TIN TỨC

Nỗi buồn trổ bông và tình mẹ trong thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-24 11:37:50
mail facebook google pos stwis
1683 lượt xem

Nguyễn Quế

Nguyễn Minh Ngọc Hà sinh năm 1985 tại vùng đất An Sơn thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nơi đây vốn là chiến khu cách mạng hào hùng trong hai cuộc kháng chiến và là một phần của Vườn trái cây đặc sản Lái Thiêu nổi tiếng. Có lẽ đặc điểm, truyền thống quê hương đã sớm chắp cánh cho hồn thơ của chị. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trong đầu cô cựu học sinh lớp chuyên toán của trường trung học phổ thông chuyên Hùng Vương luôn phảng phất âm điệu của thi ca. Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng tại trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh rồi vào làm việc tại một ngân hàng lớn chưa bao lâu, như duyên phận đã định trước, Nguyễn Minh Ngọc Hà “rẽ bước”, chọn nghề tự do để có thời gian dành cho văn chương nghệ thuật.

 

Ngoài hai tập thơ viết riêng đã in (Đắng - 2018 và Nỗi buồn trổ hoa - 2020, do Nhà xuất bản Văn học ẩn hành), chị còn là đồng tác giả của 12 tuyển tập thơ được bạn đọc yêu thích. Bài thơ Bảy sắc cầu vồng của chị được chọn in trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 2 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của chị. Ngoài thơ, Nguyễn Minh Ngọc Hà còn nặng lòng với sân khấu. Chị là chủ nhân của gần 30 giải thưởng trên các lĩnh vực sáng tác, tiêu biểu là Giải Nhất chuyên ngành thơ Cuộc thi sáng tác VHNT “Đất và người Bình Dương” năm 2021. Chị hiện là Ủy viên Ban Điều hành phân hội văn học thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Dương.

Thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà bắt rễ từ hai nguồn cảm xúc chính: Mẹ và tình yêu. Thơ tình của chị thường mang nỗi buồn da diết. Cầm trên tay các tác phẩm chị tặng, tôi cảm thấy bồi hồi, xao xuyến khi bắt gặp những tiếng lòng đầy hoài niệm:

“Người ngồi xuống đời ta như giấc mộng

 Ngỡ xa xăm nhưng bỗng chốc thật gần

 Nơi mạch máu hồi sinh niềm khát vọng

 Trái tim cằn bung nở đóa hoa xuân”

 (“Ngồi lại bên đời” – Nỗi buồn trổ hoa) 

Hay những câu thơ “tình nhẹ nhàng, tứ xa vắng” như:

“Tôi nhặt lá gom lại chiều hạ cũ

 Hứng tiếng ve trên mấy nhánh phượng già

 Kỷ ức xưa tưởng chừng như yên ngủ

 Bỗng hiện về như vừa mới hôm qua”

 (“Chiều hạ cũ”- Đắng)

Những câu thơ mang tâm trạng trắc ẩn ấy đã cuốn hút tôi. Tuy vậy, khi tìm hiểu kỹ hơn thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà, tôi nhận ra những vần thơ viết về mẹ mới là tiếng lòng sâu lắng nhất của chị. Bên cạnh những tác phẩm đã in sách, chị tiếp tục  cho ra đời những bài mới khá thành công. Hình ảnh người mẹ hiện hữu trong thơ chị thật bình dị nhưng cũng rất cao đẹp:

“Sen hồng

 gói nắng

 ủ sương

 thơm trong gió

 một làn hương dịu dàng”

 (Mẹ và sen)

Có gì ý nghĩa hơn khi ta so sánh mẹ với hình ảnh hoa sen? Và hạnh phúc thay,  khi ta được hưởng niềm hạnh phúc bao la từ lời ru của mẹ. Những trưa hè nóng bỏng hay những đêm đông giá lạnh, tiếng à ơi cất lên cùng với mùi thơm sữa lan tỏa từ bầu ngực trẻ, nơi có trái tim nặng tình yêu thương của mẹ, hòa với tiếng nôi đưa kẽo cà kẽo kẹt dẫn ta vào giấc ngủ thần tiên. Qua những lời ru, mẹ thổi vào trong ta hồn thiêng đất nước cùng tình yêu bao la trước cuộc sống, hoặc có khi đó là một thế giới như thực như mộng và những giấc mơ tuyệt đẹp đầu đời. Cũng như bao người khác, trong trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà, hình ảnh thân thương của mẹ luôn gắn liền với những lời ru tha thiết buổi ấu thơ. Niềm hạnh phúc to lớn ấy không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng nữ nhà thơ:

“Ngọt ngào giấc ngủ đầu nôi

  Dịu dàng giọng hát “à ơi” mẹ hiền”

  (Mẹ)

Trong tâm tưởng của một người con hiếu thảo, Nguyễn Minh Ngọc Hà trân quý biết bao mối quan hệ máu thịt thiêng liêng và hình ảnh thân thương của những người sinh thành, nuôi dưỡng mình:

“Con lớn khôn theo từng lời ru mẹ

 Êm tiếng võng đưa kẽo kẹt của bà

Vai mẹ mỏi từ độ còn son trẻ

 Lưng sớm còng bởi quang gánh đường xa”

 (Lời ru quằn vai mẹ)

Hình như lúc nào nhắc tới người mẹ yêu kính, bên cạnh sự biết ơn sâu sắc công lao của mẹ, trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà cũng quặn đau trước sự vất vả, hy sinh mẹ phải gánh gồng. Trong tâm tưởng chị, nỗi vất vả, hy sinh ấy thật bền bỉ và to lớn:

“Cả đời che nắng chắn mưa

 Tháng năm dầu dãi, bốn mùa phong sương

 Mẹ dành trọn vẹn tình thương

  Đạp lên đá sỏi, lát đường con đi

 

  Tuổi xuân mẹ có tiếc gì

  Hy sinh tất cả cũng vì đàn con

  Dáng mẹ ngày một hẻo hon

 Chỉ mong con được vuông tròn tương lai”

  (Mẹ)

Tác giả Nguyễn Minh Ngọc Hà

 Ngay cả những khi tưởng nhớ người mẹ hiền với những hình ảnh đẹp đẽ cùng niềm tự hào to lớn nhất, chị vẫn không khỏi xót xa trước quãng đời lam lũ, vất vả của mẹ:

“Đời sen như mẹ gian nan

 tháng năm quanh quẩn

 ao làng ruộng quê

      

Mẹ ta đội chiếc nón mê

 nắng chang

mưa dội

đường về thêm xa

áo tơi che tấm thân già

làm bóng mát

che con qua nhọc nhằn”

 (Mẹ và sen)

 Rồi một ngày, khi phải lìa xa bàn tay yêu thương của mẹ để đi vào biển đời rộng lớn, chị càng cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của mẹ và lưu giữ mãi hình ảnh mẹ lúc chia ly:

“Đò đưa con qua sông

 Ngược dòng trôi về phố

 Nước mắt mẹ lưng tròng

 Chưa xa mà đã nhớ”

Càng thấu hiểu tình cảm bao la cùng sự tần tảo, hy sinh của mẹ, chị lại càng trăn trở, băn khoăn:

“Con đi tìm tri thức

 Trên tay mẹ chai sần

 Con ấm chăn trước ngực

 Mẹ thêm nhiều nếp nhăn”

 (Con đò của mẹ)

Mỗi khi nghĩ tới tương lai tươi đẹp phía trước, chị lại cảm nhận sâu sắc công ơn của mẹ. Sau bao tháng ngày đi tìm hạnh phúc, chị mới vỡ lẽ, niềm hạnh phúc to lớn nhất của đời mình chính là được mẹ che chở, thương yêu:

“Đường con đi rộng thênh thang tương lai

 đường của mẹ gập ghềnh bao khó nhọc

 con mải miết kiếm tìm hạnh phúc

đâu hay rằng hạnh phúc ở sau lưng”

 (Mẹ)

Thương mẹ lưng ngày một còng thêm, những người thân trong gia đình nữ nhà thơ - mà chắc chị là một trong những người tích cực nhất - đã có những việc làm đầy tính nhân văn: Hạ lần bậc cửa để mẹ khỏi bước hụt. Nhắc tới sự việc này, Nguyễn Minh Ngọc Hà đã bộc bạch nỗi niềm của mình qua những câu thơ bình dị nhưng đầy xúc cảm:

 “Nhà mình mấy lần thay bậc cửa

  Đến hôm nay bậc cửa cũng chẳng còn

  Sàn nhà bằng mặt sân

 Tránh cho mẹ thêm lần bước hụt”

  (Dáng hình mẹ thân thương)

   Với trái tim giàu yêu thương, xúc động và đầy nhạy cảm của người phụ nữ, chị  đau đớn biết bao khi cảm nhận những điều không mong muốn đang ngày một đến gần:

“Thời gian rụng đầy tay

 cho hơi thở mẹ dần ngắn lại

 mỗi sáng mai ít thêm lần người dậy

 lá vàng rơi kín mặt sân buồn”

   Với quy luật khắc nghiệt của tự nhiên, ngày không mong đợi ấy cuối cùng cũng  sẽ đến. Thật cảm động khi ta đọc những câu thơ mang tâm trạng đau thương của tác giả:

 “Hối hả trở về trong nhói buốt hoàng hôn

  sau tin nhắn “Mẹ đang chờ” như sét đánh

  hành lý mang theo là trái tim ân hận

 trên chuyến bay dài nhất cuộc đời

 

“Con đã về bên mẹ, mẹ ơi”

 khán giọng gọi nhưng không lời đáp lại

 căn nhà rồi lặng im mãi mãi

 mắt ta nhòe hay trời đổ mưa bay?”

 (Chuyến bay dài nhất cuộc đời)

Đọc những bài thơ viết về mẹ của Nguyễn Minh Ngọc Hà, ta cảm thấy trân quý biết bao tình cảm dạt dào, sâu lắng của một người con giàu lòng yêu thương và hiểu thảo. Những tiếng lòng của chị được biểu đạt qua nhiều cung bậc cảm xúc với những bối cảnh khác nhau nhưng đó luôn là nỗi niềm sâu nặng của tình mẫu tử thiêng liêng, làm rung động trái tim người đọc.

Bên cạnh tình cảm dành cho người mẹ đẻ, trái tim Nguyễn Minh Ngọc Hà luôn hướng về những bà mẹ đã đóng góp, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó là những người mẹ cụ thể, bằng xương bằng thịt chị may mắn được gặp trong đời nhưng cũng là người mẹ Việt Nam nói chung mà chị trân trọng gọi bằng chữ viết hoa. Chị cảm phục biết bao trước những tấm gương cao đẹp ấy:                                 

“Như thân tằm rút ruột nhả tơ

 Mẹ rứt ruột mình hiến dâng cho đất nước

 Lớp lớp máu xương tạc nên dáng hình Tổ quốc

Có máu xương chồng và những đứa con”

Tháng Bảy tri ân, về bên mẹ, nghe mẹ kể về những năm tháng khói lửa đạn bom, lội suối băng rừng tải đạn, tiếp lương cho bộ đội, đào hầm bí mật nuôi dấu cán bộ, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, chong đèn thức thâu đêm canh từng giấc ngủ cho các anh, bị địch bắt tra tấn dã man vẫn xem thường đòn roi và các thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù, một lòng trung kiên với cách mạng, chị rất khâm phục và càng thêm kính yêu mẹ. Nhưng với trái tim đầy nhạy cảm và sự thấu hiểu sâu sắc tấm lòng cao cả cùng tình cảm bao la của mẹ, chị biết còn những điều sâu xa mẹ còn giữ lại trong lòng. Chị không nỡ khơi sâu nỗi niềm của mẹ và cảm thấy ray rứt trong tâm:

“Mẹ ơi, sao không kể nhiều hơn?

Những lần khóc tang chồng, khóc tang con

 hay một cánh tay Mẹ gửi lại trên dòng sông ngày ấy

 Bao chiến công lừng lẫy

 Bao tàn khuya bốn bề vắng im Mẹ đau lòng đến vậy

 Nước mắt Mẹ chảy nhiều hơn mưa ngâu tháng Bảy

 Sao không kể Mẹ ơi?!”

(Những điều Mẹ chưa kể)

Qua những câu thơ trên đây, hình ảnh người Mẹ chiến sỹ, người Mẹ Việt Nam hiện lên trước mắt ta thật cao đẹp. Tình cảm tác giả dành cho Mẹ cũng rất đáng được trân trọng, và chính điều đó đã góp phần nâng tầm giá trị của bài thơ, làm cho thơ chị có sức lan tỏa rộng rãi hơn.

Thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà nói chung và các tác phẩm chị viết về mẹ nói riêng  luôn là sự biểu đạt chân thực cảm xúc của chị. Những rung động dạt dào, sâu lắng  trước những con người và cuộc sống mến thương là mạch nguồn nuôi dưỡng hồn thơ chị, đồng thời là điểm tựa để thơ chị cất tiếng giữa cuộc đời tươi đẹp nhưng vẫn còn nhiều vất vả, lo toan.  

Đề tài trong thơ Nguyễn Minh Ngọc Hà không mới nhưng đọc giả yêu thích thơ chị vì họ có thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu trong từng câu thơ của nữ tác giả trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những câu thơ hay, thỉnh thoảng thơ chị còn có những câu, chữ chưa thật thanh thoát. Dù sao, với những gì Nguyễn Minh Ngọc Hà đã có được cùng tình yêu chị dành cho thơ ca, chúng ta có thể tin rằng, chị sẽ còn nhiều tiềm lực để vững bước trên con đường nghệ thuật của mình.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm