TIN TỨC

Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-01 10:13:48
mail facebook google pos stwis
16 lượt xem

PGS.TS NGUYỄN HỮU SƠN

Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nam Cao từ đó đã trở thành biểu tượng của một vùng văn hóa, văn học, nghệ thuật; thành điểm đến trong tâm thức nhiều thế hệ độc giả cũng như du khách trong và ngoài nước.

 

Nhà văn Nam Cao (Ảnh tư liệu).

 

Trên cả hai phương diện văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, có thể nhận diện, khái quát các đặc điểm và nhấn mạnh thực thể biểu tượng “điểm đến” - địa điểm, địa danh, danh tích, danh thắng, danh nhân, danh tài, danh tộc Nam Cao - Vũ Đại - Cao Đà - Lý Nhân. Nói cách khác, đây là mối quan hệ giữa tiềm năng và hiện thực, giữa sản phẩm du lịch và du khách, giữa việc kiến tạo vị thế giá trị địa danh và khả năng hấp dẫn, lan tỏa bốn phương. Với trường hợp Nam Cao, quá trình tích hợp, kết tinh, chuyển tải và chuyển hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm qua các phương tiện truyền thông đã dần trở thành tiềm năng, tiềm lực và sản phẩm du lịch gắn với địa danh cụ thể. Đó cũng là sự tổng hợp những giá trị bắt nguồn từ chính quê sinh, từ tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp nhà văn, từ khả năng tái tạo hình ảnh cảnh quan, con người và đời sống quê hương trong tác phẩm.

Về phía độc giả, diễn ra khả năng tiếp nhận theo cách “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, khơi gợi hình dung, tưởng tượng về một không gian làng Vũ Đại với bến đò và “cái lò gạch cũ”, với nghề dệt vải, với ngôi nhà nguyên mẫu Bá Kiến thuở trước; với ngôi nhà, lối ngõ, nấm mộ và Nhà lưu niệm Nam Cao hôm nay; với những nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, lão Hạc, Tự Lãng, Thị Nở, Binh Chức, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành… - chủ nhân chốn làng quê một thời. Trên tư cách độc giả chuyển hóa thành chủ thể du khách “kép”, mỗi người có cách tiếp nhận riêng, khơi gợi sự hiếu kỳ và niềm trân trọng để mong ước một lần đến thăm quê hương nhà văn. Độc giả - du khách mong muốn “tận mục sở thị” để biết vì sao làng quê bình dị ấy đã sinh thành, nuôi dưỡng nên nhà văn Nam Cao, và cội nguồn những con người, cảnh vật kia đã được chuyển hóa như thế nào trong tác phẩm của ông.

Nam Cao sáng tác và chính tác phẩm đã làm nên tên tuổi Nam Cao, định vị vùng quê Nam Cao, đồng thời đưa quê hương ấy vào lịch sử văn học, vào bản đồ điểm đến của du khách và vào đối tượng nghiên cứu của du lịch học. Ngoài hệ thống nhân vật, cảnh quan quê hương trong văn Nam Cao cũng khơi gợi trí tưởng tượng và vẫy gọi du khách phương xa. Này đây là ấn tượng về cái lò gạch cũ hoang hoải đầu đồng cuối bãi trong “Chí Phèo”; khung cảnh một sớm quê thật quê, một anh Chí Phèo như thức, như tỉnh, như chiêm cảm, như quán chiếu, hay giây lát đốn ngộ thực tại sự sống của mọi chúng sinh: “Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”; “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!”…; này đây là cảnh đi tàu thủy, cập mạn đò, đò màn, “bến màn” (“Đi đứng chớ có vội vàng,/ Đứt dây đò màn rơi tõm xuống sống”) qua lời thầy hiệu trưởng trường tư khổ nói với nhà giáo văn sĩ Điền trong “Sống mòn”…

Từng trang văn gắn với cảnh quê, con người và đời sống như thế đã và đang tiếp tục cuốn hút độc giả – du khách bốn phương về với quê hương Nam Cao. Chính những trang văn ấy đã làm nên tên tuổi nhà văn, định hình quê hương xứ sở và thương hiệu cho một vùng văn hóa du lịch và du lịch văn hóa.

Bên cạnh sức sống nội tại của dòng chủ lưu tác phẩm Nam Cao đến với công chúng bạn đọc còn có những dòng tiếp nhận bồi đắp, mở rộng qua ký ức, hồi ức của người thân trong gia đình, làng xóm, bạn văn, giới nghiên cứu, phê bình và dịch thuật.

Trước hết là ký ức của những người thân thiết, gắn bó, ân tình, đồng cam cộng khổ như bà Trần Thị Sen - vợ nhà văn. Tiếp nối là những ghi chép, góp nhặt, đan kết tư liệu cũ mới của Trần Thị Hồng - con gái nhà văn (sinh năm 1938, khi cha mất đã 14 tuổi)…

Mở rộng hơn là tiếng nói giữa giới nhà văn. Chẳng hạn, Tô Hoài kể về tình bạn thắm thiết với Nam Cao, đã in báo từ những năm 1954-1956, trong đó có những quan sát, kiểm chứng, lý giải từ góc độ người cùng giới sáng tác, cùng thời, cùng trong sinh quyển văn hóa - xã hội giữa mùa thực dân, phong kiến: “Nhà anh là một nhà trung nông lép vế. Truyện Chí Phèo in ở Hà Nội, chính là cái chuyện anh Chí Phèo thật đã giết một tên tổng lý cường hào thật đã xảy ra mười mấy năm về trước ở làng anh; vì chuyện ấy mà cường hào dọa đánh và kiện anh, triệt đường anh về làng”... Những chi tiết này cũng được bà Trần Thị Sen cảm nhận, xác nhận, ghi nhận trong hồi ức.
Bên cạnh đó còn có nhiều trang viết của những người cùng thế hệ, cùng nghề nghiệp, bạn văn, bạn đời từng trực tiếp gặp gỡ, hiểu biết, góp phần làm sáng tỏ và tôn vinh chân dung nhà văn Nam Cao như Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Lê Văn Trương, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Văn, Phạm Lê Văn…

 

Nhà lưu niệm nhà văn Nam Cao tại xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình.

 

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã dụng công điền dã, sưu tầm, kết nối tài liệu như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Thang Ngọc Pho, Trần Quang Vinh, Đỗ Đình Thọ, Hoàng Cao… nhằm dựng lại chân dung Nam Cao cũng như mối quan hệ giữa cuộc đời và tác phẩm, đặc trưng sáng tạo và tâm lý sáng tạo văn học, vai trò tác giả, khả năng kiến tạo văn hóa văn học và du lịch vùng.

Theo một hướng tiếp nhận khác, tác phẩm Nam Cao được chuyển thể, chuyển đổi loại hình, tái cấu trúc thành phim như “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) của đạo diễn Phạm Văn Khoa, chuyển thể từ ba tác phẩm “Sống mòn”, “Lão Hạc” và “Chí Phèo”; phim “Cậu Vàng” (2021) của đạo diễn Trần Vũ Thủy, chuyển thể từ truyện ngắn “Lão Hạc”; cùng nhiều phim tư liệu, hoạt hình, truyện tranh khác.
Nhà văn Kim Lân trong vai lão Hạc từng nhấn mạnh mối quan hệ giữa người đóng phim với nhân vật truyện và nhân vật phim, giữa hiệu ứng nhân vật và toàn cảnh phim với sự tiếp nhận của khán giả và đời sống xã hội: “Bây giờ ở đâu có những tay ba gai ba đồ sừng sỏ đầu gấu người ta gọi nó là thằng Chí Phèo, thậm chí có cả con Chí Phèo nữa, người ta tránh xa không muốn dây vào… Nhân vật của Nam Cao qua điện ảnh đã đi vào đời sống, đã thành những mẫu người của cuộc sống: Chí Phèo (Bùi Cường), Thị Nở (Đức Lưu), giáo Thứ (Hữu Mười), lão Hạc (Kim Lân). Những nhân vật ấy của Nam Cao thật sự vẫn đang sống giữa cuộc sống của đất nước mình ngày hôm nay”…

Khi được phiên diễn, tổng hợp, phổ cập và đại chúng hóa qua các ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh, tên tuổi Nam Cao cùng tác phẩm và làng quê càng có sức lan tỏa như một phương thức quảng bá hữu hiệu cho du lịch. Tiếng vang tác phẩm, tên tuổi và quê hương Nam Cao như một điển hình vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ đã vươn tầm quốc gia và thời đại.

Trong điều kiện giao lưu văn hóa, văn học phát triển, nhiều học giả Việt Nam đã chú trọng nghiên cứu so sánh, đặt tác phẩm Nam Cao trong tương quan văn học thế giới. Có thể kể đến các công trình như Đào Tuấn Ảnh với “Tsekov và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”; Phạm Tú Châu với “Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”; Trần Ngọc Dung với “Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao” (1992)…

Mở rộng hơn, kể từ khi nhiều truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao được dịch ra các thứ tiếng Anh, Hàn, Nga, Nhật, Pháp, Trung…, tác phẩm của ông đã vươn tầm quốc tế, hội nhập nền học thuật khu vực Đông Á và thế giới hiện đại. Theo nhà Việt Nam học N.I. Niculin, các tác phẩm như “Đôi mắt” (1955), “Trăng sáng”, “Cười” (1962), “Chí Phèo” (1963) từng được xuất bản tại Liên Xô trong “Tủ sách văn học Việt Nam”; đồng thời, Maia Casen (1930–1987) đã tuyển dịch một số truyện sang tiếng Ukraine từ thập niên 1970…
Ở tầm địa phương, vùng miền cũng như quốc gia, chính tên tuổi Nam Cao và khả năng lan tỏa tác phẩm của ông đã kết tinh thành giá trị tinh thần, thành biểu tượng di sản văn hóa, thành đối tượng và tiềm lực của hoạt động du lịch. Khác với nhiều loại hình du lịch khác (tâm linh, tham quan di tích lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, ẩm thực…), có thể nhấn mạnh tính đặc trưng của nguồn lực quê hương Nam Cao chính là tổng thể di sản tác phẩm lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Vùng quê chiêm trũng ấy nhờ có Nam Cao trở thành biểu tượng, địa điểm văn hóa và điểm đến mang ý nghĩa “kiến tạo vùng” của du lịch văn học. Làng Đại Hoàng xưa (làng Vũ Đại trong nguyên tác của Nam Cao) thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình) cùng câu chuyện diên cách làng xã cũng là vấn đề đáng thảo luận trong tiến trình hình thành bản sắc văn hóa vùng.

 

Phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) chuyển thể từ các tác phẩm “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Sống mòn” của nhà văn Nam Cao.

 

Một mai, hy vọng trên quê hương Nam Cao sẽ có nhà bảo tàng chuyên đề, có trung tâm lưu trữ tác phẩm và phục vụ nghiên cứu, có quy hoạch các địa điểm di tích gắn với cuộc đời và sáng tác của ông. Đến nơi đây, du khách có thể thưởng thức phim tư liệu và trích đoạn chuyển thể, tiếp cận tác phẩm và công trình nghiên cứu, nghe giới thiệu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa cuộc đời tác giả và nhân vật làng quê khúc xạ trong tác phẩm, đồng thời tận hưởng ngọn gió đồng quê và cảm nhận toàn cảnh hình ảnh quê hương của một nhà văn xuất sắc trong nền văn học dân tộc./.

Nguồn: Tạp Chí Người Hà Nội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trại sáng tác cần tránh hình thức, lãng phí
Nhiều năm qua, các trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đồng thời cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, mô hình cũ đã bộc lộ những hạn chế về hiệu quả, cách tổ chức.
Xem thêm
Làm mới “chất Việt” trong trang văn trẻ thơ
Giữa “bão” giải trí số, văn học thiếu nhi Việt Nam đang âm thầm chuyển mình để không bị lãng quên. Từ việc cách tân ngôn ngữ đến mở rộng biên độ sáng tạo, mỗi trang viết hôm nay là một nỗ lực nhằm tìm lại vị thế trang trọng nhất trong thế giới tinh thần của độc giả nhỏ tuổi.
Xem thêm
Một chuyến xe, một câu nói, và chiếc gương soi vào nhân cách
Có những câu chuyện, thoạt nhìn rất nhỏ. Một chuyến xe. Một cuộc tranh cãi. Một câu nói buột miệng.
Xem thêm
Từ tâm sự của vợ chồng dịch giả tiếng Đức đến dấu ấn cổ tích của Anh Grimm
Qua thư giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tôi đã có cuộc hẹn tại nhà riêng của hai dịch giả Đức ngữ nổi tiếng là GS.TS Günter Giesenfeld và Marianne Ngo. Thành phố Marburg của họ cách chỗ tôi ở chỉ một tiếng rưỡi tàu. Vì biết người Đức rất tôn trọng giờ giấc nên tôi đã đến sớm hơn 2 tiếng đồng hồ để vừa tránh chậm tàu, có thể vừa tranh thủ thời gian dạo quanh một trong những thành phố cổ kính và huyền bí nhất nước Đức.
Xem thêm
Vị thế của văn chương trong Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Đến vùng xa vùng đảo và lắng nghe ý kiến của người dân, tôi càng thấy rõ hơn, cái nghèo về đời sống tinh thần, đời sống văn hoá vẫn chưa được người dân quan tâm. Họ cần những ích lợi vật chất và gần như xa lạ với nhu cầu thụ hưởng thành quả văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Từ một cuộc đối thoại hóm hỉnh nhưng không kém phần thẳng thắn, bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Minh đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người làm thơ phải giật mình: Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Xem thêm
Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.
Xem thêm
Nhìn lại năm 2025, ấn tượng văn hóa, và suy ngẫm văn học
Năm 2025 vừa khép lại với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, trong đó không thể không nhắc đến những hoạt động nổi bật kỉ niệm 80 năm Quốc khánh và 50 năm non sông liền một dải. Hòa trong không khí ấy, đời sống văn hóa và văn học có những ấn tượng gì đáng suy ngẫm?
Xem thêm
Thi ca trước áp lực công nghệ số
Công nghệ số mở ra cơ hội lan tỏa nhanh chưa từng có, nhưng cũng đặt thi ca trước những thách thức về chất lượng, công chúng và sinh kế sáng tác. Từ góc nhìn các nhà thơ và nhà nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh, câu chuyện không chỉ là thích ứng mà là tìm lại vị thế của thơ trong đô thị hiện đại.
Xem thêm
Từ văn chương đến căn cốt văn hóa dân tộc
Trong dòng chảy đương đại, Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du vẫn hiện diện như một mạch nguồn bền bỉ trong đời sống tinh thần người Việt. Vượt lên khuôn khổ của một kiệt tác văn chương, tác phẩm đã trở thành hệ giá trị văn hóa, đạo lý sống và thước đo nhân cách được truyền nối qua nhiều thế hệ.
Xem thêm
Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà
Bài của Vũ Thanh đăng trên Văn nghệ Online
Xem thêm
Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy
Giữ gìn sự liêm chính trong sáng tác vì thế không phải là một khẩu hiệu đạo đức, mà là điều kiện để văn chương tiếp tục tồn tại như một giá trị tinh thần cao đẹp và đáng tin cậy. Khi người cầm bút còn biết tự vấn, biết dừng lại trước ranh giới của sự trung thực, thì văn chương vẫn còn cơ hội tự làm sạch mình. Và chỉ trong một không gian sáng tác được nâng đỡ bởi sự thật và lòng tin, những tác phẩm chân chính mới có thể bền bỉ đi cùng con người, vượt qua những ồn ào nhất thời của danh vọng và thời cuộc để lặng lẽ nâng đỡ, an ủi con người, làm chỗ dựa tinh thần cho con người đi qua những chông chênh, trắc trở, đau đớn của cuộc sống vốn vẫn còn nhiều thử thách này.
Xem thêm
Cơ chế quản lý cần thiết cho đời sống văn học
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, quy định các nội dung khuyến khích phát triển văn học, đồng thời xác lập rõ hơn cơ chế quản lý nhà nước về văn học.
Xem thêm
Từ bàn thắng bị tước đoạt đến căn bệnh thành tích của Sea Games
Sea Games từng được quảng bá như biểu tượng của sự đoàn kết trong khu vực Đông Nam Á (ĐNA), nó được xem là tinh thần thể thao cao thượng và sự giao lưu giữa 11 quốc gia. Nhưng những gì diễn ra trong những kỳ đại hội gần đây cho thấy một thực tế đáng buồn: Sea Games đang ngày càng rời xa giá trị thể thao nguyên bản, để trở thành cuộc đua thành tích của các quốc gia đăng cai, nơi côngg bằng bị bẻ cong và trọng tài trở thành công cụ phục vụ tham vọng huy chương.
Xem thêm
Vài ý kiến tham khảo về mối liên hệ giữa văn học và y học
Một đề tài nghiên cứu của PGS. Tiến sĩ Trần Huyền Sâm, Trường ĐH Sư phạm Huế được Hội Nhà Văn TP. Huế tổ chức buổi tọa đàm (vào lúc 8h30, ngày 10/12/2025 tại Tòa soạn Tạp chí Sông Hương, Số 9 đường Phạm Hồng Thái. TP. Huế).
Xem thêm
Thi ca và âm nhạc – Hành trình nuôi dưỡng tâm hồn người thầy tương lai
Phát biểu tại chương trình nghệ thuật “Khúc hát từ những vần thơ”, GS.TS Huỳnh Văn Sơn – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Xem thêm
Nữ tác giả Nhật Bản chia sẻ về việc dùng AI viết văn
Sử dụng AI như thế nào đang là chủ đề nóng bỏng trong giới viết. Mới đây, một tác giả trẻ Nhật Bản đã công bố tác phẩm “Tháp đồng cảm Tokyo” có sử dụng AI của cô. Rie Qudan, nữ tác giả sinh năm 1990 đã có mặt tại Hà Nội giao lưu về tác phẩm cũng như chia sẻ về việc viết văn có sử dụng AI theo quan điểm của cô.
Xem thêm
Giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa cho học sinh qua “Ngày hội văn hóa các dân tộc địa phương
Để tạo ra không gian trải nghiệm bản sắc văn hóa truyền thống, những ngày giữa tháng 10/2025, Trường THPT số 3 Bảo Yên (Lào Cai) đã tổ chức hoạt động giáo dục chủ đề “Ngày hội văn hóa các dân tộc địa phương” trong không khí vui tươi, sôi nổi và đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là một hoạt động trải nghiệm sáng tạo nằm trong chương trình giáo dục nhà trường, hướng tới mục tiêu giúp học sinh hiểu biết, trân trọng và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trên quê hương Lào Cai nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.
Xem thêm
Văn chương không phát triển nhờ sự chê bai tàn nhẫn
Văn chương, cuối cùng vẫn là sự trải lòng của một con người. Một con người bình thường: có lúc vui, lúc buồn, lúc mệt mỏi, lúc rảnh rỗi, lúc muốn lên tiếng...
Xem thêm
Đổi mới mạnh mẽ, xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại
Ngày 21-11, tại Lâm Đồng, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Hội nghị “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hỗ trợ hoạt động báo chí và công tác Hội trong bối cảnh sáp nhập, hợp nhất”. Tham dự Hội nghị có đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; đại biểu các cơ quan Trung ương, lãnh đạo Hội và Văn phòng Hội Nhà báo Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng, lãnh đạo các cơ quan báo chí, Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố.
Xem thêm