TIN TỨC

Sắc xuân bên bờ sông Vàm Cỏ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-04 08:11:37
mail facebook google pos stwis
1802 lượt xem

Bút ký của NGUYỄN MINH NGỌC

Một sáng cuối đông, ông bạn đồng khóa sĩ quan hơn 30 năm về trước, hăm hở phôn cho tôi. “Anh sắp xếp ngược Long An một chuyến được không? Về vùng căn cứ cũ ấy mà”. Thấy tôi ậm ừ, hắn bèn dấn thêm: “Có chú em vốn là trợ lý dẫn đường bay về lập trang trại cây ăn quả; trồng mấy hecta chanh, giống ngoại nhập…”. Nghe nói đến chanh, tôi chợt à lên một tiếng và đồng ý liền. Tôi mê chanh bởi đó là giống cây “ruột” của quê tôi nằm cạnh dòng Lam giang. Đó là giống chanh hoàng niên được trồng trên đất cánh bãi phù sa màu mỡ nên quả rất sai, to, vỏ mỏng và rất thơm. Dân làng tôi rất tự hào bởi thứ sản vật trời cho này.

Trước hôm xuất phát, nghe tôi nói sẽ đi Đức Huệ, có người rành rẽ địa bàn vùng này đã cảnh báo “coi chừng, đường sá dưới đó cực lắm đa”. Nghe vậy nhưng tôi tặc lưỡi, cứ đi rồi khắc biết, khó ở đâu tìm cách vượt ở đó. Không có lý gì lại từ chối một chuyến “về nguồn” hiếm hoi như vậy. Dường như đoán biết tâm lý của người thành phố vốn hay ngại khó nên dù chưa gặp mặt, chú Minh chủ trang trại vẫn cẩn trọng gọi điện chỉ dẫn đường đi lối lại cụ thể. Tôi giật tờ lịch siêu đại lật mặt sau ghi vội thông tin vào đó, tới khi đọc lại thấy hoa cả mắt bởi có lắm ngã ba, ngã tư, rồi quẹo trái, quẹo phải, hệt như cách anh thanh niên chỉ đường trong thiên truyện “Đôi mắt” nổi tiếng của Nam Cao vậy.

Gần chục năm nay, do đặc thù của công việc làm sách, tôi thuộc khá nhiều địa danh của vùng đất bưng biền, dẫu chưa được một lần đặt chân tới. Ấy là Mỏ Vẹt, Ba Thu, Hội Đồng Sầm, Giồng Dên Dên, rồi Bình Hòa Nam… những cái tên gắn với một thời lửa đạn mà chỉ mới nhắc đến thôi đã thấy gần gụi và xiết bao thương mến.

Chiếc xe con trực chỉ quốc lộ 22, tới Củ Chi thì quẹo sang tỉnh lộ 8. Đường xấu tệ, xe và người cứ nẩy lên bần bật hệt như trong vũ điệu Lambada. Tới ngã tư Hậu Nghĩa, qua Tân Mỹ, rồi Hiệp Hòa, vượt cầu Đức Huệ vắt ngang sông Vàm Cỏ Đông, đến thị trấn Đông Thành, về xã Bình Hòa Bắc. Tại đây, vào tháng 12-1945, Xứ ủy Nam Bộ đã họp và quyết định lập ba chiến khu 7, 8, 9, để chống quân xâm lược. Trong cả hai cuộc kháng chiến, đây là vùng căn cứ địa với biết bao chiến công và sự tích anh hùng. Nương theo câu hát “Ở tận sông Hồng em có biết? Quê hương anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi với lòng tha thiết. Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông”, chúng tôi hăm hở tìm về một địa chỉ đỏ. Chiếu trên bản đồ, vùng đất này nằm về phía bắc tỉnh Long An, địa đầu của vùng Đồng Tháp Mười, nơi tiếp giáp với miền Đông Nam Bộ và là vùng đệm nối xuống đồng bằng sông Cửu Long trù phú. Đây cũng là cửa ngõ gần nhất từ biên giới Campuchia, qua thị trấn Hậu Nghĩa xuôi về Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua cửa kính xe, khung cảnh làng quê vun vút hiện ra quá ư là êm đềm. Miệt vườn cây cối mướt mát, kênh rạch chằng chịt, nhà cửa được cất thưa thoáng khác hẳn với cảnh phố phường ngột ngạt. Từng bầy gà lúc túc tìm mồi ngay cạnh lối đi. Chiếc xe giảm tốc độ rồi quẹo trái, bò qua cây cầu nhỏ đúc bê tông, hẳn trước kia chỗ này là một cây cầu khỉ. Ngó con đường bờ ruộng cỏ mượt mà xanh vừa đủ một làn xe chạy xuyên qua cánh đồng hút cả tầm mắt, khiến cả đoàn né thở. May thay bác tài vốn là một tay “lái lụa” nên cuối cùng chiếc xe vẫn cán đích an lành. Tới một vạt đất trống có ngôi nhà nhỏ lợp tôn, ngó quanh tuyền đồng không mông quạnh, lòng chợt hoang mang. Có người ra đón, chúng tôi gửi ô tô lại, rồi leo lên xe máy chạy chênh vênh trên bờ bao. Lối đi khấp khểnh, gồ ghề, chỉ cần non tay lái một chút là xe lao xuống ruộng. Nhưng chỉ một loáng, khu trang trại đã hiện ra rờ rỡ ngay trước mắt với miên man cây trái. Bên trái là dòng kênh xanh ngợp lục bình, xa hơn một chút thấp thoáng những nếp nhà nhỏ lẩn khuất dưới tàng cây um tùm. Không khí ở đây thực sự trong lành và khoáng đãng. Trong nắng sớm, từng đàn bù chao “cãi nhau” ỏm tỏi, rồi tiếng sẻ đồng ríu ran, nghe cứ nhẹ cả người.

Một góc trang trại chanh.

Trong căn nhà gạch, mái tôn của khu trang trại, Phạm Hữu Minh bồi hồi kể gia đình hai bên nội ngoại của anh đều gắn bó với miệt này từ thuở mới “khai thiên phá thạch”. Thời cụ Phạm Văn Công (ông nội của Minh) đến khẩn hoang vùng đất này, thóc lúa đầy kho lẫm, trâu đàn có cả trăm con béo mượt. Chỉ nội việc đàn trâu lội sình lâu ngày đã thành ra một khúc kênh. Vì vậy, một đoạn kênh Ba Reng còn được người dân quen gọi là kênh Ba Công. Tại đây, hơn 70 năm về trước, bác sĩ Hồ Văn Huê mượn đất dựng nên khu “Dưỡng đường Nam Bộ” làm nơi điều trị và cứu chữa cho thương binh từ các mặt trận đưa về. Minh vẫn còn lưu giữ đầy đủ các văn bản từ thời ông nội ủng hộ kháng chiến. Vào giữa năm 1961, vùng đất này còn được biết đến bởi căn cứ đứng chân của Thành đoàn Sài Gòn-Gia Định, chuyên tổ chức các lớp đào tạo cán bộ rồi tung về nội thành hoạt động.

Chủ trang trại Phạm Hữu Minh và tác giả bên gốc chanh - Ảnh: Minh Tuân.

Trước khi nhập ngũ, Phạm Hữu Minh từ có 5 năm học nghề cơ khí và làm công nhân Công ty công trình giao thông Long An. Tháng 9-1984, anh thi đỗ vào Trường sĩ quan Không quân (Nha Trang) và được chọn học chuyên ngành dẫn đường bay. Đây là một chuyên ngành đòi hỏi người học phải có kỹ năng tính toán, tư duy nhạy bén và quyết đoán. Tốt nghiệp ra trường, Minh được phân công về trung đoàn 929, rồi trung đoàn 937, đều là các đơn vị không quân chiến đấu. Đầu năm 1991, anh được cử ra Trường Sa công tác trong Tổ đại diện Không quân tại đây. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên quần đảo bão tố, Minh trở về sư đoàn ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Lăn lộn bầm dập từ tấm bé nên Minh không ngại khó, ngại khổ, có điều lúc nào anh cũng đau đáu nặng lòng với quê hương. “Ông bà mình tâm huyết cả đời, đổ biết bao mồ hôi và cả máu xương, không lẽ bây giờ con cháu cứ tìm nơi đô hội để hưởng nhàn, rồi lãng quên dần nguồn cội?”. Vả lại vùng căn cứ cũ giờ đây là vùng sâu, vùng xa, kinh tế đì đẹt chậm phát triển nên cuộc sống của người dân phần đông vẫn còn nhiều cơ cực. Nếu ai cũng chọn nơi nhàn hạ để ấm thân thì lấy ai xây dựng quê hương? Không chỉ mình làm giàu mà phải biết tạo công ăn việc làm cho những người nghèo. Nung nấu bởi ý nghĩ ấy, vài năm trước bấm tính biết thời hạn sẽ nghỉ hưu, Minh rủ vài người bạn về chung lưng đấu cật khai hoang. Trên thửa đất ông bà để lại, nhiều năm chỉ mọc tuyền cỏ lác và cây năn, sau khi làm mâm cơm cẩn cáo với tổ tiên, anh bắt tay vào việc. Trước tiên là đi thuê máy Kobe xúc đất phèn, phục hóa. Được cô bác ủng hộ, Minh bền bỉ thau chua, xẻ rãnh, đắp bờ bao, quy hoạch thành một khu trang trại rộng trên 4 hecta. Nhìn cơ ngơi diệu vợi giữa mênh mang hoang hóa, không ít người coi ý tưởng của anh là “khùng”. Ngay cả Minh khi mới bắt tay vào cuộc, cũng không khỏi có lúc ý nghĩ hoang mang xuất hiện trong đầu, bởi sự đơn độc chẳng khác nào hình ảnh chàng kỵ sĩ Đôn Kihôtê đánh nhau với cối xay gió vậy!

Nhưng lòng người lính đã quyết. Quê hương giang rộng vòng tay đón anh. Minh bảo những ngày đầu về cắm ở đây, vài người làm công đã to nhỏ hỏi anh không thấy ngán sao? Minh tròn mắt. Ngán cái nỗi gì? Là đêm nào tụi em cũng thấy mấy ổng đằng mình hiện về với băng quấn trắng toát, có người la hét rất kinh, vì nghe nói ngày trước bác sĩ ở dưỡng đường phải dùng cưa thợ mộc cưa tay chân thương binh. Có khi giữa ban ngày, tụi em còn thoáng thấy bóng người lấp ló sau những bụi chanh um tùm, và nghe như có tiếng rì rầm trò chuyện, nhưng hễ chạy tới thì mất dạng. Thiệt lạ!… Minh cười xòa nói tui là hạng con cháu về tạo dựng làm ăn trên đất tổ tiên để lại, thì nỡ nào ông bà lại không phù hộ độ trì? Còn nếu quả thật có chuyện các bác, các chú hiển linh thì cũng là điều tự nhiên, chả có gì phải sợ. Vùng đất này thấm máu xương của biết bao người đã bỏ mình nước, giờ nếu cháu con để đất hoang hóa và cam chịu nghèo đói thì mới phải chịu quở phạt…

Nếu trước đây Minh giỏi tính toán đường bay cho các máy bay phản lực chiến đấu trên trời, thì giờ đây ngay trên mặt đất, phẩm chất của người sĩ quan dẫn đường vẫn được phát huy. Anh là người đầu tiên bạo dạn đưa giống chanh không hạt Limca mang về canh tác trên vùng đất này, bấy giờ giá mỗi cây giống là 15.000 đồng. Theo mật độ cứ 400 cây một hecta, hàng ngàn gốc chanh được trồng và chăm bẵm đúng kỹ thuật, nhanh chóng bén rễ và tươi tốt ngờm ngợp. Đúng 18 tháng sau, trại chanh đã cho lứa quả đầu tiên. Nhìn những quả chanh to tròn, căng mọng, da xanh óng, Minh ứa nước mắt bởi tâm nguyện của anh đã thành hiện thực.

Đầu năm 2014, nhận quyết định nghỉ chờ hưu, Phạm Hữu Minh bàn bạc thống nhất trong gia đình, quyết tâm mở hướng làm ăn. Hiểu rõ tính nết và sở nguyện của chồng, mặc dù thẳm sâu trong tâm khảm không thể nói được bằng lời, song chị Trần Thị Mỹ Kim vẫn hết lòng ủng hộ và động viên anh. Chị nhận lãnh trọng trách ở lại trông nom căn nhà tại phường 11, quận Gò Vấp (Tp.Hồ Chí Minh) chăm lo cho hai cậu con trai đang tuổi ăn học, làm “hậu phương” vững chắc để chồng đi xây dựng trang trại.

Bạn bè thân thiết cũng không ít người bàn ra bàn vào. Rằng, đến tuổi này rồi mới tính chuyện làm giàu, thì cực lắm. Một đời binh nghiệp, giờ được nghỉ hưu thì hãy cứ ngơi cho khỏe cái thân, đi du lịch hoặc đi thăm thú các danh lam thắng cảnh cho biết, tự hành xác làm gì? Cuộc đời ngắn lắm, cần phải biết thụ hưởng chứ, v.v… Mặc cho người gàn kẻ chê, Minh vẫn không hề lay chuyển cái ý định đã chín nẫu trong đầu. Anh nghĩ vùng căn cứ cũ rất giàu tiềm năng song bà con cô bác nơi đây hãy còn nghèo lắm, mình không nỡ chọn cuộc sống an nhàn. Vì điều kiện đường sá cách trở, trong số bạn bè cùng góp công sức buổi đầu giờ đây chỉ còn mình anh trụ lại. Ngoài giống chanh không hạt, Minh còn cho trồng thêm nào mít, nào ổi, rồi mãng cầu, chuối, cam… ở vòng ngoài trang trại. Đúng là trời không phụ lòng người, loại cây nào cũng sum suê, trĩu quả.

Với chiếc mũ tai bèo và cặp kính cận, Minh hăm hở dẫn chúng tôi len lỏi giữa bạt ngàn cây trái. Hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh, chia trang trại thành từng ô như bàn cờ. Khác với giống chanh ở quê tôi, loại chanh này sinh trưởng rất khỏe, tán cây rộng, lá to bản và không có mùi thơm, song năng suất thì thật đáng nể. Mỗi năm chanh có hai vụ thu hoạch chính. Vào vụ, cứ một tuần thu hái một lần và phải mướn thêm người làm. Khi chúng tôi đến, có hàng chục người cả đàn ông lẫn đàn bà đang thoăn thoắt hái chanh. Trò chuyện với tôi, có người cho biết từng có một thời lầm lỡ, được Minh cưu mang đưa về lao động và trở thành “nồi cơm” cho gia đình. Họ làm từ lúc chưa tỏ mặt người cho tới trưa đứng bóng mới tạm nghỉ ăn cơm. Chanh được chất đầy các giỏ cần xé đưa về dồn đống trong lán. Tại đây, sau khi được phân loại và tuyển lựa cẩn thận, hàng tấn chanh được thương lái chuyển đi khắp nơi. Minh cho biết, hiện nay, ngoài thị trường nội địa, chanh của anh còn được xuất sang một số nước Đông Nam Á. Mỗi ký chanh bán tại gốc có giá dao động từ 15.000-20.000 đồng. Tuy nhiên, cũng có khi giá rớt thê thảm chỉ còn khoảng 8.000 đồng. Ngược lại, vào cữ tháng 2-3 âm lịch, chanh trái vụ có thể lên tới hơn 40.000 đồng một ký. Bình quân mỗi năm trừ hết các khoản chi phí, người cựu binh này cũng thu lãi ngót nhét hàng tỷ đồng. Hỏi bí kíp, chủ trại cười hiền, nói chỉ cần mình đừng phụ đất là được. Ở đây ngoài phân chuồng thì lục bình cũng là nguồn phân bón hữu cơ vô tận và cực tốt. Muốn thu hoạch bộn thì phải chăm lo từ khâu làm cỏ đến vun xới và tưới tắm, tuyệt đối không được sao nhãng khâu nào.

Minh cho biết điều trăn trở lớn nhất của anh là làm cách nào để thoát ra khỏi thảm cảnh dở khóc dở cười của nông dân là “trúng mùa, rớt giá” được mặc định bao năm nay? Bài toán ở đây là làm sao để sản phẩm nông nghiệp có được đầu ra ổn định, làm sao để thương lái không ăn chặn và ép giá người sản xuất? Vấn đề đặt ra là nếu anh đơn thương độc mã thì chắc chắn khó tránh khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy. Vậy thì cần thiết phải có sự liên kết tiểu vùng, thậm chí liên kết vùng thì mới mong tạo ra được sức mạnh và sự cạnh tranh sòng phẳng, hàng hóa nông sản mới đến được tận tay người tiêu dùng.

Những ngày lăn lộn ở trang trại, người cựu binh này nhận thấy quỹ đất sản xuất ở địa phương còn rất lớn, thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển mô hình sản xuất chuyên canh. Đặc điểm thổ nhưỡng ở đây thích hợp để trồng chanh và một số cây ăn quả có giá trị thương mại cao. Nông dân vốn giàu kinh nghiệm trồng trọt. Một số công ty sẵn sàng hợp tác về kỹ thuật và cung cấp vật tư với chất lượng bảo đảm, giá cả ưu đãi. Minh đã hoàn tất đề án xin phép thành lập Hợp tác xã sản xuất-thương mại-dịch vụ nông nghiệp Bình Hòa. Chỉ như vậy, anh mới đủ tư cách pháp nhân để chào hàng xuất khẩu với các đối tác nước ngoài, đồng thời cung ứng nội địa. Quy mô ban đầu khoảng 40 hecta và 30 hộ thành viên, Ban chủ nhiệm có đội ngũ kỹ sư nông nghiệp và cử nhân kinh tế tham gia. Lĩnh vực hoạt động là sản xuất nông nghiệp và thương mại dịch vụ nông nghiệp. Sản phẩm của HTX theo tiêu chuẩn VietGAP. Cây trồng chính là chanh không hạt Limca, năng suất bình quân hằng năm mỗi cây cho khoảng 100kg. Trong tương lai, hoàn toàn có thể phá triển thêm thêm cây mãng cầu gai (giống Thái), cây bơ… Ngoài ra, trên diện tích canh tác có thể trồng xen canh các giống cây ngắn ngày như: đu đủ, ớt và các loại hoa màu khác. Vốn đầu tư dao động từ 100-120 triệu đồng cho một hecta. Theo tính toán, lợi nhuận bình quân thu được trên mỗi hecta vào khoảng 400 triệu một năm. Quả là một con số biết nói!

Trước mắt vẫn còn nhiều gian nan. Khu vực đất canh tác nằm trong vùng có mùa khô kéo dài, giống cây nào cũng cần tưới tiêu, song hệ thống kênh mương dẫn nước thiếu trầm trọng, nơi có thì chưa hoàn chỉnh. Mùa lũ, nước dâng cao đe dọa hệ thống đê bao. Ấy là chưa tính đến việc phải bơm tiêu nước, khá tốn kém. Bên cạnh đó, đường sá không thuận cho việc vận chuyển hàng hóa vật tư. Điện lưới mới chỉ đủ thắp sáng, việc phục vụ sản xuất còn nhiều bất cập. Đúng là khó khăn nan giải mọi bề. Minh bảo lúc báo cáo ý tưởng xây dựng đề án, về cơ bản là địa phương ủng hộ, song lãnh đạo xã và cơ quan chuyên môn vẫn còn chút ngần ngại, lo lắng, bởi trước đây đã có mô hình hợp tác xã nhưng hoạt động không hiệu quả.

Với bản tính khiêm nhường, tự tin và không hề lây nhiễm căn “bệnh” hoành tráng, Minh lựa lời tìm sự ủng hộ của chính quyền, của Phòng nông nghiệp huyện và của Liên minh Hợp tác xã. Việc thành lập HTX SX-TM-DVNN sẽ tạo bước đột phá về tính hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; đồng thời phát huy được thế mạnh của địa phương là quỹ đất sản xuất lớn, cây trồng phong phú và đa dạng. Song điều quan trọng hơn cả là tạo ra việc làm ổn định cho người lao động địa phương, thu nhập bình quân đầu người hàng tháng ước đạt từ 3,6-4,8 triệu đồng. Dự án đầy lãng mạn này sẽ từng bước xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân vùng căn cứ cũ, góp phần xây dựng nông thôn mới.

*

Giữa trưa nóng hầm hập, bất thần một cơn giông ập đến dữ dội. Nền trời ngả sang xám xịt, trong thoáng chốc mặt đất đã sũng nước, nhão nhoẹt bùn. Mưa lớn đến nỗi những người làm công chạy không kịp vuốt mặt. Họ khiêng giỏ cần xé lặc lè chạy về kho. Nước dềnh ập lên bờ rất nhanh. Sau bữa cơm trưa đầm ấm, lúc chia tay chúng tôi đành tách đôi vì không thể đi cả bằng đường bộ. Hai cánh thủy bộ sẽ hội quân ở cầu kênh Hội Đồng Sầm. Chiếc ghe bầu do Minh cầm lái ậm ạch nổ máy xé lục bình, hướng ra kênh xáng Trà Cú Thượng. Ngay cạnh bờ kênh, dưới vạt tre, một cái rạp được kết hoa đỏ rực, chuẩn bị đám cưới. Bấy giờ mưa đã ngớt. Giữa dòng kênh hoa lục bình nở tím ngát, xa xa rực vàng một màu bông điên điển. Ngồi cầm lái, Minh cao hứng đọc câu ca: “Canh chua điên điển cá linh/ Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon”. Tết này, mời mấy anh về nhậu cá lóc nướng trui. Tôi gật đầu. Dường như hơi thở mùa xuân đang rất cận kề.

Nguồn: Báo Văn Nghệ Xuân 2017.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm