TIN TỨC

Thái Tú Hạp, bên đồi lau xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-06 07:48:18
mail facebook google pos stwis
1845 lượt xem

HUỲNH VĂN HOA

Thái Tú Hạp, sinh tháng 4 năm 1940 tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1956 đến 1975, có thơ đăng trên các tạp chí Bách khoa, Văn học, Văn, Giữ thơm quê mẹ, Khởi hành, ...

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Tuyển tập Sông Thu (1962, in chung với ThànhTôn và Hoàng Quy)
  • Thèm về, Thơ, NXB Ngưỡng cửa, Đà Nẵng 1970
  • Chim Quyên Lạc Ngàn, Thơ 1982.

 

Thái Tú Hạp sinh ra và lớn lên tại Hội An, một thành phố như Hoàng Lộc mô tả: Phố thì nhỏ anh còn qua chưa hết / Lại hoài công đi bắt mộng bên trời ". Hội An đánh thức nơi tâm hồn Thái Tú Hạp nhiều cảm xúc thẩm mỹ. Những bang hội Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, những di tích lịch sử, tôn giáo như Chùa Cầu, Chùa Viên Giác, Chùa Âm Bổn, Chùa Long Tuyền, ít nhiều để lại dấu vết nơi thơ và đời Thái Tú Hạp.

Thái Tú Hạp viết không nhiều. Những bài thơ công bố trên các tạp chí, tuần san vào những năm 60, đầu 70 của thế kỷ XX đều là những bài thơ có dấu ấn. Thái Tú Hạp kể lại, do hoàn cảnh gia đình, thời mới lớn, ông gắn với những ngôi chùa cổ, lắng nghe những tiếng chuông ngân, điểm vào sớm chiều, nhìn những bông sứ trắng nở tịnh yên ở một góc sân chùa, mùi hương hoa ngọc lan thoang thoảng vào những đêm trăng hạ huyền, một thứ anh sáng khuất lấp từng mảng, dọi trên những cành cây bóng lá, tất cả, tất cả đã lắng lại nơi tâm hồn của thi sĩ những vần thơ đậm chất phương Đông. Hội An có nhiều chùa. Chùa của người Việt. Chùa của người Hoa. Khung cảnh trầm lắng của phố thị cổ và tiếng chuông chùa đồng vọng, lưu lại dư âm trầm  lắng nơi số bài thơ của Thái Tú Hạp.

Điều dễ thấy là, trong các bài thơ của Thái Tú Hạp ít thấy bóng dáng đậm nét về những thức nhận cô đơn, hoài nghi, về cái phi lý, hư vô, về cái tồn sinh của triết học đương thời. Dĩ nhiên, trong cầu trường của miền Nam, những tên tuổi của Tây phương như Heidegger, Camus, A, Gide, J.P. Sartre, ... không phải không có lúc chạm đến suy tư, cảm xúc nơi nhà thơ. Song, ở ông, vẫn là một cõi tịch nhiên, thanh thoát và an bình. Trong thơ và trong đời, dẫu có lúc những ba động của cuộc sống, tạo ra bao mảnh vỡ nơi tâm hồn, song, âm hưởng chính của thơ Thái Tú Hạp vẫn là  chút lòng dịu nhẹ với nhân thế, với thiên nhiên.

Trong thơ Thái Tú Hạp, điều dễ cảm nhận, đó là có những nỗi u uẩn, những khát vọng và hoài nhớ của phương Đông. Các bài thơ mang tâm trạng buồn xa quê hương, từ miền biên viễn, nhớ nhung về nơi quê nhà hoặc có khi đau xót khi nhìn về người xưa cảnh cũ. Có chút gì của chất biên tái từ những Lý Bạch, Sầm Tham, Vương Chí Hoán, Thôi Đồ, Vương Xương Linh, ... phảng phất nơi số bài thơ ngũ ngôn, lục bát của Thái Tú Hạp. Thoáng trong những câu thơ, ta dường như thấy có bóng cờ quằn quại nơi ải quan xa vắng, tiếng vó ngựa nhọc nhằn giữa những đêm khuya của đoàn xa mã cuốn bụi mờ thời Chiến quốc, văng vẳng nỗi sầu nhớ cố hương như trong Đường thi.

Trên tạp chí Bách khoa, số 128, ngày 1-5-1962, có đăng bài thơ lục bát Thèm về, 14 câu. Bài thơ được chọn đặt tên cho một tập thơ của Thái Tú Hạp, tập Thèm về, NXB Ngưỡng cửa, Đà Nẵng 1970. Đây cũng là một trong những bài thơ hay, được chọn đăng trong nhiều tuyển tập thơ ca. Bài thơ định hình tiếng nói nghệ thuật của Thái Tú Hạp. Người nghệ sĩ lữ hành Thái Tú Hạp đã: Nghỉ ngựa - Dừng cương Thèm về.

Không gian là cảnh đèo heo hút, vắng lặng, chùng sương. Thời gian là buổi chiều. Không gian đó - thời gian đó đã gợi nên bao niềm cảm xúc nơi thi nhân:

Đèo heo hút gió chùng sương

Trên cao nghỉ ngựa dừng cương thèm về

Chiều phong kín ngã sơn khê

Non  xa mây  phủ  trời  lê  thê  buồn

Câu thơ mở đầu được ngắt nhịp 3/3 làm tăng thêm cái hoang vắng, lạnh lẽo, cô đơn của cảnh và người: Đèo heo hút / gió chùng sương. Các hình ảnh: đèo / ngựa / chùng sương / sơn khê / non xa / mây phủ ... đều nhuốm buồn.

Xa kia, vài cánh nhạn lạc loài bay qua truông vắng, thả lơi điệu nhớ não nùng. Dưới lũng thấp, điêu tàn, gãy đổ, nghe tiếng ca thu vàng. Đàn sếu cô liêu bay về trong buổi tà dương, bóng những hàng cây già hắt hiu. Tiếng dã thú kêu lên trong rừng chiều. Gió núi mang hơi sương lạnh buốt, tịch liêu. Cảnh vắng lặng. Hồn cổ sơ.

Hai câu thơ cuối bài: Tóc sương rêu phủ bến chờ / Chiều nghiêng cánh gió hồn mơ đăng trình. Trong khung cảnh như thế, đăng trình chỉ là hồn mơ, là bến chờ. Mở đầu bài thơ là buổi chiều: "Chiều phong kín ngã sơn khê", kết thúc cũng là buổi chiều: "Chiều nghiêng cánh gió hồn mơ đăng trình", dễ gợi nhớ đến nỗi buồn chiều của Hồ DZếnh: Trên đường về nhớ đầy / Chiều chậm đưa chân ngày / Tiếng buồn vang trong mây ...

Một bài thơ khác, bài Về (Bách Khoa, số 137, ngày 15-09-1962), nằm trong cảm hứng trở về. Bốn lần Về đây, mỗi lần là một tâm trạng:

Về đây tìm mảnh trăng gầy...

Về đây chôn nỗi lo âu...

Về đây biết nói sao chừ...

Về đây còn hẹn ngày mai...

Mảnh trăng xưa đã gầy. Nỗi niềm riêng tư, lo âu, muốn chôn chặt. Chiếc lá theo thuyền, còn chút dư vang của mùa thu. Với ta, một trời hiu hắt. Về để tìm. Tìm gì ? Tìm mảnh trăng gầy, chân xiêu xiêu bước về nơi huyệt sầu, nghe câu hát cũ. Chỉ một chữ, chữ VỀ, hàm bao nhiêu nghĩa. "Về" để thấy nỗi buồn của sân ga, thấy trời hiu hắt, thấy ta sương mù, thấy mây sầu lũng thấp, hiu hiu thương nhớ:

Nửa đêm buồn lả thân ga
Một trời hiu hắt, một ta sương mù
Mây sầu lũng thấp âm u
Hiu hiu thương nhớ vàng thu âm hài

Trên Tuần báo Nghệ thuật, số 46, năm 1966, bài thơ Trong chiều mô tả tâm trạng ngậm ngùi, rã rời, như giọt sương biền biệt vùng trời, với dấu chân ngựa xuống chiều biên khu nhòa  và những hình ảnh:

-Bên kia tiếng hát ngậm ngùi

Khẳng khiu lời nhớ gầy xiêu bóng dài

Cõi gươm giáo ấy hẹn thề

Lần đi là chẳng hẹn về nước non

-Giọt sương biền biệt vũng trời

Ngàn sau mắt thẳm chim hời hoang vu

 

Vàng thu mấy cõi (Tuần báo Khởi hành, số 11, ngày 10-07-1969), bài thơ có ba phần. Phần 1, có 12 câu. Phần 2, có 10 câu. Phần 3, có 12 câu. Có điểm đáng chú ý là, giữa các phần, có sự tương liên giữa thế giới khách quan và thế giới chủ quan, giữa sông, bến, thuyền mây, trời thẳm, cây nghiêng, bờ lau với cô đơn, nhớ thương, tái tê cõi lòng, sỏi đá làm chia li buồn. Ở đó, mùa thu, nắng xẻ đôi sông, đìu hiu, im vắng đến mỏi mòn, đâu cũng nhớ thương, buồn lên từ sợi tơ chùng nhớ thương, thu nai vàng động góc rừng / canh khuya khoắt rụng giữa vừng đông sương / thu xa cánh hạc chia bầy / nghe trong nẻo trúc vương đầy mắt sông, ...

Một bài thơ lục bát khác, bài Trên vùng tưởng nhớ (Tuần báo Khởi hành, số 23, ngày 2-10-1969) với những hình ảnh sơn khê, rừng lá, màu quan san, mây chùng tơ sương, phố chợ, núi vọng chim sa, đỉnh tháp cao buồn, chiến trận tiêu điều, vàng rơi biên ải, bến sông sương mỏi và những cảm xúc nao nao tuổi buồn, lãng mộng u hoài,  lòng bơ vơ cõi lặng im, lửa bay đạn thắp, súng cũng nao nao tuổi buồn, lửa chiến trường, vùng hỏa châu, ... phản ánh không khí của chiến tranh, pha trộn nhiều cung bậc của tình cảm, dẫn đến hai câu kết:

Cho quên trời đổ cơn mê

Giòng thơ niệm tưởng hồn quê hương mình.

Bài Tình tứ (Tuần báo Khởi hành, số 101, ngày 22-4-1971) với hình ảnh  Em về từ cõi đông phương / Tóc mùa thu cũng trầm hương quê nhà với bờ mây, non xa, suối nguồn, mộng kiêu sa, chiều ca dao buồn, chỉ còn:

Chút tình xưa đã trôi sông

Chừ quên thương nhớ mùa đông hiên ngoài

Em về thắp nắng ngọn mai

Từng phơi áo lụa ngàn phai dấu tàn

Dòng sông đã xóa nỗi hàn

Trong nhau nghe đã ấm lòng yêu thương

Chỉ riêng bài lục bát Bên đồi lau xanh, 12 câu, hình ảnh mới mẻ, tân kỳ. Cách cấu trúc, từ ngữ, ngắt nhịp, gieo vần khác với số bài thơ lục bát khác. Ở đây, có sự đan quyện giữa niềm tiếc rẻ trôi đi của mùa, của nắng, của cây ngàn, tóc biếc, của rừng hoang bên đồi lau xanh với một thoáng phù vân, cõi hư vô, cát bụi, bóng dài, ...Bài thơ vừa có ý vị thiền vừa mang âm hưởng Lão Trang với hình ảnh con bướm trên cành, một phù ảo trong thiên cổ: 

mùa đi lá nhớ
cây ngàn
tình em như ngọn nắng vàng
cuối sân

đời buồn
một thoáng phù vân
từ trong thiên cổ
u trầm có nhau
nhớ thương tóc biếc mây sầu
rừng hoang nhớ gió
bên đồi lau xanh

em còn tiếc cụm hoa chanh
còn mơ con bướm trên cành

tương tư
bao giờ nghe ý
trùng tu
thân như giòng nước cõi hư vô này
mai sau
còn dấu chim bay
dưới sâu cát bụi
đổ dài bóng tôi

 

Bài thơ được nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ thành ca khúc cùng tên Bên đồi lau xanh. Đây là một bài thơ hay của Thái Tú Hạp.

Thái Tú Hạp cũng thành công trong thể thơ 5 chữ. Trên Tạp chí Bách khoa, số 137, ngày 15 - 09 - 1962, bài Biển chiều, viết theo thể ngũ ngôn. Những bài thơ về chiều trên biển thường chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc, khiến trái tim ta thổn thức, khôn nguôi. Mặt trời lặn xuống, biển trở nên mênh mông, sóng vỗ, phía xa kia, ánh sáng nhạt dần, cảnh ấy gợi cho ta những nỗi niềm man mác về bao chuyện đã qua, không thể nói lên thành lời: Biển chiều ôm điệu khóc / Dấu chân cát thưa dần / Buồn như lời hoang đảo / Bơ vơ từng cánh chim / Nét buồn xưa hiu hắt / Trời cúi hôn trùng dương / Cô liêu sầu cửa mắt / Bao  nhiêu là nhớ nhung

Tác giả tự ví mình là loài hải điểu cô đơn, bay bơ vơ trên trùng dương hiu hắt, mòn mỏi chờ mong, nhìn biển khóc với nỗi buồn biệt ly: Cau mặt hờn người đi / Chiều lên hàng dương liễu / Em mòn mỏi chờ mong / Sao anh loài hải điểu/ Cho em buồn tháng năm / Chừ ngồi coi biển khóc / Bài thơ nhòa trên cát / Buồn chao ôi, biệt ly.

Trên Tuần báo Khởi hành, số 44, ngày12-3-1970, có bài thơ viết theo thể ngũ ngôn, bài Trong núi. Đây là một bức tranh tâm trạng, gợi cảm nhận về sự chia xa, vắng lặng và quạnh quẽ của cảnh núi rừng: "Mai anh về trung châu", lặp lại có chủ đích đến 3 lần, rời rừng xanh, núi biếc, xa Mây tím nhòa bản Thượng / Điệu khèn xưa hoang vắng / Bản vắng chiều giăng mưa ...

Tổ chức hình ảnh thơ thiên về cái tĩnh mịch, có phần hiu quạnh, tạo thành quan hệ đối lập giữa cái bao la của núi rừng với tâm tư hoài nhớ, xa trung châu, xa rừng xanh núi biếc, bỏ ngàn hoa lá sầu / mây tím nhòa bản Thượng / điệu khèn xưa hoang vắng /chiều suối đổ rưng rưng:

Nhớ thương đầy âm hưởng

Trên đôi mắt em buồn ...

Không gian lữ thứ là không gian của Đường thi. Không gian đó tạo nên nỗi niềm cô độc, tâm trạng đất khách quê người, "mai về", về là xa trung châu, là "bỏ rừng xanh núi biếc", vương hoài những đám mây màu tím nhạt nhòa trôi trên những bản Thượng, là "nhớ thương" điệu khèn. Hành trang của người đi, mang theo, chỉ: "đôi mắt em buồn". Bài thơ bàng bạc sắc màu nhung nhớ, nhất là 4 câu thơ cuối:

Mùa thu về quê xưa

Lòng ngậm ngùi thương nhớ

Bản vắng chiều giăng mưa

Lệ ngàn năm trên đá ...

Lời gọi thầm loài chim (Tuần báo Khởi hành, số 108, ngày 10-6-1971) là bài thơ tình về mùa xuân. Bài thơ có 8 khổ, khổ nào cũng có hình ảnh mùa xuân. Đó là: Con đường xuân mưa bay / Ôi mùa xuân thương nhớ / Mùa xuân hoài không tới / Dù xuân đến bao lần / Từng mùa xuân qua đi / Xuân vui hát cho đời / Mắt xuân cũng u hoài / Mùa xuân có nghĩa gì. 

Mùa xuân có mưa bay, có bóng lá, có phố chợ, có bàn tay gầy vẫy đưa, có quê hương nghèo, bao năm rồi chiến chinh, dầu vậy, vẫn là mùa xuân thương nhớ, vui hát cho đời. Bài thơ trong trẻo, ngậm ngùi mà thương nhớ, phố chợ em về có mưa bay, có mắt nhìn buổi ấy, có lòng thêm buồn vời vợi. Bốn câu cuối xao xuyến lòng:

Mùa xuân có nghĩa gì

Cuộc tình này hỡi em

Dù mai thành tượng đá

Biết anh có về không ?

Vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, thời cuộc có nhiều biến động, kéo theo những tâm tư, tình cảm của nhiều văn nghệ sĩ. Khung trời cũ không còn bình yên. Chiến tranh trở nên khốc liệt. Tình người ly tán. Dấu vết này, thấy rõ trong thơ Thái Tú Hạp.

Bài thơ lục bát Nụ cười bao dung, viết vào 9/1965, đăng trên Giữ thơm quê mẹ, số 5 tháng 11 năm 1965, với 20 lần XIN. Tiếng cầu xin chân thành, pha lẫn những cảm xúc vừa bi thương, từ bi lại vừa ngậm ngùi, bao dung.    

Hình ảnh lời xin như sợi chỉ đỏ xuyên suốt hình tượng bài thơ, cảm động, thiết tha. Ở đó, ta nhận ra "xin thôi nẻo chiến trường" thì sẽ nghe tiếng ru con, sẽ thấy chim về ngợp nắng ruộng đồng, sẽ thấy mây mùa thu bồng bềnh bay trên cao, sẽ nghe lời hát ngọt ngào, đón nụ chào bao dung, sẽ có bàn tay làm nhịp cầu kinh, qua bom đạn, qua điêu tàn, qua lọc lừa, thanh tịnh giữa đời phi nghĩa này. Tác giả chân thành xin ngày, xin chuông chùa, xin mắt mẹ từ bi, xin tiếng ngậm ngùi ru con, xin mây thu bềnh bồng trên cao, xin lời hát ngọt ngào, xin nụ chào bao dung, ... để từ đó, xóa điêu tàn dấu xưa, hết những lọc lừa, xóa miền chiến trận, chỉ còn thanh tịnh.

Cũng trên tạp chí Giữ thơm quê mẹ, số 7 và 8 ngày 1 tháng 1 năm 1966 (Xuân Bính Ngọ), một bài thơ viết tại Hội An, bài Lời buồn treo cao, cũng 20 câu với lời CHO, cho đời, cho mình, cho quê hương. Nhà thơ mong mỏi cho đêm qua đi và bừng đóa mặt trời, cho thân thể mẹ hết đớn đau, em sẽ cho đời tiếng hát ngọt ngào, mùa xuân có chim, có bướm, có hoa, kinh kệ sẽ xóa oán thù, đôi bờ quê hương sẽ tàn binh lửa, cho sông biển ngọt tuổi đời, cho em thôi giọng ngậm ngùi, cho mây sẽ hôn lên ánh mắt chiều, cho khói cơm chiều quyện trên những mái tranh nghèo, đón thực thà vào tim, tha thứ hết mọi lỗi lầm, oan ức trôi đi, chỉ còn tiếng chuông và lời kinh vọng:

cho tàn binh lửa đôi bờ

cho cành dương nước cam lồ vô biên

cho tiêu tan chuyện ưu phiền

cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi...

 Sự chuyển đổi cách nhìn, cách thụ cảm cuộc sống khiến cho thơ Thái Tú Hạp mang âm hưởng mới, cũng lục bát đấy, song, tâm tình hơn, chân thật hơn, tha thiết hơn. Tâm trạng, nỗi niềm được gửi vào những vần thơ bàng bạc sắc màu của nhịp kinh cầu (xin tay làm nhịp kinh cầu), mang yếu tố tôn giáo.

Trên Tạp chí Văn, số 58, ngày 15 - 5 - 1966, Thái Tú Hạp có bài Một ngày Việt Nam mai sau, dài đến 45 câu, bày tỏ niềm ước mơ về một quê hương Việt Nam thanh bình, khi ấy: vũ khí chỉ còn là củi khô / thép đem nung trong lò để thành lưỡi cuốc lưỡi cày / viên đạn đã bốc khỏi vỏ để thành bình hoa trong phòng khách / giao thông hào biến thành con kinh đem nước mát cho ruộng đồng / ngọn hỏa châu thắp sáng như ngân hà cho đêm mở hội hoa đăng / con tầu chở niềm vui sum vầy về cho quê hương nghìn trùng xa cách /  đêm không còn lo âu / ngày hết rồi niềm đau xót / những mắt căm  hờn quên lãng chuyện đau thương / mẹ sẽ hát cho ta ta lời thơ nguyên thủy / nghe ngọt ngào từng âm điệu quê hương/ anh sẽ cho em cuộc tình vĩnh cửu / có dòng sông có hoa bướm cuộc đời /chúng mình sẽ cho nhau những tháng ngày gần gũi / mái tranh quê chan chứa mộng bình an / bạn bè sẽ đến với nhau đông vui như ngày xưa lớp học / hương cốm thơm như hơi thở đậm đà / với lòng trinh như cành huệ cành mai / dịu dàng như khói trầm nghi ngút / tình theo mây dâng trắng đỉnh non cao / tiếng hát ca dao nhân ái vô cùng / và nụ cười ròn rã nhạc yêu thương / lời không còn mang độc dược / tay không còn thủ khí giới sau lưng / tóc sẽ là rừng xanh...

Bài thơ tràn ngập những hình ảnh thơ mộng, đẹp như đàn chim rủ nhau về giăng cánh, lòng trải bao la như cánh đồng lúa mọng, gạo trắng chày khuya, đêm trăng vàng, cuộc tình nghèo, triều nước sông Cửu sông Hương, giải Trường Sơn hùng vĩ, bờ xa tiếng hát thùy dương, vết chém của hận thù qua rồi, bước chân trở về còn nguyên rượu ngọt, thân thể toàn vẹn, đóa hoa hồng nở trong lòng chiếc nón sắt được vất trên bờ sông thức tỉnh, ...

Một thế giới trập trùng những tiếng hát, lời ca, chan chứa mộng bình an, không còn thủ khí giới sau lưng:

Hoa nở dọc hàng rào kẽm gai chiến lũy điêu tàn đổ nát

Mặt trời phương đông êm ái ngủ yên cành trúc cành tre

Để nghe lời Việt Nam ngàn năm thực thà kể chuyện.

Giữa những năm 60 của thế kỷ XX, chiến tranh bắt đầu lan rộng trên quê hương Việt, cảnh tượng đau thương:

Trên bãi tha ma trên khắp công trường

Trong lòng người nham hiểm

Trong lòng người đen tối

Trong lòng người giả dối lưu manh

Toàn bộ nội dung của bài thơ Một ngày cho Việt Nam mai sau thể hiện niềm khát khao, ước vọng chân thành của tác giả về con tầu chở niềm vui sum vầy về cho quê hương nghìn trùng xa cách.

Tạp chí Văn, số 109, ngày 16-7-1968, có bài Niềm tin có thực, viết theo thể tự do, thể hiện một mơ ước, một khát vọng, một niềm tin của nhà thơ về  quê hương Việt Nam, nơi ấy:

một giòng sông nước trong hơn nước mắt để soi bóng mình những chiều thu êm ả

dành cho em ngọn núi cao để em tự do ca hát với thiên thần hát với chim muông

giữ cho em một ngôi vườn đủ loài hoa thơm ngát để mỗi bình minh em hái đóa mỹ miều em đùa vui bươm bướm

cho em đẹp như nàng công chúa thức dậy giữa rừng mơ, đợi chờ người lính đi xa sắp về khi tàn chinh chiến

việt nam ta ở đó, nơi những tình thương mọc cánh bay lên

tâm hồn ta nhân ái xin nguôi phai những thù hận qua rồi

những bông hoa việt nam yêu quí nở ngợp trên mảnh đất quê hương này  ...

 

Thơ Thái Tú Hạp gắn với truyền thống, dựng lên thi giới gần với phương đông. Tuy vậy, đằng sau câu chữ, vẫn thấy những bão táp của thời cuộc, những rạn vỡ của tuổi trẻ, song, cái chung vẫn là vẻ đẹp giản dị của một tâm hồn. 

Thái Tú Hạp là giọng riêng của thơ xứ Quảng giai đoạn 1954-1975, một bè trầm, cung bậc nhẹ, sâu lắng, man mác như khung trời phố Hội vào thu.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm