanh thoát. Dù sao, với những gì Nguyễn Minh Ngọc Hà đã có được cùng tình yêu chị dành cho thơ ca, chúng ta có thể tin rằng, chị sẽ còn nhiều tiềm lực để vững bước trên con đường nghệ thuật của mình.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm