TIN TỨC

Sắc xuân bên bờ sông Vàm Cỏ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-04 08:11:37
mail facebook google pos stwis
1868 lượt xem

Bút ký của NGUYỄN MINH NGỌC

Một sáng cuối đông, ông bạn đồng khóa sĩ quan hơn 30 năm về trước, hăm hở phôn cho tôi. “Anh sắp xếp ngược Long An một chuyến được không? Về vùng căn cứ cũ ấy mà”. Thấy tôi ậm ừ, hắn bèn dấn thêm: “Có chú em vốn là trợ lý dẫn đường bay về lập trang trại cây ăn quả; trồng mấy hecta chanh, giống ngoại nhập…”. Nghe nói đến chanh, tôi chợt à lên một tiếng và đồng ý liền. Tôi mê chanh bởi đó là giống cây “ruột” của quê tôi nằm cạnh dòng Lam giang. Đó là giống chanh hoàng niên được trồng trên đất cánh bãi phù sa màu mỡ nên quả rất sai, to, vỏ mỏng và rất thơm. Dân làng tôi rất tự hào bởi thứ sản vật trời cho này.

Trước hôm xuất phát, nghe tôi nói sẽ đi Đức Huệ, có người rành rẽ địa bàn vùng này đã cảnh báo “coi chừng, đường sá dưới đó cực lắm đa”. Nghe vậy nhưng tôi tặc lưỡi, cứ đi rồi khắc biết, khó ở đâu tìm cách vượt ở đó. Không có lý gì lại từ chối một chuyến “về nguồn” hiếm hoi như vậy. Dường như đoán biết tâm lý của người thành phố vốn hay ngại khó nên dù chưa gặp mặt, chú Minh chủ trang trại vẫn cẩn trọng gọi điện chỉ dẫn đường đi lối lại cụ thể. Tôi giật tờ lịch siêu đại lật mặt sau ghi vội thông tin vào đó, tới khi đọc lại thấy hoa cả mắt bởi có lắm ngã ba, ngã tư, rồi quẹo trái, quẹo phải, hệt như cách anh thanh niên chỉ đường trong thiên truyện “Đôi mắt” nổi tiếng của Nam Cao vậy.

Gần chục năm nay, do đặc thù của công việc làm sách, tôi thuộc khá nhiều địa danh của vùng đất bưng biền, dẫu chưa được một lần đặt chân tới. Ấy là Mỏ Vẹt, Ba Thu, Hội Đồng Sầm, Giồng Dên Dên, rồi Bình Hòa Nam… những cái tên gắn với một thời lửa đạn mà chỉ mới nhắc đến thôi đã thấy gần gụi và xiết bao thương mến.

Chiếc xe con trực chỉ quốc lộ 22, tới Củ Chi thì quẹo sang tỉnh lộ 8. Đường xấu tệ, xe và người cứ nẩy lên bần bật hệt như trong vũ điệu Lambada. Tới ngã tư Hậu Nghĩa, qua Tân Mỹ, rồi Hiệp Hòa, vượt cầu Đức Huệ vắt ngang sông Vàm Cỏ Đông, đến thị trấn Đông Thành, về xã Bình Hòa Bắc. Tại đây, vào tháng 12-1945, Xứ ủy Nam Bộ đã họp và quyết định lập ba chiến khu 7, 8, 9, để chống quân xâm lược. Trong cả hai cuộc kháng chiến, đây là vùng căn cứ địa với biết bao chiến công và sự tích anh hùng. Nương theo câu hát “Ở tận sông Hồng em có biết? Quê hương anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi với lòng tha thiết. Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông”, chúng tôi hăm hở tìm về một địa chỉ đỏ. Chiếu trên bản đồ, vùng đất này nằm về phía bắc tỉnh Long An, địa đầu của vùng Đồng Tháp Mười, nơi tiếp giáp với miền Đông Nam Bộ và là vùng đệm nối xuống đồng bằng sông Cửu Long trù phú. Đây cũng là cửa ngõ gần nhất từ biên giới Campuchia, qua thị trấn Hậu Nghĩa xuôi về Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua cửa kính xe, khung cảnh làng quê vun vút hiện ra quá ư là êm đềm. Miệt vườn cây cối mướt mát, kênh rạch chằng chịt, nhà cửa được cất thưa thoáng khác hẳn với cảnh phố phường ngột ngạt. Từng bầy gà lúc túc tìm mồi ngay cạnh lối đi. Chiếc xe giảm tốc độ rồi quẹo trái, bò qua cây cầu nhỏ đúc bê tông, hẳn trước kia chỗ này là một cây cầu khỉ. Ngó con đường bờ ruộng cỏ mượt mà xanh vừa đủ một làn xe chạy xuyên qua cánh đồng hút cả tầm mắt, khiến cả đoàn né thở. May thay bác tài vốn là một tay “lái lụa” nên cuối cùng chiếc xe vẫn cán đích an lành. Tới một vạt đất trống có ngôi nhà nhỏ lợp tôn, ngó quanh tuyền đồng không mông quạnh, lòng chợt hoang mang. Có người ra đón, chúng tôi gửi ô tô lại, rồi leo lên xe máy chạy chênh vênh trên bờ bao. Lối đi khấp khểnh, gồ ghề, chỉ cần non tay lái một chút là xe lao xuống ruộng. Nhưng chỉ một loáng, khu trang trại đã hiện ra rờ rỡ ngay trước mắt với miên man cây trái. Bên trái là dòng kênh xanh ngợp lục bình, xa hơn một chút thấp thoáng những nếp nhà nhỏ lẩn khuất dưới tàng cây um tùm. Không khí ở đây thực sự trong lành và khoáng đãng. Trong nắng sớm, từng đàn bù chao “cãi nhau” ỏm tỏi, rồi tiếng sẻ đồng ríu ran, nghe cứ nhẹ cả người.

Một góc trang trại chanh.

Trong căn nhà gạch, mái tôn của khu trang trại, Phạm Hữu Minh bồi hồi kể gia đình hai bên nội ngoại của anh đều gắn bó với miệt này từ thuở mới “khai thiên phá thạch”. Thời cụ Phạm Văn Công (ông nội của Minh) đến khẩn hoang vùng đất này, thóc lúa đầy kho lẫm, trâu đàn có cả trăm con béo mượt. Chỉ nội việc đàn trâu lội sình lâu ngày đã thành ra một khúc kênh. Vì vậy, một đoạn kênh Ba Reng còn được người dân quen gọi là kênh Ba Công. Tại đây, hơn 70 năm về trước, bác sĩ Hồ Văn Huê mượn đất dựng nên khu “Dưỡng đường Nam Bộ” làm nơi điều trị và cứu chữa cho thương binh từ các mặt trận đưa về. Minh vẫn còn lưu giữ đầy đủ các văn bản từ thời ông nội ủng hộ kháng chiến. Vào giữa năm 1961, vùng đất này còn được biết đến bởi căn cứ đứng chân của Thành đoàn Sài Gòn-Gia Định, chuyên tổ chức các lớp đào tạo cán bộ rồi tung về nội thành hoạt động.

Chủ trang trại Phạm Hữu Minh và tác giả bên gốc chanh - Ảnh: Minh Tuân.

Trước khi nhập ngũ, Phạm Hữu Minh từ có 5 năm học nghề cơ khí và làm công nhân Công ty công trình giao thông Long An. Tháng 9-1984, anh thi đỗ vào Trường sĩ quan Không quân (Nha Trang) và được chọn học chuyên ngành dẫn đường bay. Đây là một chuyên ngành đòi hỏi người học phải có kỹ năng tính toán, tư duy nhạy bén và quyết đoán. Tốt nghiệp ra trường, Minh được phân công về trung đoàn 929, rồi trung đoàn 937, đều là các đơn vị không quân chiến đấu. Đầu năm 1991, anh được cử ra Trường Sa công tác trong Tổ đại diện Không quân tại đây. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên quần đảo bão tố, Minh trở về sư đoàn ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Lăn lộn bầm dập từ tấm bé nên Minh không ngại khó, ngại khổ, có điều lúc nào anh cũng đau đáu nặng lòng với quê hương. “Ông bà mình tâm huyết cả đời, đổ biết bao mồ hôi và cả máu xương, không lẽ bây giờ con cháu cứ tìm nơi đô hội để hưởng nhàn, rồi lãng quên dần nguồn cội?”. Vả lại vùng căn cứ cũ giờ đây là vùng sâu, vùng xa, kinh tế đì đẹt chậm phát triển nên cuộc sống của người dân phần đông vẫn còn nhiều cơ cực. Nếu ai cũng chọn nơi nhàn hạ để ấm thân thì lấy ai xây dựng quê hương? Không chỉ mình làm giàu mà phải biết tạo công ăn việc làm cho những người nghèo. Nung nấu bởi ý nghĩ ấy, vài năm trước bấm tính biết thời hạn sẽ nghỉ hưu, Minh rủ vài người bạn về chung lưng đấu cật khai hoang. Trên thửa đất ông bà để lại, nhiều năm chỉ mọc tuyền cỏ lác và cây năn, sau khi làm mâm cơm cẩn cáo với tổ tiên, anh bắt tay vào việc. Trước tiên là đi thuê máy Kobe xúc đất phèn, phục hóa. Được cô bác ủng hộ, Minh bền bỉ thau chua, xẻ rãnh, đắp bờ bao, quy hoạch thành một khu trang trại rộng trên 4 hecta. Nhìn cơ ngơi diệu vợi giữa mênh mang hoang hóa, không ít người coi ý tưởng của anh là “khùng”. Ngay cả Minh khi mới bắt tay vào cuộc, cũng không khỏi có lúc ý nghĩ hoang mang xuất hiện trong đầu, bởi sự đơn độc chẳng khác nào hình ảnh chàng kỵ sĩ Đôn Kihôtê đánh nhau với cối xay gió vậy!

Nhưng lòng người lính đã quyết. Quê hương giang rộng vòng tay đón anh. Minh bảo những ngày đầu về cắm ở đây, vài người làm công đã to nhỏ hỏi anh không thấy ngán sao? Minh tròn mắt. Ngán cái nỗi gì? Là đêm nào tụi em cũng thấy mấy ổng đằng mình hiện về với băng quấn trắng toát, có người la hét rất kinh, vì nghe nói ngày trước bác sĩ ở dưỡng đường phải dùng cưa thợ mộc cưa tay chân thương binh. Có khi giữa ban ngày, tụi em còn thoáng thấy bóng người lấp ló sau những bụi chanh um tùm, và nghe như có tiếng rì rầm trò chuyện, nhưng hễ chạy tới thì mất dạng. Thiệt lạ!… Minh cười xòa nói tui là hạng con cháu về tạo dựng làm ăn trên đất tổ tiên để lại, thì nỡ nào ông bà lại không phù hộ độ trì? Còn nếu quả thật có chuyện các bác, các chú hiển linh thì cũng là điều tự nhiên, chả có gì phải sợ. Vùng đất này thấm máu xương của biết bao người đã bỏ mình nước, giờ nếu cháu con để đất hoang hóa và cam chịu nghèo đói thì mới phải chịu quở phạt…

Nếu trước đây Minh giỏi tính toán đường bay cho các máy bay phản lực chiến đấu trên trời, thì giờ đây ngay trên mặt đất, phẩm chất của người sĩ quan dẫn đường vẫn được phát huy. Anh là người đầu tiên bạo dạn đưa giống chanh không hạt Limca mang về canh tác trên vùng đất này, bấy giờ giá mỗi cây giống là 15.000 đồng. Theo mật độ cứ 400 cây một hecta, hàng ngàn gốc chanh được trồng và chăm bẵm đúng kỹ thuật, nhanh chóng bén rễ và tươi tốt ngờm ngợp. Đúng 18 tháng sau, trại chanh đã cho lứa quả đầu tiên. Nhìn những quả chanh to tròn, căng mọng, da xanh óng, Minh ứa nước mắt bởi tâm nguyện của anh đã thành hiện thực.

Đầu năm 2014, nhận quyết định nghỉ chờ hưu, Phạm Hữu Minh bàn bạc thống nhất trong gia đình, quyết tâm mở hướng làm ăn. Hiểu rõ tính nết và sở nguyện của chồng, mặc dù thẳm sâu trong tâm khảm không thể nói được bằng lời, song chị Trần Thị Mỹ Kim vẫn hết lòng ủng hộ và động viên anh. Chị nhận lãnh trọng trách ở lại trông nom căn nhà tại phường 11, quận Gò Vấp (Tp.Hồ Chí Minh) chăm lo cho hai cậu con trai đang tuổi ăn học, làm “hậu phương” vững chắc để chồng đi xây dựng trang trại.

Bạn bè thân thiết cũng không ít người bàn ra bàn vào. Rằng, đến tuổi này rồi mới tính chuyện làm giàu, thì cực lắm. Một đời binh nghiệp, giờ được nghỉ hưu thì hãy cứ ngơi cho khỏe cái thân, đi du lịch hoặc đi thăm thú các danh lam thắng cảnh cho biết, tự hành xác làm gì? Cuộc đời ngắn lắm, cần phải biết thụ hưởng chứ, v.v… Mặc cho người gàn kẻ chê, Minh vẫn không hề lay chuyển cái ý định đã chín nẫu trong đầu. Anh nghĩ vùng căn cứ cũ rất giàu tiềm năng song bà con cô bác nơi đây hãy còn nghèo lắm, mình không nỡ chọn cuộc sống an nhàn. Vì điều kiện đường sá cách trở, trong số bạn bè cùng góp công sức buổi đầu giờ đây chỉ còn mình anh trụ lại. Ngoài giống chanh không hạt, Minh còn cho trồng thêm nào mít, nào ổi, rồi mãng cầu, chuối, cam… ở vòng ngoài trang trại. Đúng là trời không phụ lòng người, loại cây nào cũng sum suê, trĩu quả.

Với chiếc mũ tai bèo và cặp kính cận, Minh hăm hở dẫn chúng tôi len lỏi giữa bạt ngàn cây trái. Hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh, chia trang trại thành từng ô như bàn cờ. Khác với giống chanh ở quê tôi, loại chanh này sinh trưởng rất khỏe, tán cây rộng, lá to bản và không có mùi thơm, song năng suất thì thật đáng nể. Mỗi năm chanh có hai vụ thu hoạch chính. Vào vụ, cứ một tuần thu hái một lần và phải mướn thêm người làm. Khi chúng tôi đến, có hàng chục người cả đàn ông lẫn đàn bà đang thoăn thoắt hái chanh. Trò chuyện với tôi, có người cho biết từng có một thời lầm lỡ, được Minh cưu mang đưa về lao động và trở thành “nồi cơm” cho gia đình. Họ làm từ lúc chưa tỏ mặt người cho tới trưa đứng bóng mới tạm nghỉ ăn cơm. Chanh được chất đầy các giỏ cần xé đưa về dồn đống trong lán. Tại đây, sau khi được phân loại và tuyển lựa cẩn thận, hàng tấn chanh được thương lái chuyển đi khắp nơi. Minh cho biết, hiện nay, ngoài thị trường nội địa, chanh của anh còn được xuất sang một số nước Đông Nam Á. Mỗi ký chanh bán tại gốc có giá dao động từ 15.000-20.000 đồng. Tuy nhiên, cũng có khi giá rớt thê thảm chỉ còn khoảng 8.000 đồng. Ngược lại, vào cữ tháng 2-3 âm lịch, chanh trái vụ có thể lên tới hơn 40.000 đồng một ký. Bình quân mỗi năm trừ hết các khoản chi phí, người cựu binh này cũng thu lãi ngót nhét hàng tỷ đồng. Hỏi bí kíp, chủ trại cười hiền, nói chỉ cần mình đừng phụ đất là được. Ở đây ngoài phân chuồng thì lục bình cũng là nguồn phân bón hữu cơ vô tận và cực tốt. Muốn thu hoạch bộn thì phải chăm lo từ khâu làm cỏ đến vun xới và tưới tắm, tuyệt đối không được sao nhãng khâu nào.

Minh cho biết điều trăn trở lớn nhất của anh là làm cách nào để thoát ra khỏi thảm cảnh dở khóc dở cười của nông dân là “trúng mùa, rớt giá” được mặc định bao năm nay? Bài toán ở đây là làm sao để sản phẩm nông nghiệp có được đầu ra ổn định, làm sao để thương lái không ăn chặn và ép giá người sản xuất? Vấn đề đặt ra là nếu anh đơn thương độc mã thì chắc chắn khó tránh khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy. Vậy thì cần thiết phải có sự liên kết tiểu vùng, thậm chí liên kết vùng thì mới mong tạo ra được sức mạnh và sự cạnh tranh sòng phẳng, hàng hóa nông sản mới đến được tận tay người tiêu dùng.

Những ngày lăn lộn ở trang trại, người cựu binh này nhận thấy quỹ đất sản xuất ở địa phương còn rất lớn, thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển mô hình sản xuất chuyên canh. Đặc điểm thổ nhưỡng ở đây thích hợp để trồng chanh và một số cây ăn quả có giá trị thương mại cao. Nông dân vốn giàu kinh nghiệm trồng trọt. Một số công ty sẵn sàng hợp tác về kỹ thuật và cung cấp vật tư với chất lượng bảo đảm, giá cả ưu đãi. Minh đã hoàn tất đề án xin phép thành lập Hợp tác xã sản xuất-thương mại-dịch vụ nông nghiệp Bình Hòa. Chỉ như vậy, anh mới đủ tư cách pháp nhân để chào hàng xuất khẩu với các đối tác nước ngoài, đồng thời cung ứng nội địa. Quy mô ban đầu khoảng 40 hecta và 30 hộ thành viên, Ban chủ nhiệm có đội ngũ kỹ sư nông nghiệp và cử nhân kinh tế tham gia. Lĩnh vực hoạt động là sản xuất nông nghiệp và thương mại dịch vụ nông nghiệp. Sản phẩm của HTX theo tiêu chuẩn VietGAP. Cây trồng chính là chanh không hạt Limca, năng suất bình quân hằng năm mỗi cây cho khoảng 100kg. Trong tương lai, hoàn toàn có thể phá triển thêm thêm cây mãng cầu gai (giống Thái), cây bơ… Ngoài ra, trên diện tích canh tác có thể trồng xen canh các giống cây ngắn ngày như: đu đủ, ớt và các loại hoa màu khác. Vốn đầu tư dao động từ 100-120 triệu đồng cho một hecta. Theo tính toán, lợi nhuận bình quân thu được trên mỗi hecta vào khoảng 400 triệu một năm. Quả là một con số biết nói!

Trước mắt vẫn còn nhiều gian nan. Khu vực đất canh tác nằm trong vùng có mùa khô kéo dài, giống cây nào cũng cần tưới tiêu, song hệ thống kênh mương dẫn nước thiếu trầm trọng, nơi có thì chưa hoàn chỉnh. Mùa lũ, nước dâng cao đe dọa hệ thống đê bao. Ấy là chưa tính đến việc phải bơm tiêu nước, khá tốn kém. Bên cạnh đó, đường sá không thuận cho việc vận chuyển hàng hóa vật tư. Điện lưới mới chỉ đủ thắp sáng, việc phục vụ sản xuất còn nhiều bất cập. Đúng là khó khăn nan giải mọi bề. Minh bảo lúc báo cáo ý tưởng xây dựng đề án, về cơ bản là địa phương ủng hộ, song lãnh đạo xã và cơ quan chuyên môn vẫn còn chút ngần ngại, lo lắng, bởi trước đây đã có mô hình hợp tác xã nhưng hoạt động không hiệu quả.

Với bản tính khiêm nhường, tự tin và không hề lây nhiễm căn “bệnh” hoành tráng, Minh lựa lời tìm sự ủng hộ của chính quyền, của Phòng nông nghiệp huyện và của Liên minh Hợp tác xã. Việc thành lập HTX SX-TM-DVNN sẽ tạo bước đột phá về tính hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; đồng thời phát huy được thế mạnh của địa phương là quỹ đất sản xuất lớn, cây trồng phong phú và đa dạng. Song điều quan trọng hơn cả là tạo ra việc làm ổn định cho người lao động địa phương, thu nhập bình quân đầu người hàng tháng ước đạt từ 3,6-4,8 triệu đồng. Dự án đầy lãng mạn này sẽ từng bước xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân vùng căn cứ cũ, góp phần xây dựng nông thôn mới.

*

Giữa trưa nóng hầm hập, bất thần một cơn giông ập đến dữ dội. Nền trời ngả sang xám xịt, trong thoáng chốc mặt đất đã sũng nước, nhão nhoẹt bùn. Mưa lớn đến nỗi những người làm công chạy không kịp vuốt mặt. Họ khiêng giỏ cần xé lặc lè chạy về kho. Nước dềnh ập lên bờ rất nhanh. Sau bữa cơm trưa đầm ấm, lúc chia tay chúng tôi đành tách đôi vì không thể đi cả bằng đường bộ. Hai cánh thủy bộ sẽ hội quân ở cầu kênh Hội Đồng Sầm. Chiếc ghe bầu do Minh cầm lái ậm ạch nổ máy xé lục bình, hướng ra kênh xáng Trà Cú Thượng. Ngay cạnh bờ kênh, dưới vạt tre, một cái rạp được kết hoa đỏ rực, chuẩn bị đám cưới. Bấy giờ mưa đã ngớt. Giữa dòng kênh hoa lục bình nở tím ngát, xa xa rực vàng một màu bông điên điển. Ngồi cầm lái, Minh cao hứng đọc câu ca: “Canh chua điên điển cá linh/ Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon”. Tết này, mời mấy anh về nhậu cá lóc nướng trui. Tôi gật đầu. Dường như hơi thở mùa xuân đang rất cận kề.

Nguồn: Báo Văn Nghệ Xuân 2017.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm