TIN TỨC

Bùi Đức Ánh và những trang thơ với nhiều cung bậc cảm xúc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-22 11:32:04
mail facebook google pos stwis
2606 lượt xem

 

Hồ Xuân Đà

Thơ, dường như là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi con người. Thơ như tiếng lòng, là tâm tư là cảm xúc của những tâm hồn đẹp – rất đẹp, rất người. Thơ giúp người ta nói lên được những suy nghĩ riêng tư, những mơ ước, những khát khao về cuộc sống, tình yêu, gia đình. Thơ cũng là vườn hoa muôn sắc màu cảm xúc, về những buồn vui đan xen. Thơ cũng như một khu rừng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc vô vàn. Tình cảm con người vốn là loại tình cảm phức tạp nhất, rối ren nhất, giống như hệ thần kinh với rất nhiều dữ liệu mà con người hàng ngày phải sắp xếp, phải tu dưỡng, phải kiểm soát để chắt lọc lại cho mình những giá trị tinh tế nhất, để hướng tới bản ngã tốt đẹp. Nhìn vào những hình ảnh ngôn ngữ trong thơ, để soi chiếu lại chính mình, nhìn lại mình, nhìn lại những năm tháng đã đi qua để cuộc sống này mỗi lúc một tốt đẹp hơn. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, vốn là một con người như thế, ông làm thơ, ông sống như những trang thơ ông viết.


Nhà thơ Bùi Đức Ánh.

Tuổi trẻ làm thơ vốn rất yêu đời yêu người, thì tuổi già càng yêu người, yêu đời, yêu cuộc sống quanh ta. Bùi Đức Ánh thiên về thơ tình rất nhiều, ông viết nhiều thơ tình, vì có lẽ trên đời này không có gì xoa dịu cuộc sống bon chen bộn bề của mỗi con người xã hội. Chính vì vậy mà dù ở độ tuổi nào, ông cũng làm thơ tình để tặng độc giả của mình. Victor Hugo là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng của Pháp. Ông cũng đồng thời là một nhà chính trị, một trí thức dấn thân tiêu biểu của thế kỷ XIX. Victor Hugo chiếm một vị trí trang trọng trong lịch sử văn học Pháp. Ông viết: “Ai khổ vì yêu hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu” (Victor Hugo). Chính vì vậy , mà nhà thơ Bùi Đức Ánh cả một đời người, tới gần tuổi nghỉ ngơi, mà trong tâm hồn ông mãi mãi không ngừng yêu, không ngừng viết lại những cảm xúc thơ tình cho các bạn trẻ, cho những độc giả chiêm ngưỡng vẽ đẹp của tình yêu, vì không gì hơn trong cuộc sống này ngoài tình yêu, tình yêu nuôi dưỡng những linh hồn, xoa dịu những nỗi đau và làm lành lặn những vết thương, tình yêu vì thế mà đẹp mà cao cả, bởi người nữ có thể vì người nam mà trở nên đời hơn, lộng lẫy hơn, người nam vì người nữ mà trở nên mạnh mẽ hơn, khát khao xây dựng cuộc đời hơn, dẫu bao nhiêu ngôn ngữ cũng không thể nào nêu lên hết được tất cả cảm nhận của tình yêu, chỉ có Bùi Đức Ánh, một tâm hồn thơ ca, dù ở độ tuổi nào ông cũng vẫn luôn trẻ lại với giá trị vĩnh viễn  gọi là thơ ca. Thơ ông như chính cảm xúc được bật ra từ tiếng lòng của ông, không cần phải gọt dũa, trang điểm, mà tự nhiên cảm xúc được thành thơ, vì vốn cảm xúc con người đã rất đẹp rồi, bởi nó rất đẹp, nên mới khiến con người ta rung động vì nhau, sống chết vì nhau, và nguyện trọn đời trọn kiếp bên nhau. Trong thơ Bùi Đức Ánh, chúng ta cảm nhận được những điều ấy.

“Xin làm đôi mắt biếc

Để còn biết đắm say

Những đam mê ngày nắng

Những ngày còn chưa biết

Tình yêu có màu gì

Màu nhung hoa hồng đỏ

Hay màu của pha lê

Trong từng giờ suy nghĩ

Xin làm một kẻ dại

Để thẫn thờ yêu đương”

(Trích Tình Yêu Có Màu Gì)

Xuyên suốt tập thơ, chúng ta bắt gặp có quá nhiều cảm xúc yêu thương, đau, khổ và trân trọng. Những cảm xúc tình yêu trong từng hơi thở, trong từng sợi dây thần kinh, được thẩm thấu, diễn tả bằng ngôn ngữ hình ảnh thơ ca, có tính nhịp điệu giàu cảm xúc, vô vàn sự khát khao để vươn tới hạnh phúc, mưu cầu cuộc sống trọn vẹn đó. Là con người thì ai mà không mong muốn được yêu đương, được hạnh phúc, được đắm say trong dư vị vô hạn của tình yêu. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, vốn là một nhà thơ, lại được biết đến với thể loại thơ tình, Tập thơ này, là tập thứ bảy, ngoài ra ông còn sáng tác 5 tập truyện ngắn, ngoài ra ông còn sáng tác tạp văn và tiểu thuyết.Thì phải công nhận rằng, nhà thơ Bùi Đức Ánh đã lao động rất chăm chỉ, miệt mài. Những trang thơ với vô vàn cảm xúc đan xen, những nguồn mạch sống như tràn bờ, như muốn ôm lấy trọn vẹn sự sống này để giữ bên mình, phải chăng là sự tham lam, phải chăng là nhà thơ thiết tha quá độ, nhưng không, sự tham lam đó chính là vốn sống để nhà thơ trở nên một nhà thơ không hề bất tài, không hề bất lực trước cuộc sống này, tâm hồn nhà thơ phải luôn trẻ mãi, đẹp mãi, như nhà thơ Xuân Diệu viết: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ, em ơi, em/ tình non sắp già rồi”. Đã là thơ thì sự tham sống, khát khao được sống hạnh phúc, được cống hiến cho xã hội là một lẽ tất nhiên bởi nếu như không có sự tham ấy thì nhà thơ sẽ chết, nhà thơ sẽ không còn tồn tại để viết lên những bài thơ tình, mà khi chúng ta đọc, chúng ta cũng muốn yêu, cũng muốn khát khao sống vui vẻ, sống giá trị và đáng một cuộc đời đáng sống. Chỉ duy nhất tình yêu có thể làm được duy nhất điều đó mà thôi. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ với rất nhiều bài hát nói về tình yêu, mang tầm triết lý, mà hiện nay, rất nhiều người yêu và đang yêu đồng cảm, nương nhờ vào nhạc vào tình ca của ông trong những phút giây lạc lõng, ông viết: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá Đời”. Đó là những gì mà giá trị từ thơ ca mang lại cho tinh thần tình cảm con người. Thơ Bùi Đức Ánh cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Em là em, người tình tôi yêu dấu

Tôi thở cho em và em thở cho tôi

Tôi là người, em cũng là người

Tự kết mình lại, gọi nhau tiếng tình nhân

Tôi mơ em bằng tất cả linh hồn

Tôi mơ em bằng những điều rất thật

Tôi hiểu em hơn cả hiểu chính tôi

Tình nhân ơi, căn phòng nhỏ của tôi

Tôi muốn nhốt mình cả khi tôi đã chết

Với ngực em ấm tràn đầy bao nhựa sống

Với môi em cười chất ngất khoảng trời tôi

Tình nhân ơi, có điều riêng mình hiểu

Tôi nhốt mình trong em, nuôi những tháng năm dài.

(Trích Khi Mình Là Tình Nhân)

Khi nhà thơ không còn sống cho mình nữa, tức là người viết thơ người làm thơ viết vì con người, nhân danh tình yêu, cảm được cái giá trị tình yêu mà họ viết, mà họ ưu tư để chúng ta có những bài thơ thật đẹp, để trân trọng cái cảm giác mà tình yêu mang lại, để người ta còn có cái tựa vào, an ủi từng phận đời, từng phận người, dù thế giới này có mệt mỏi, có khổ đau như thế nào, cũng phải vươn lên mà sống, vươn lên mà nở hoa, mà thong dong tự tại, mà hạnh phúc. Vì chắc chắn, không có gì tự nhiên mà trở nên lộng lấy, ngay cả cái cây ngọn cỏ, dù cho nó vốn sinh ra đã đẹp nhưng không vun trồng chăm sóc, thì nó cũng trở nên hoang tàn, phế phủ, dù thế nào thì muốn đạt đến một vẻ đẹp đích thực là món quà của thượng đế mang lại cho chúng ta, thì chúng ta cần phải trân quý nó, gìn giữ từng cảm xúc của nó, để nó đẹp, để nó nuôi dưỡng chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta sống một đời đáng sống, sống một cuộc đời dẫu mai này có trở về cát bụi thì cũng đã rất đẹp, mà điều gì đã làm được điều đó, chỉ có tình yêu làm được những điều đó, làm nên cái chất trong thơ nhà thơ Bùi Đức Ánh.

Ngọn gió từ em

Thổi vào anh những nỗi niềm khao khát

Bao năm tình đi lạc

Xin gió hãy thì thầm anh nhớ mãi về em

Ngày lại ngày cứ rơi

Anh không thể xem người yêu như em gái

Mùa sắp tàn sao tình còn vương mãi

(Trích Ngọn Gió Từ Em)

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau. – Albert Einstein – Nhà Vật Lý học  định nghĩa cho tình yêu là như vậy, cho nên tình yêu không ai nói trước được điều gì, cảm xúc đó, rung động nhẹ nhàng hay mãnh liệt, hay êm đềm tha thiết, đều là những rung động vô cùng hấp dẫn con người, làm con người tràn ngập năng lượng. Chính vì vậy, làm gì có chuyện, ai dám chắc rằng mình sẽ không bao giờ biết yêu, tình yêu kỳ diệu, trách nhiệm vì nhau, và con người ta yêu nhau nó sẽ làm nên một thế giới đa dạng, phong phú biết chừng nào, nên lực hấp dẫn của nó cũng không thể cưỡng cầu, chối từ được. Bởi vì, tình yêu vốn là đề tài mà khó ai giải thích được kết quả mà nó mang lại, nó xuất phát từ đâu, nó làm bằng chất gì mà có thể giúp người ta làm lành vết thương, cũng như chữa lành tâm hồn, làm nên những giá trị.

Nếu như không thể tin

Bầu trời sẽ không hề có nắng

Và những giọt sương mai

Không lóng lánh như sáng nay

Em ngước lên nhìn bầu trời trong xanh vẫy gọi

Em ngắm nhìn anh trong giấc ngủ sáng nay

Anh hiền như một ông lão

Vung từng lưỡi câu đợi cá đớp mồi

Em ngồi trước hiên

Vuốt từng sợi lông của con mèo lười

Em đổi tấm chăn, từng chiếc khăn trải bàn

Em cắm hoa, em ngồi đợi anh về…

(Trích Tình Yêu Và Niềm Tin)

Nhà thơ Bùi Đức Ánh làm nhiều thể loại thơ, từ tự do, đến lục bát, ngũ ngôn,.. Những vần thơ giàu nhạc điệu, nên thơ ông được các nhạc sĩ phổ nhạc rất nhiều, ông còn làm thơ cho quê hương, cho những nơi mà ông đến ghé thăm, như Vũng Tàu, Tây Ninh,… cũng quá đỗi tha thiết tình cảm con người với quê hương, với làng xóm phố phường.

Anh đến Tây Ninh một buổi chiều

Thăm núi Bà Đen ngày hai ta hẹn ước

Em đâu rồi tiên nữ miền sơn cước

Lá sắp ngủ rồi chẳng thấy em đâu

Em hay cơn gió vô tình

Nhắm vào lồng ngực anh mà thổi

Bên kia tòa thánh vẫn xanh màu mây mới

Sao tình mình buồn như lá vàng rơi

Từ ngàn xưa cho đến bây giờ

Núi Bà Đen vẫn phơi mình đón nắng

Thương em gái Trảng Bàng tươi tắn

Nụ cười duyên ngúng nguẩy đến say lòng

(Trích Nhớ Tây Ninh)

Viết cho một địa danh, mà nhà thơ cũng lãng mạng, cũng đa tình với những cảnh đẹp, với sự dịu dàng của người con gái Tây Ninh, thì chỉ có tính chất đặc trưng của người thi sĩ mới làm được điều đó mà thôi. Mà đúng rồi, Bùi Đức Ánh, ông vốn là một nhà thơ tình, thì thơ ông viết ra đúng là quá tình tứ cơ mà. Tình tứ với cảnh vật, với quê hương, thì quả thật quá tài năng rồi, quá thi sĩ rồi. Chính từ bản chất là một nhà thơ xứ Quảng, ông sinh ra ở quê hương Quảng Ngãi, trước đây vốn là nhà giáo cho nên thơ ông hồn hậu, dễ gần, dễ nhớ, dễ thuộc với ngôn phong giản dị, mộc mạc, nhưng cũng không kém phần mộng mơ, mang đầy tính triết lý nhân sinh hiện hữu rất đời, rất thực.

Tôi muốn đọc câu thơ viết về hoa cỏ

Về tình yêu đôi lứa với cảm xúc rất say

Tôi muốn yêu con người

Tối muốn yêu hòa bình

Tôi không cần đúng sai

Tôi chỉ cần em nói yêu tôi

Bằng tất cả tấm lòng

Của đôi lứa yêu nhau

(Trích Tôi Yêu Em-Yêu Hòa Bình)

Sống trong những ngày giãn cách xã hội, do ảnh hưởng Của dịch bệnh Covid-19. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, càng đắm chìm hơn trước những nỗi đau của nhân loại, với con virus với vô vàn biến chủng, và rồi nhà thơ phải đối diện với nó, ông sẽ làm gì, chỉ có cách là làm thơ, làm thơ để nói hộ tiếng lòng của bao con người, bởi sứ mệnh của nhà thơ đến với cuộc đời này là như thế, là cảm nhận, là viết ra suy nghĩ trong một trạng thái quân bình, không thể đứng về phía một ai hoàn toàn, mà chỉ có thể nói, có có thể viết, có thể diễn đạt bằng trái tim mình.

Anh thấy phố buồn mà lòng đau như cắt

Những tháng ngày lịch sử em có biết không em?

Muốn đến bên em, trăm ngàn lần có thể

Có gì dày vò hơn hoàn cảnh này đây?

(Trích Ẩn Mình sau Lớp Khẩu Trang)

Quả vậy chỉ có con đường từ trái tim mới đi đến trái tim, nên thơ Bùi Đức Ánh gần gũi như là cảm xúc của từng con người trong những ngày xã hội đau bệnh, thành phố đông dân nhất nước phải buồn tênh, nhà nhà cửa đóng then cài, giấu mình sau lớp khẩu trang. Rồi nhà thơ tự cho mình phải gánh trách nhiệm, phải viết về điều đó, còn gì hơn khi trước sự sợ hãi, nhưng vẫn biết nghĩ về trách nhiệm với đồng loại, đó chính là nét đẹp trường tồn khi mang danh trên mình hai chữ “Nhà Thơ”.

Không tự nhiên mà anh lại làm thơ

Viết về những đau thương

Viết về những chuyện buồn thế kỷ

Ngày đêm anh suy nghĩ

Làm thế nào để ủi an cùng nhau

Để thấu cảm những mảnh đời bất hạnh

Những tâm hồn vá víu dưới cầu thang

Những ưu tư đong đầy nơi khóe mắt

Cũng như là chuyện cơm áo hằng ngày

Những sinh linh chưa kịp nói lời chào

Những ranh giới buộc người ta chọn lựa

Nó khắc nghiệt đến từng hơi thở vội

Làm sao đây, khi anh chỉ là một nhà thơ…

(Trích Nhà Thơ Không Thất Nghiệp)

Bùi Đức Ánh làm thơ thật tự nhiên, tự nhiên và hồn hậu như chính con người ông, lạc quan như chính tính cách của ông, lấy niềm tự hào khi chính mình nhà thơ, dù kiếm sống bằng thơ có mấy ai được như ý, nhà thơ luôn nghèo, nhưng lại luôn tự hào về nghề nghiệp của mình. Cho nên thơ ông cũng tự nhiên, mọi cảm xúc đều rất người, những rung động đều rất đẹp, bởi con người luôn đẹp là nhờ vào cảm xúc mà, là nhờ vào những rung động mà hình thành nên tình cảm, và những giá trị đạo đức và tư tưởng sống của một con người đi trước để lại cho con người đi sau, là gia tài mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.

Xuyên suốt chiều dài của tập thơ: “Tình Yêu có màu gì” của nhà thơ Bùi Đức Ánh, chúng ta như được trải nghiệm qua rất nhiều cảm xúc của con người, từ tình yêu, đến tình cảm vợ chồng, với quê hương, với đất nước và con người, ông rung động từng với cái cây, ngọn cỏ, với những câu chuyện đời thường dung dị, hóa thân vào nhiều nhân vật, có khi ngôi thứ là nam, cũng có khi ngôi thứ là nữ, là nhân vật chính trong bài thơ, có khi hóa thân vào người vợ nói với chồng, rồi chồng nói với vợ. Cho nên, tập thơ như là món quà, là bữa tiệc tinh thần vô vàn dư vị, màu sắc cho những ai muốn cảm nhận về tình yêu, về cảm xúc cho con người.

Tình yêu có màu gì, mỗi người sẽ cảm nhận theo một màu khác nhau, nhưng với riêng tôi, tập thơ thật dịu nhẹ, cũng thật nhiều hoài niệm, và thật nhiều khao khát mong muốn được an nhiên hạnh phúc. Đó phải chăng là ước muốn của biết bao con người trong xã hội này, với quá nhiều hỉ, nộ ái, ố, vây quanh. Thì tập thơ sẽ như những bản hòa ca giúp nó trở nên sáng hơn, trong hơn, con người biết đặt vị trí vào nhau hơn, thấu cảm nhau hơn, để cuộc sống này được trọn vẹn hơn.

H.X.Đ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm