TIN TỨC

Phạm Trung Tín và đường chân trời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-11 07:38:32
mail facebook google pos stwis
2649 lượt xem

ĐẶNG NGUYỆT ANH

Một buổi sáng trời mưa gió, cách đây vài tuần. Phạm Trung Tín phóng xe máy đến nhà tôi. Tôi vội hỏi “Có việc gì vậy”. “ Dạ, em đã hẹn với chị rồi, em phải đến. Tên em là Tín mà”. Thì ra, một cái tên định mệnh! Tín là phải giữ chữ Tín với mọi người.

Tuổi trẻ gặp thời binh lửa, anh đã cầm súng ra đi, cùng với lớp trai lên đường cứu nước. Rời binh nghiệp, anh tiếp tục học hành. Kết quả: hai bằng cử nhân triết học và kinh tế. Đây là sự phấn đấu đáng ghi nhận.

Là một người sống chân thật, mộc mạc và nhân hậu ”Răn mình nét ở nết ăn” sao cho phải Đạo. “Buộc đời bằng sợi văn chương”. Đường chân trời là tập thơ thứ 5 của anh. Năm tập thơ là sự cố gắng, đam mê, cần mẫn. Nhất là thời buổi phải bỏ tiền túi ra mà in thơ ! Anh vẫn hiểu “Đời Văn đôi lúc trái ngang”. Nhớ đến thi tài, mệnh bạc của Thi sỹ họ Hàn: ”Trường thơ loạn giữa đất trời. Từng câu máu ứa cho đời tinh hoa. Tiếng đau còn vọng Quy hòa. Người đà thiên cổ nhạt nhòa hồn trăng

Thật thà tử tế mà vấp phải nghiệp phận éo le. Cuộc sống đang bình yên, ấm áp thì người vợ hiền bỏ anh mà đi. Để lại hai đứa con nhỏ. Từ nay gà trống nuôi con . “Em đi đã mấy mùa rồi. Tháng ngày vỡ nửa, đứng ngồi ngổn ngang... Em đi bỏ lại nắng mưa. Gian truân anh giữa gió lùa ngày đông”. Đây là bài thơ anh viết nhân ngày giỗ vợ thứ 15. Một bài khác viết ngày giỗ vợ thứ 18. Thật cảm thương “Con mình chưa kịp trưởng thành. Như hai chim sáo lạc cành cội xa”! Hai con dại không có mẹ, anh đang phải ấp iu, anh càng thương cho những cảnh đời hẩm hiu côi cút: Em Diện “Đã tàn tật lại mồ côi. Nỗi đau cứ thế nhân đôi thành đời”. Không cha mẹ, nương nhờ hàng xóm, sớm tối lần hồi rau cháo, đói rét co ro trên chiếc xe lăn, đầu đường cuối chợ: “Sinh ra ai cũng kiếp người. Mà sao lận đận khóc cười là em?” Sự cảm thông của một tấm lòng yêu thương.

Phạm Trung Tín sống mộc mạc, chân tình. Nửa đời sau anh lui về vui thú điền viên. Sống hiền bên sông ”ngõ nhà hoa trái trổ bông”, có tiếng gà trưa, tiếng chó sủa, có câu thơ thấm đẫm nắng mưa , cơm canh đạm bạc, đêm thừa trăng sao. Tâm hồn nhà thơ đã hòa quyện với thiên nhiên, vạn vật... Và rất đúng cách của người quê, bằng một câu thơ giản dị, mà hay, mà khó viết, chỉ người gắn bó máu thịt với làng quê đồng ruộng, mới viết được câu như thế này: “Lòng như da thịt ruộng đồng”. Tôi chưa bao giờ nghe ruộng đồng có “da thịt”. Rất lạ !

Sinh nhật lần thứ 63, Phạm Trung Tín viết bài thơ như bộc bạch tâm tư : “Điền viên mộng mị bình thường. Hiền cư cây cỏ khiêm nhường bên sông. Rượu thơ tri ngộ đôi dòng. Viết câu gian khó vào trong tuổi mình”. Thật điềm tĩnh, chín chắn, bình thản chấp nhận gian khó vì đó là quy luật của cuộc đời!

Sống hiền rồi cũng gặp lành! Trời bắt anh phải chia lìa người vợ trước. Nhưng đã bù đắp, đưa đến cho anh người phụ nữ thứ hai, cũng hiền hậu nết na. Một người trẻ tuổi, trước là chú cháu, sau thành anh em, biết gánh vác, biết cảm thông, chia sẻ : “Tuổi chênh tôi chút ngậm ngùi. Rộng lòng em lại ngọt bùi sẻ chia!” Và anh thật sự hạnh phúc trong tình yêu mới : “Cơm canh đạm bạc tập tàng cá ao. Tựa chiều nhè nhẹ mây cao. Tựa em tôi lại nghêu ngao đời mình”. Chứng tỏ cuộc sống đang rất nhẹ nhàng, tinh thần sảng khoái. Câu thơ đưa lại cho người đọc cảm giác thoải mái, dễ chịu. Từ “nghêu ngao” để đây thật hay !

Sinh nhật bạn thơ, bạn đồng niên Trần Trí Thông, anh có thơ tặng bạn nhưng cũng là nói với mình, nâng ly để “chạm tuổi già”. Cả hai đều đã nụ cười chân chim, nhưng tâm hồn bình yên, cuộc đời vẫn vui dù có gian nan vất vả: “Sáu tư tuổi lắm trật trầy mà vui”. Vậy là mừng lắm, vì người thơ đôi khi không lý giải được, buồn vui vô cớ như Thi sỹ Xuân Diệu ngày trước “Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn”. Ở đây nhà thơ: “Tự mình làm một bơ vơ”, rồi than thở “Sao tôi hụt hẫng thế này”. Bởi cái thói đa cảm của người thơ ý mà. Anh thương cho nàng Kiều : “Hồng nhan chi để úa nhàu tuổi hoa”. Nghẹn ngào trước nỗi đau ứa máu của Hàn Mặc Tử. Rồi lại lênh đênh vương víu với các em gái ở chợ nổi miền tây bao la sông nước: “Bồng bềnh điệu lý xôn xao. Con sông cứ thế chảy vào lòng tôi...Khôn tôi thành kẻ dại khờ. Chợ tan rồi cứ thẫn thờ với sông...”. Đúng là người thơ đa cảm! Chí ít cũng không phải một lần, nhà thơ thẫn thờ với sông. Mà thời trẻ, khi con tim mới biết rung cảm cho tình yêu đầu đời, anh đã lỡ chuyến Đò tình, để cả đời nuối tiếc: “Ngày xưa đau nỗi muộn màng.Ta vừa chạm bến người sang sông rồi”. Lỡ đò một chuyến, để đau một đời. Không chỉ lỡ đò, đời còn lắm truân chuyên, dâu bể: “Đường chân trời - nỗi bể dâu...Chỉ thơ lưu dấu nỗi đau của đời”.

Người thơ Phạm Trung Tín lắm tơ vương, nhiều dan díu. Gặp tà áo bà ba của em gái miền sông nước Nam Bộ là anh đã đứng ngồi không yên. Lên Tây nguyên, gặp cô gái Banar: “Hồn nhiên như núi với đồi. Lối mòn sỏi đá thương đôi chân trần”, không biết rừng núi bồi hồi hay lòng anh bồi hồi: “Mai này phố thị tôi ngồi nhớ em!”. Lòng người vương vấn, nhìn vạn vật xung quanh cũng thấy vấn vương, quyến luyến. “Bắt đền díu dan” là bài thơ mang tâm trạng như thế : “Gió ngồi dan díu hương mai. Trộm nhìn vườn vắng - hình hài bão giông. Nét trời nên những đường cong. Lưng ong thắt lại một vòng thiên thai”. Câu thơ giầu hình tượng, gây ấn tượng. Câu kết của bài thơ cho chúng ta thấy rằng : sẽ có nhiều anh chàng phải thao thức vì cái bệnh díu dan này : “Hết ngày rồi lại sang đêm. Ai đem thương nhớ bắt đền díu dan”

Là người sống cởi mở, chân tình, nhà thơ Phạm Trung Tín có nhiều bạn bè, nhất là bạn văn chương. Họ biết trân trọng, yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ nhau. Anh cũng có nhiều thơ tặng bạn : Huynh có Giang Lam, Lưu Trần Đại, muội có Trần Mai Hường, ngang tầm phải lứa có Trần Trí Thông, Đinh Thường, Phạm Hữu Bình và còn nhiều nữa vân vân. Thật đáng quý !

Con người ta, thời trẻ thường tung hoành ngang dọc. Sau những thác gềnh, từng trải, được thua. Đến xế chiều, chựng lại. Trẻ hướng ngoại, già hướng nội. Phạm Trung Tín đã đến tuổi hướng nội. Lòng hướng về nguồn cội, về cố hương. Trong tất cả sự “hướng” ấy, đặc biệt anh hướng về MẸ GIÀ. Nhà thơ có chùm thơ viết về Mẹ rất cảm động: Về bên Mẹ, Bình yên bên Mẹ, Về thăm Mẹ, Tâm nhang con nguyện... Những câu thơ viết về Mẹ rất thật, rất thương : “Tết này sang tuổi chín ba. Mẹ như than rạ, chuối già chín cây”. Than rạ mau tàn, chuối chín cây dễ rụng! Mừng cho tác giả còn Mẹ già đã Đại thọ. Quý trọng phẩm chất tốt đẹp của người con trung hiếu: “Thảo thơm phục dưỡng từng ngày”. Câu thơ là tấm lòng của tác giả. Anh thương Mẹ bước chân chậm chạp bên thềm và lo lắng, theo dõi từng miếng ăn, giấc ngủ : “Ăn thường nghẹn nuốt khó trôi. Ngủ không tròn giấc, khuyết bồi nửa đêm”. Không phải người con nào cũng làm được điều này. Cảm phục tấm lòng hiếu thảo .

Đi cho thỏa chí trai “Chân con lang bạt mọi miền. Ba lô chật ních nỗi riêng quê nhà”, thương Mẹ già như thân cò lặn lội, cõng nắng triền đê , lúc nào cũng đỏ mắt ngóng con. Con giờ tóc đã pha sương: “Hôm nay về lại quê nhà. Sà vào lòng Mẹ con đà tóc sương. Mà nghe thơ ấu lạ thường. Đâu đây giây phút thiên đường đời con !”.

Hạnh phúc biết bao nhiêu khi tóc đã bạc được sà vào lòng Mẹ, đúng là giây phút thiên đường hiếm hoi.

Bây giờ đã nên ông nên bà: «Nằm nghe lòng Mẹ bao la. Con càng nhỏ bé hơn là ngày xưa !”. Càng thấm thía, càng thương Mẹ: “Chiều chiều tựa cửa ngó ra. Ngổn ngang bao nỗi- mắt già lại cay!”. Phạm Trung Tín đã tròn chữ Hiếu. Nhưng với con cái không bao giờ cảm thấy đã báo hiếu đủ đầy. Mừng anh còn Mẹ già để phụng dưỡng. Cầu chúc cho Cụ Bà mạnh khỏe, để anh còn được chăm chút, nâng niu đến ngoại Bách niên !

Người ta thường nói “Thơ là người” với nhà thơ Phạm Trung Tín thì đúng vậy.

Đọc hết Đường chân trời của anh, ta gặp một trái tim nhân hậu. Từng cảm xúc chân thật. Không phô trương, không vuốt ve phóng đại. Câu chữ giản dị, mộc mạc. Nó chính là cuộc đời của tác giả. Dù có khó khăn, vất vả nhưng vẫn điềm tĩnh, vững vàng, giữ được tình yêu, niềm đam mê trọn vẹn với THƠ.

Rất vui mừng, xin trân trọng giới thiệu với các bạn tập thơ Đường chân trời của Phạm Trung Tín

Sài Gòn một ngày cuối Thu Kỷ Hợi (10- 2019)
ĐNA.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm