TIN TỨC

Nỗi buồn trổ bông và tình mẹ trong thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-24 11:37:50
mail facebook google pos stwis
1920 lượt xem

Nguyễn Quế

Nguyễn Minh Ngọc Hà sinh năm 1985 tại vùng đất An Sơn thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nơi đây vốn là chiến khu cách mạng hào hùng trong hai cuộc kháng chiến và là một phần của Vườn trái cây đặc sản Lái Thiêu nổi tiếng. Có lẽ đặc điểm, truyền thống quê hương đã sớm chắp cánh cho hồn thơ của chị. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trong đầu cô cựu học sinh lớp chuyên toán của trường trung học phổ thông chuyên Hùng Vương luôn phảng phất âm điệu của thi ca. Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng tại trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh rồi vào làm việc tại một ngân hàng lớn chưa bao lâu, như duyên phận đã định trước, Nguyễn Minh Ngọc Hà “rẽ bước”, chọn nghề tự do để có thời gian dành cho văn chương nghệ thuật.

 

Ngoài hai tập thơ viết riêng đã in (Đắng - 2018 và Nỗi buồn trổ hoa - 2020, do Nhà xuất bản Văn học ẩn hành), chị còn là đồng tác giả của 12 tuyển tập thơ được bạn đọc yêu thích. Bài thơ Bảy sắc cầu vồng của chị được chọn in trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 2 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của chị. Ngoài thơ, Nguyễn Minh Ngọc Hà còn nặng lòng với sân khấu. Chị là chủ nhân của gần 30 giải thưởng trên các lĩnh vực sáng tác, tiêu biểu là Giải Nhất chuyên ngành thơ Cuộc thi sáng tác VHNT “Đất và người Bình Dương” năm 2021. Chị hiện là Ủy viên Ban Điều hành phân hội văn học thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Dương.

Thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà bắt rễ từ hai nguồn cảm xúc chính: Mẹ và tình yêu. Thơ tình của chị thường mang nỗi buồn da diết. Cầm trên tay các tác phẩm chị tặng, tôi cảm thấy bồi hồi, xao xuyến khi bắt gặp những tiếng lòng đầy hoài niệm:

“Người ngồi xuống đời ta như giấc mộng

 Ngỡ xa xăm nhưng bỗng chốc thật gần

 Nơi mạch máu hồi sinh niềm khát vọng

 Trái tim cằn bung nở đóa hoa xuân”

 (“Ngồi lại bên đời” – Nỗi buồn trổ hoa) 

Hay những câu thơ “tình nhẹ nhàng, tứ xa vắng” như:

“Tôi nhặt lá gom lại chiều hạ cũ

 Hứng tiếng ve trên mấy nhánh phượng già

 Kỷ ức xưa tưởng chừng như yên ngủ

 Bỗng hiện về như vừa mới hôm qua”

 (“Chiều hạ cũ”- Đắng)

Những câu thơ mang tâm trạng trắc ẩn ấy đã cuốn hút tôi. Tuy vậy, khi tìm hiểu kỹ hơn thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà, tôi nhận ra những vần thơ viết về mẹ mới là tiếng lòng sâu lắng nhất của chị. Bên cạnh những tác phẩm đã in sách, chị tiếp tục  cho ra đời những bài mới khá thành công. Hình ảnh người mẹ hiện hữu trong thơ chị thật bình dị nhưng cũng rất cao đẹp:

“Sen hồng

 gói nắng

 ủ sương

 thơm trong gió

 một làn hương dịu dàng”

 (Mẹ và sen)

Có gì ý nghĩa hơn khi ta so sánh mẹ với hình ảnh hoa sen? Và hạnh phúc thay,  khi ta được hưởng niềm hạnh phúc bao la từ lời ru của mẹ. Những trưa hè nóng bỏng hay những đêm đông giá lạnh, tiếng à ơi cất lên cùng với mùi thơm sữa lan tỏa từ bầu ngực trẻ, nơi có trái tim nặng tình yêu thương của mẹ, hòa với tiếng nôi đưa kẽo cà kẽo kẹt dẫn ta vào giấc ngủ thần tiên. Qua những lời ru, mẹ thổi vào trong ta hồn thiêng đất nước cùng tình yêu bao la trước cuộc sống, hoặc có khi đó là một thế giới như thực như mộng và những giấc mơ tuyệt đẹp đầu đời. Cũng như bao người khác, trong trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà, hình ảnh thân thương của mẹ luôn gắn liền với những lời ru tha thiết buổi ấu thơ. Niềm hạnh phúc to lớn ấy không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng nữ nhà thơ:

“Ngọt ngào giấc ngủ đầu nôi

  Dịu dàng giọng hát “à ơi” mẹ hiền”

  (Mẹ)

Trong tâm tưởng của một người con hiếu thảo, Nguyễn Minh Ngọc Hà trân quý biết bao mối quan hệ máu thịt thiêng liêng và hình ảnh thân thương của những người sinh thành, nuôi dưỡng mình:

“Con lớn khôn theo từng lời ru mẹ

 Êm tiếng võng đưa kẽo kẹt của bà

Vai mẹ mỏi từ độ còn son trẻ

 Lưng sớm còng bởi quang gánh đường xa”

 (Lời ru quằn vai mẹ)

Hình như lúc nào nhắc tới người mẹ yêu kính, bên cạnh sự biết ơn sâu sắc công lao của mẹ, trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà cũng quặn đau trước sự vất vả, hy sinh mẹ phải gánh gồng. Trong tâm tưởng chị, nỗi vất vả, hy sinh ấy thật bền bỉ và to lớn:

“Cả đời che nắng chắn mưa

 Tháng năm dầu dãi, bốn mùa phong sương

 Mẹ dành trọn vẹn tình thương

  Đạp lên đá sỏi, lát đường con đi

 

  Tuổi xuân mẹ có tiếc gì

  Hy sinh tất cả cũng vì đàn con

  Dáng mẹ ngày một hẻo hon

 Chỉ mong con được vuông tròn tương lai”

  (Mẹ)

Tác giả Nguyễn Minh Ngọc Hà

 Ngay cả những khi tưởng nhớ người mẹ hiền với những hình ảnh đẹp đẽ cùng niềm tự hào to lớn nhất, chị vẫn không khỏi xót xa trước quãng đời lam lũ, vất vả của mẹ:

“Đời sen như mẹ gian nan

 tháng năm quanh quẩn

 ao làng ruộng quê

      

Mẹ ta đội chiếc nón mê

 nắng chang

mưa dội

đường về thêm xa

áo tơi che tấm thân già

làm bóng mát

che con qua nhọc nhằn”

 (Mẹ và sen)

 Rồi một ngày, khi phải lìa xa bàn tay yêu thương của mẹ để đi vào biển đời rộng lớn, chị càng cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của mẹ và lưu giữ mãi hình ảnh mẹ lúc chia ly:

“Đò đưa con qua sông

 Ngược dòng trôi về phố

 Nước mắt mẹ lưng tròng

 Chưa xa mà đã nhớ”

Càng thấu hiểu tình cảm bao la cùng sự tần tảo, hy sinh của mẹ, chị lại càng trăn trở, băn khoăn:

“Con đi tìm tri thức

 Trên tay mẹ chai sần

 Con ấm chăn trước ngực

 Mẹ thêm nhiều nếp nhăn”

 (Con đò của mẹ)

Mỗi khi nghĩ tới tương lai tươi đẹp phía trước, chị lại cảm nhận sâu sắc công ơn của mẹ. Sau bao tháng ngày đi tìm hạnh phúc, chị mới vỡ lẽ, niềm hạnh phúc to lớn nhất của đời mình chính là được mẹ che chở, thương yêu:

“Đường con đi rộng thênh thang tương lai

 đường của mẹ gập ghềnh bao khó nhọc

 con mải miết kiếm tìm hạnh phúc

đâu hay rằng hạnh phúc ở sau lưng”

 (Mẹ)

Thương mẹ lưng ngày một còng thêm, những người thân trong gia đình nữ nhà thơ - mà chắc chị là một trong những người tích cực nhất - đã có những việc làm đầy tính nhân văn: Hạ lần bậc cửa để mẹ khỏi bước hụt. Nhắc tới sự việc này, Nguyễn Minh Ngọc Hà đã bộc bạch nỗi niềm của mình qua những câu thơ bình dị nhưng đầy xúc cảm:

 “Nhà mình mấy lần thay bậc cửa

  Đến hôm nay bậc cửa cũng chẳng còn

  Sàn nhà bằng mặt sân

 Tránh cho mẹ thêm lần bước hụt”

  (Dáng hình mẹ thân thương)

   Với trái tim giàu yêu thương, xúc động và đầy nhạy cảm của người phụ nữ, chị  đau đớn biết bao khi cảm nhận những điều không mong muốn đang ngày một đến gần:

“Thời gian rụng đầy tay

 cho hơi thở mẹ dần ngắn lại

 mỗi sáng mai ít thêm lần người dậy

 lá vàng rơi kín mặt sân buồn”

   Với quy luật khắc nghiệt của tự nhiên, ngày không mong đợi ấy cuối cùng cũng  sẽ đến. Thật cảm động khi ta đọc những câu thơ mang tâm trạng đau thương của tác giả:

 “Hối hả trở về trong nhói buốt hoàng hôn

  sau tin nhắn “Mẹ đang chờ” như sét đánh

  hành lý mang theo là trái tim ân hận

 trên chuyến bay dài nhất cuộc đời

 

“Con đã về bên mẹ, mẹ ơi”

 khán giọng gọi nhưng không lời đáp lại

 căn nhà rồi lặng im mãi mãi

 mắt ta nhòe hay trời đổ mưa bay?”

 (Chuyến bay dài nhất cuộc đời)

Đọc những bài thơ viết về mẹ của Nguyễn Minh Ngọc Hà, ta cảm thấy trân quý biết bao tình cảm dạt dào, sâu lắng của một người con giàu lòng yêu thương và hiểu thảo. Những tiếng lòng của chị được biểu đạt qua nhiều cung bậc cảm xúc với những bối cảnh khác nhau nhưng đó luôn là nỗi niềm sâu nặng của tình mẫu tử thiêng liêng, làm rung động trái tim người đọc.

Bên cạnh tình cảm dành cho người mẹ đẻ, trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà luôn hướng về những bà mẹ đã đóng góp, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó là những người mẹ cụ thể, bằng xương bằng thịt chị may mắn được gặp trong đời nhưng cũng là người mẹ Việt Nam nói chung mà chị trân trọng gọi bằng chữ viết hoa. Chị cảm phục biết bao trước những tấm gương cao đẹp ấy:                                 

“Như thân tằm rút ruột nhả tơ

 Mẹ rứt ruột mình hiến dâng cho đất nước

 Lớp lớp máu xương tạc nên dáng hình Tổ quốc

Có máu xương chồng và những đứa con”

Tháng Bảy tri ân, về bên mẹ, nghe mẹ kể về những năm tháng khói lửa đạn bom, lội suối băng rừng tải đạn, tiếp lương cho bộ đội, đào hầm bí mật nuôi dấu cán bộ, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, chong đèn thức thâu đêm canh từng giấc ngủ cho các anh, bị địch bắt tra tấn dã man vẫn xem thường đòn roi và các thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù, một lòng trung kiên với cách mạng, chị rất khâm phục và càng thêm kính yêu mẹ. Nhưng với trái tim đầy nhạy cảm và sự thấu hiểu sâu sắc tấm lòng cao cả cùng tình cảm bao la của mẹ, chị biết còn những điều sâu xa mẹ còn giữ lại trong lòng. Chị không nỡ khơi sâu nỗi niềm của mẹ và cảm thấy ray rứt trong tâm:

“Mẹ ơi, sao không kể nhiều hơn?

Những lần khóc tang chồng, khóc tang con

 hay một cánh tay Mẹ gửi lại trên dòng sông ngày ấy

 Bao chiến công lừng lẫy

 Bao tàn khuya bốn bề vắng im Mẹ đau lòng đến vậy

 Nước mắt Mẹ chảy nhiều hơn mưa ngâu tháng Bảy

 Sao không kể Mẹ ơi?!”

(Những điều Mẹ chưa kể)

Qua những câu thơ trên đây, hình ảnh người Mẹ chiến sỹ, người Mẹ Việt Nam hiện lên trước mắt ta thật cao đẹp. Tình cảm tác giả dành cho Mẹ cũng rất đáng được trân trọng, và chính điều đó đã góp phần nâng tầm giá trị của bài thơ, làm cho thơ chị có sức lan tỏa rộng rãi hơn.

Thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà nói chung và các tác phẩm chị viết về mẹ nói riêng  luôn là sự biểu đạt chân thực cảm xúc của chị. Những rung động dạt dào, sâu lắng  trước những con người và cuộc sống mến thương là mạch nguồn nuôi dưỡng hồn thơ chị, đồng thời là điểm tựa để thơ chị cất tiếng giữa cuộc đời tươi đẹp nhưng vẫn còn nhiều vất vả, lo toan.  

Đề tài trong thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà không mới nhưng đọc giả yêu thích thơ chị vì họ có thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu trong từng câu thơ của nữ tác giả trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những câu thơ hay, thỉnh thoảng thơ chị còn có những câu, chữ chưa thật thanh thoát. Dù sao, với những gì Nguyễn Minh Ngọc Hà đã có được cùng tình yêu chị dành cho thơ ca, chúng ta có thể tin rằng, chị sẽ còn nhiều tiềm lực để vững bước trên con đường nghệ thuật của mình.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm