TIN TỨC

Bùi Đức Ánh và những trang thơ với nhiều cung bậc cảm xúc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-22 11:32:04
mail facebook google pos stwis
2346 lượt xem

 

Hồ Xuân Đà

Thơ, dường như là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi con người. Thơ như tiếng lòng, là tâm tư là cảm xúc của những tâm hồn đẹp – rất đẹp, rất người. Thơ giúp người ta nói lên được những suy nghĩ riêng tư, những mơ ước, những khát khao về cuộc sống, tình yêu, gia đình. Thơ cũng là vườn hoa muôn sắc màu cảm xúc, về những buồn vui đan xen. Thơ cũng như một khu rừng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc vô vàn. Tình cảm con người vốn là loại tình cảm phức tạp nhất, rối ren nhất, giống như hệ thần kinh với rất nhiều dữ liệu mà con người hàng ngày phải sắp xếp, phải tu dưỡng, phải kiểm soát để chắt lọc lại cho mình những giá trị tinh tế nhất, để hướng tới bản ngã tốt đẹp. Nhìn vào những hình ảnh ngôn ngữ trong thơ, để soi chiếu lại chính mình, nhìn lại mình, nhìn lại những năm tháng đã đi qua để cuộc sống này mỗi lúc một tốt đẹp hơn. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, vốn là một con người như thế, ông làm thơ, ông sống như những trang thơ ông viết.


Nhà thơ Bùi Đức Ánh.

Tuổi trẻ làm thơ vốn rất yêu đời yêu người, thì tuổi già càng yêu người, yêu đời, yêu cuộc sống quanh ta. Bùi Đức Ánh thiên về thơ tình rất nhiều, ông viết nhiều thơ tình, vì có lẽ trên đời này không có gì xoa dịu cuộc sống bon chen bộn bề của mỗi con người xã hội. Chính vì vậy mà dù ở độ tuổi nào, ông cũng làm thơ tình để tặng độc giả của mình. Victor Hugo là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng của Pháp. Ông cũng đồng thời là một nhà chính trị, một trí thức dấn thân tiêu biểu của thế kỷ XIX. Victor Hugo chiếm một vị trí trang trọng trong lịch sử văn học Pháp. Ông viết: “Ai khổ vì yêu hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu” (Victor Hugo). Chính vì vậy , mà nhà thơ Bùi Đức Ánh cả một đời người, tới gần tuổi nghỉ ngơi, mà trong tâm hồn ông mãi mãi không ngừng yêu, không ngừng viết lại những cảm xúc thơ tình cho các bạn trẻ, cho những độc giả chiêm ngưỡng vẽ đẹp của tình yêu, vì không gì hơn trong cuộc sống này ngoài tình yêu, tình yêu nuôi dưỡng những linh hồn, xoa dịu những nỗi đau và làm lành lặn những vết thương, tình yêu vì thế mà đẹp mà cao cả, bởi người nữ có thể vì người nam mà trở nên đời hơn, lộng lẫy hơn, người nam vì người nữ mà trở nên mạnh mẽ hơn, khát khao xây dựng cuộc đời hơn, dẫu bao nhiêu ngôn ngữ cũng không thể nào nêu lên hết được tất cả cảm nhận của tình yêu, chỉ có Bùi Đức Ánh, một tâm hồn thơ ca, dù ở độ tuổi nào ông cũng vẫn luôn trẻ lại với giá trị vĩnh viễn  gọi là thơ ca. Thơ ông như chính cảm xúc được bật ra từ tiếng lòng của ông, không cần phải gọt dũa, trang điểm, mà tự nhiên cảm xúc được thành thơ, vì vốn cảm xúc con người đã rất đẹp rồi, bởi nó rất đẹp, nên mới khiến con người ta rung động vì nhau, sống chết vì nhau, và nguyện trọn đời trọn kiếp bên nhau. Trong thơ Bùi Đức Ánh, chúng ta cảm nhận được những điều ấy.

“Xin làm đôi mắt biếc

Để còn biết đắm say

Những đam mê ngày nắng

Những ngày còn chưa biết

Tình yêu có màu gì

Màu nhung hoa hồng đỏ

Hay màu của pha lê

Trong từng giờ suy nghĩ

Xin làm một kẻ dại

Để thẫn thờ yêu đương”

(Trích Tình Yêu Có Màu Gì)

Xuyên suốt tập thơ, chúng ta bắt gặp có quá nhiều cảm xúc yêu thương, đau, khổ và trân trọng. Những cảm xúc tình yêu trong từng hơi thở, trong từng sợi dây thần kinh, được thẩm thấu, diễn tả bằng ngôn ngữ hình ảnh thơ ca, có tính nhịp điệu giàu cảm xúc, vô vàn sự khát khao để vươn tới hạnh phúc, mưu cầu cuộc sống trọn vẹn đó. Là con người thì ai mà không mong muốn được yêu đương, được hạnh phúc, được đắm say trong dư vị vô hạn của tình yêu. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, vốn là một nhà thơ, lại được biết đến với thể loại thơ tình, Tập thơ này, là tập thứ bảy, ngoài ra ông còn sáng tác 5 tập truyện ngắn, ngoài ra ông còn sáng tác tạp văn và tiểu thuyết.Thì phải công nhận rằng, nhà thơ Bùi Đức Ánh đã lao động rất chăm chỉ, miệt mài. Những trang thơ với vô vàn cảm xúc đan xen, những nguồn mạch sống như tràn bờ, như muốn ôm lấy trọn vẹn sự sống này để giữ bên mình, phải chăng là sự tham lam, phải chăng là nhà thơ thiết tha quá độ, nhưng không, sự tham lam đó chính là vốn sống để nhà thơ trở nên một nhà thơ không hề bất tài, không hề bất lực trước cuộc sống này, tâm hồn nhà thơ phải luôn trẻ mãi, đẹp mãi, như nhà thơ Xuân Diệu viết: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ, em ơi, em/ tình non sắp già rồi”. Đã là thơ thì sự tham sống, khát khao được sống hạnh phúc, được cống hiến cho xã hội là một lẽ tất nhiên bởi nếu như không có sự tham ấy thì nhà thơ sẽ chết, nhà thơ sẽ không còn tồn tại để viết lên những bài thơ tình, mà khi chúng ta đọc, chúng ta cũng muốn yêu, cũng muốn khát khao sống vui vẻ, sống giá trị và đáng một cuộc đời đáng sống. Chỉ duy nhất tình yêu có thể làm được duy nhất điều đó mà thôi. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ với rất nhiều bài hát nói về tình yêu, mang tầm triết lý, mà hiện nay, rất nhiều người yêu và đang yêu đồng cảm, nương nhờ vào nhạc vào tình ca của ông trong những phút giây lạc lõng, ông viết: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá Đời”. Đó là những gì mà giá trị từ thơ ca mang lại cho tinh thần tình cảm con người. Thơ Bùi Đức Ánh cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Em là em, người tình tôi yêu dấu

Tôi thở cho em và em thở cho tôi

Tôi là người, em cũng là người

Tự kết mình lại, gọi nhau tiếng tình nhân

Tôi mơ em bằng tất cả linh hồn

Tôi mơ em bằng những điều rất thật

Tôi hiểu em hơn cả hiểu chính tôi

Tình nhân ơi, căn phòng nhỏ của tôi

Tôi muốn nhốt mình cả khi tôi đã chết

Với ngực em ấm tràn đầy bao nhựa sống

Với môi em cười chất ngất khoảng trời tôi

Tình nhân ơi, có điều riêng mình hiểu

Tôi nhốt mình trong em, nuôi những tháng năm dài.

(Trích Khi Mình Là Tình Nhân)

Khi nhà thơ không còn sống cho mình nữa, tức là người viết thơ người làm thơ viết vì con người, nhân danh tình yêu, cảm được cái giá trị tình yêu mà họ viết, mà họ ưu tư để chúng ta có những bài thơ thật đẹp, để trân trọng cái cảm giác mà tình yêu mang lại, để người ta còn có cái tựa vào, an ủi từng phận đời, từng phận người, dù thế giới này có mệt mỏi, có khổ đau như thế nào, cũng phải vươn lên mà sống, vươn lên mà nở hoa, mà thong dong tự tại, mà hạnh phúc. Vì chắc chắn, không có gì tự nhiên mà trở nên lộng lấy, ngay cả cái cây ngọn cỏ, dù cho nó vốn sinh ra đã đẹp nhưng không vun trồng chăm sóc, thì nó cũng trở nên hoang tàn, phế phủ, dù thế nào thì muốn đạt đến một vẻ đẹp đích thực là món quà của thượng đế mang lại cho chúng ta, thì chúng ta cần phải trân quý nó, gìn giữ từng cảm xúc của nó, để nó đẹp, để nó nuôi dưỡng chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta sống một đời đáng sống, sống một cuộc đời dẫu mai này có trở về cát bụi thì cũng đã rất đẹp, mà điều gì đã làm được điều đó, chỉ có tình yêu làm được những điều đó, làm nên cái chất trong thơ nhà thơ Bùi Đức Ánh.

Ngọn gió từ em

Thổi vào anh những nỗi niềm khao khát

Bao năm tình đi lạc

Xin gió hãy thì thầm anh nhớ mãi về em

Ngày lại ngày cứ rơi

Anh không thể xem người yêu như em gái

Mùa sắp tàn sao tình còn vương mãi

(Trích Ngọn Gió Từ Em)

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau. – Albert Einstein – Nhà Vật Lý học  định nghĩa cho tình yêu là như vậy, cho nên tình yêu không ai nói trước được điều gì, cảm xúc đó, rung động nhẹ nhàng hay mãnh liệt, hay êm đềm tha thiết, đều là những rung động vô cùng hấp dẫn con người, làm con người tràn ngập năng lượng. Chính vì vậy, làm gì có chuyện, ai dám chắc rằng mình sẽ không bao giờ biết yêu, tình yêu kỳ diệu, trách nhiệm vì nhau, và con người ta yêu nhau nó sẽ làm nên một thế giới đa dạng, phong phú biết chừng nào, nên lực hấp dẫn của nó cũng không thể cưỡng cầu, chối từ được. Bởi vì, tình yêu vốn là đề tài mà khó ai giải thích được kết quả mà nó mang lại, nó xuất phát từ đâu, nó làm bằng chất gì mà có thể giúp người ta làm lành vết thương, cũng như chữa lành tâm hồn, làm nên những giá trị.

Nếu như không thể tin

Bầu trời sẽ không hề có nắng

Và những giọt sương mai

Không lóng lánh như sáng nay

Em ngước lên nhìn bầu trời trong xanh vẫy gọi

Em ngắm nhìn anh trong giấc ngủ sáng nay

Anh hiền như một ông lão

Vung từng lưỡi câu đợi cá đớp mồi

Em ngồi trước hiên

Vuốt từng sợi lông của con mèo lười

Em đổi tấm chăn, từng chiếc khăn trải bàn

Em cắm hoa, em ngồi đợi anh về…

(Trích Tình Yêu Và Niềm Tin)

Nhà thơ Bùi Đức Ánh làm nhiều thể loại thơ, từ tự do, đến lục bát, ngũ ngôn,.. Những vần thơ giàu nhạc điệu, nên thơ ông được các nhạc sĩ phổ nhạc rất nhiều, ông còn làm thơ cho quê hương, cho những nơi mà ông đến ghé thăm, như Vũng Tàu, Tây Ninh,… cũng quá đỗi tha thiết tình cảm con người với quê hương, với làng xóm phố phường.

Anh đến Tây Ninh một buổi chiều

Thăm núi Bà Đen ngày hai ta hẹn ước

Em đâu rồi tiên nữ miền sơn cước

Lá sắp ngủ rồi chẳng thấy em đâu

Em hay cơn gió vô tình

Nhắm vào lồng ngực anh mà thổi

Bên kia tòa thánh vẫn xanh màu mây mới

Sao tình mình buồn như lá vàng rơi

Từ ngàn xưa cho đến bây giờ

Núi Bà Đen vẫn phơi mình đón nắng

Thương em gái Trảng Bàng tươi tắn

Nụ cười duyên ngúng nguẩy đến say lòng

(Trích Nhớ Tây Ninh)

Viết cho một địa danh, mà nhà thơ cũng lãng mạng, cũng đa tình với những cảnh đẹp, với sự dịu dàng của người con gái Tây Ninh, thì chỉ có tính chất đặc trưng của người thi sĩ mới làm được điều đó mà thôi. Mà đúng rồi, Bùi Đức Ánh, ông vốn là một nhà thơ tình, thì thơ ông viết ra đúng là quá tình tứ cơ mà. Tình tứ với cảnh vật, với quê hương, thì quả thật quá tài năng rồi, quá thi sĩ rồi. Chính từ bản chất là một nhà thơ xứ Quảng, ông sinh ra ở quê hương Quảng Ngãi, trước đây vốn là nhà giáo cho nên thơ ông hồn hậu, dễ gần, dễ nhớ, dễ thuộc với ngôn phong giản dị, mộc mạc, nhưng cũng không kém phần mộng mơ, mang đầy tính triết lý nhân sinh hiện hữu rất đời, rất thực.

Tôi muốn đọc câu thơ viết về hoa cỏ

Về tình yêu đôi lứa với cảm xúc rất say

Tôi muốn yêu con người

Tối muốn yêu hòa bình

Tôi không cần đúng sai

Tôi chỉ cần em nói yêu tôi

Bằng tất cả tấm lòng

Của đôi lứa yêu nhau

(Trích Tôi Yêu Em-Yêu Hòa Bình)

Sống trong những ngày giãn cách xã hội, do ảnh hưởng Của dịch bệnh Covid-19. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, càng đắm chìm hơn trước những nỗi đau của nhân loại, với con virus với vô vàn biến chủng, và rồi nhà thơ phải đối diện với nó, ông sẽ làm gì, chỉ có cách là làm thơ, làm thơ để nói hộ tiếng lòng của bao con người, bởi sứ mệnh của nhà thơ đến với cuộc đời này là như thế, là cảm nhận, là viết ra suy nghĩ trong một trạng thái quân bình, không thể đứng về phía một ai hoàn toàn, mà chỉ có thể nói, có có thể viết, có thể diễn đạt bằng trái tim mình.

Anh thấy phố buồn mà lòng đau như cắt

Những tháng ngày lịch sử em có biết không em?

Muốn đến bên em, trăm ngàn lần có thể

Có gì dày vò hơn hoàn cảnh này đây?

(Trích Ẩn Mình sau Lớp Khẩu Trang)

Quả vậy chỉ có con đường từ trái tim mới đi đến trái tim, nên thơ Bùi Đức Ánh gần gũi như là cảm xúc của từng con người trong những ngày xã hội đau bệnh, thành phố đông dân nhất nước phải buồn tênh, nhà nhà cửa đóng then cài, giấu mình sau lớp khẩu trang. Rồi nhà thơ tự cho mình phải gánh trách nhiệm, phải viết về điều đó, còn gì hơn khi trước sự sợ hãi, nhưng vẫn biết nghĩ về trách nhiệm với đồng loại, đó chính là nét đẹp trường tồn khi mang danh trên mình hai chữ “Nhà Thơ”.

Không tự nhiên mà anh lại làm thơ

Viết về những đau thương

Viết về những chuyện buồn thế kỷ

Ngày đêm anh suy nghĩ

Làm thế nào để ủi an cùng nhau

Để thấu cảm những mảnh đời bất hạnh

Những tâm hồn vá víu dưới cầu thang

Những ưu tư đong đầy nơi khóe mắt

Cũng như là chuyện cơm áo hằng ngày

Những sinh linh chưa kịp nói lời chào

Những ranh giới buộc người ta chọn lựa

Nó khắc nghiệt đến từng hơi thở vội

Làm sao đây, khi anh chỉ là một nhà thơ…

(Trích Nhà Thơ Không Thất Nghiệp)

Bùi Đức Ánh làm thơ thật tự nhiên, tự nhiên và hồn hậu như chính con người ông, lạc quan như chính tính cách của ông, lấy niềm tự hào khi chính mình nhà thơ, dù kiếm sống bằng thơ có mấy ai được như ý, nhà thơ luôn nghèo, nhưng lại luôn tự hào về nghề nghiệp của mình. Cho nên thơ ông cũng tự nhiên, mọi cảm xúc đều rất người, những rung động đều rất đẹp, bởi con người luôn đẹp là nhờ vào cảm xúc mà, là nhờ vào những rung động mà hình thành nên tình cảm, và những giá trị đạo đức và tư tưởng sống của một con người đi trước để lại cho con người đi sau, là gia tài mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.

Xuyên suốt chiều dài của tập thơ: “Tình Yêu có màu gì” của nhà thơ Bùi Đức Ánh, chúng ta như được trải nghiệm qua rất nhiều cảm xúc của con người, từ tình yêu, đến tình cảm vợ chồng, với quê hương, với đất nước và con người, ông rung động từng với cái cây, ngọn cỏ, với những câu chuyện đời thường dung dị, hóa thân vào nhiều nhân vật, có khi ngôi thứ là nam, cũng có khi ngôi thứ là nữ, là nhân vật chính trong bài thơ, có khi hóa thân vào người vợ nói với chồng, rồi chồng nói với vợ. Cho nên, tập thơ như là món quà, là bữa tiệc tinh thần vô vàn dư vị, màu sắc cho những ai muốn cảm nhận về tình yêu, về cảm xúc cho con người.

Tình yêu có màu gì, mỗi người sẽ cảm nhận theo một màu khác nhau, nhưng với riêng tôi, tập thơ thật dịu nhẹ, cũng thật nhiều hoài niệm, và thật nhiều khao khát mong muốn được an nhiên hạnh phúc. Đó phải chăng là ước muốn của biết bao con người trong xã hội này, với quá nhiều hỉ, nộ ái, ố, vây quanh. Thì tập thơ sẽ như những bản hòa ca giúp nó trở nên sáng hơn, trong hơn, con người biết đặt vị trí vào nhau hơn, thấu cảm nhau hơn, để cuộc sống này được trọn vẹn hơn.

H.X.Đ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm
Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc
Tiểu thuyết Bão của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn.
Xem thêm