TIN TỨC

Thơ để đọc và thơ để nghe – Tiểu luận của Anh Ngọc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
301 lượt xem

ANH NGỌC

Một bài thơ hay là một thực thể – có thể là bằng văn bản nằm ngay trước mắt, có thể là được đọc hay ngâm vang lên bên tai, thậm chí, với cách hiểu của tôi, tôi luôn cho rằng thơ là một thể loại văn học gần nhất với nghệ thuật, mà ở đây là âm nhạc. Thơ luôn vang lên trong ta, dù ta đọc hay xem nó trong im lặng hoàn toàn. Vâng, và tôi đảm bảo là cũng một câu thơ thôi, nhưng người Hà Nội cảm nhận nó theo âm hưởng tiếng miền Bắc, còn người Huế chẳng hạn, sẽ cảm nhận nó bằng âm hưởng tiếng Huế, các bạn cứ cố hình dung mà xem…

Tôi có một từng trải lý thú: Đã đi nói chuyện thơ cho nhiều đối tượng người nghe khác nhau, nhưng mấy lần tôi nói cho các bạn trong Hội người mù nghe là xúc động nhất, và có lẽ thành công nhất. Vì đơn giản các bạn ấy không bị phân tán bởi cái nhìn của mắt, mà chỉ toàn tâm toàn ý tập trung vào cái tai nghe… Họ ngồi nghe chăm chú và say sưa!

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Tôi không phải là một người quá cực đoan, nên về điều này tôi cho rằng:

1.Thơ là ngôn ngữ, nên dĩ nhiên phần quan trọng của nó là nó mang thông điệp trong từng từ ngữ. Và điều này rất đúng khi ta đọc thơ bằng văn bản và chỉ bằng văn bản mà thôi. Ta sẽ cảm nhận cái hay của thơ từ những từ ngữ cụ thể và có thể nhận ra từ ngữ dùng như thế trong trường hợp đó thì hay ở đâu… ta có thể sửa và đưa ra những phương án khác v.v…Ví dụ thú vị cho điều này có lẽ là câu chuyện về hai từ “thôi, xao” (“đẩy, gõ”) thời Đường.

Chuyện kể rằng thời nhà Đường bên Trung Hoa có nhà thơ Giả Đảo, vốn là một vị hòa thượng, và ông này làm thơ kỹ lưỡng đến mức trong một bài thơ của ông có câu “nhà sư… cửa dưới trăng”, ở chỗ bỏ trống này là do Giả Đảo vô cùng phân vân không biết nên dùng từ “gõ” (cửa) hay “đẩy” (cửa)… đến nỗi ông mải nghĩ không để ý nên cứ đứng chắn giữa đường của một đoàn quân đang hành quân, lính tráng thấy một người như điên, đứng huơ chân múa tay đang làm động tác gì đó cản bước đoàn quân nên liền gô cổ ông lại và dẫn đến vị chỉ huy, may sao ông quan chỉ huy ấy lại là nhà thơ Hàn Dũ lừng danh, và khi nghe Giả Đảo tường trình vụ việc liền vui vẻ góp ý cho nhà thơ này là nên dùng chữ “xao” cho câu thơ trên. Vì “xao” vừa tượng hình tượng thanh hơn “thôi”, lại vừa hợp lý hơn vì đến nhà thăm bạn thì phải “gõ” cửa chớ sao lại “đẩy” cửa cho được! Vì cái duyên chữ nghĩa này mà mấy lần Hàn Dũ đã giới thiệu và khuyến khích Giả Đảo hoàn tục để tiếp tục lai kinh ứng thí.

Nói như thế để thấy từ ngữ trong thơ có thể mang nghĩa và việc tìm nghĩa cho nó để nó có tính biểu cảm là kỳ khu và dụng công vô cùng, không ai có thể coi thường mà ném ra những từ ngữ miễn là nó có nghĩa hợp lý.

Nhưng ví dụ chính xác nhất cho thứ thơ chỉ tận dụng phần ngữ nghĩa của từ ngữ chính là các loại thơ hiện đại hiện nay. Các bạn sẽ thấy thơ của các nhà thơ hiện đại (hậu hiện đại thì đúng hơn) là một thứ ngôn ngữ dùng hình ảnh (nhiều khi rất tinh tế) để chở các ý tưởng (nhiều khi rất sâu sắc và có tính khám phá)… nhưng họ gần như không dùng đến phần phi ngữ nghĩa của các từ ngữ (chẳng hạn những từ phụ, từ hư, từ đệm, hô ngữ…) và đặc biệt là không cần sự hỗ trợ của nhạc tính, sự lay động của những yếu tố vô nghĩa, phi lý tính trong ngôn ngữ…

Loại thơ này thực sự có những giá trị cao quý và được một số người tâm đắc. Trường thơ rộng bát ngát, cũng như mâm cơm có nhiều món, đủ đáp ứng mọi thứ khẩu vị. Ta không nên và không thể bắt mọi người không được thích và chọn ăn thứ đặc sản của họ.

2. Nhưng theo thiển ý của tôi, thơ là gồm cả phần ngữ nghĩa như đã nói trên đây và không thể thiếu phần phi ngữ nghĩa. Tôi cũng chưa cực đoan đến mức coi thơ như âm nhạc, chẳng hạn, ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tuyệt vời như vậy, nhưng nếu nó chỉ được tồn tại bằng văn bản, như là tác phẩm văn học, thì, lạy Chúa, nó chỉ còn lại 49% giá trị không hơn…

Hình vẽ Giả Đảo, nhà thơ Trung Quốc thời Trung Đường, người nổi tiếng về sự cẩn trọng trong việc dùng chữ cho thơ.

Nhưng thơ là một loại “động vật lưỡng thê”, có hai đời sống. Những bài thơ hay nhất từ thuở thơ Đường cách nay hơn ngàn năm đến nay vẫn khiến chúng ta xúc động vô cùng… nhưng nếu đưa cho các bạn yêu thơ duy lý (nhất là ở phương Tây) thì họ không công nhận đâu. Nhưng những câu thơ trong “Thanh minh” của Đỗ Mục – trong nguyên bản đã hay, và vẫn hay trong bản dịch Việt ngữ:

“Thanh minh lất phất mưa phùn
Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa
Hỏi thăm quán rượu đâu là
Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài”

Không có một tư tưởng nào, một triết lý nào, và cả các thủ pháp tu từ cũng không nốt… mà những ai đồng cảnh ngộ như nhân vật của thơ cứ nhớ đến hình ảnh trong đó là đồng cảm dễ sợ…

Hoặc một bài như “Lương Châu từ” tả cảnh một đồn biên ải heo hút tận trên đỉnh núi chơ vơ ở chót biên cương phía Tây của Trung Quốc ngày xưa… cái “nhất phiến cô thành vạn nhận san” ấy và câu thơ kỳ lạ: “Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan”…đã khiến bao đời nay hễ ai nhớ đến hình ảnh ấy cũng buồn thấm buồn thía…

Và đó là thơ hay. Vì nó khiến ta xúc động và có thể không hiểu, không cần phải cắt nghĩa vì sao…

Trở lại với cái phi ngữ nghĩa và sự lay động của nhạc tính, tôi xin kể một kỷ niệm:

Trong lần được dự một cuộc hội thảo trên biển, tôi may mắn cùng dịch giả, nhà văn Thái Bá Tân và cố nhà thơ Phạm Hổ cùng hơn 300 nhà thơ đến từ nhiều đất nước châu Âu và cả Mỹ, lênh đênh trên con tàu lớn của Hy Lạp, đi từ Địa Trung Hải, vào biển Êgiê, băng qua Hắc Hải… đến với các hải cảng của mấy nước nằm quanh Hắc Hải như Ođetxa của Ukraina, Kônxtanta của Rumani, Varna của Bungari, Istanbul và Izmia của Thổ Nhĩ Kỳ… và 9 đêm lênh đênh trên biển là 9 cuộc hội thảo về thơ bất tận.

Lần ấy, do trình độ tiếng Anh còn hạn chế, tôi chỉ làm được vài việc nhỏ, trong đó tôi muốn truyền đạt đến các đồng nghiệp Âu – Mỹ cái hay của thơ lục bát Việt Nam. Và tôi đã chọn bài thơ “Ngậm ngùi”, một kiệt tác của nhà thơ Huy Cận để minh họa cho ý mình. Thoạt đầu, tôi đọc diễn cảm bài thơ, đoạn, tôi ngâm theo thể ru con và cuối cùng hát. Bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy phổ bài thơ này… Và điều tôi muốn chuyển tải đến cho các bạn đồng nghiệp quốc tế là vẻ đẹp của tiếng Việt và đặc thù của thể thơ truyền thống thuần túy Việt Nam và đậm chất phương Đông. Có vẻ như các bạn quốc tế thích thú vì âm hưởng phong phú của tiếng Việt “nói thì như ngâm thơ, ngâm thơ thì như hát…” nên có mấy bạn nhà thơ nữ (Ba Lan thì phải) còn thích thú xin phép tôi ghi âm lại và… phát trên đài phát thanh của họ… Chẳng biết rồi họ có làm thế không, nhưng sự lay động của thơ Việt ở đây đã chứng minh cho điều tôi nói ở trên về sức truyền cảm nằm ngoài ngữ nghĩa của thơ, vì đơn giản tôi không có bản dịch bài thơ này ra tiếng Anh và dĩ nhiên mọi người không biết đích xác nội dung nó nói cái gì…

Thơ để đọc và thơ để nghe giống và khác nhau là như thế đấy.

Nguồn: https://vanvn.vn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Quanh một bài thơ đoạt giải gây tranh cãi
Chùm thơ, 3 bài, đã giúp tác giả người Thái Tòng Văn Hân, giành giải B trong cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ 2019-2020. Nhưng chính ban giám khảo và người được giải cũng không thể ngờ, một trong ba bài thơ đó lại gây tranh cãi nảy lửa trong dư luận. Đó là bài “Mẹ tôi chửi kẻ trộm”.
Xem thêm
Bùi Phan Thảo: “Khi đời mình cũng cheo leo đồi dốc”
Giờ đây, quê hương Quảng Trị, đã có nhiều tiếng nói thi ca mới, trẻ trung, hiện đại, đa chiều, thế sự… vừa là kế tục truyền thống, mang hơi thở, nhịp điệu cuộc sống mới hôm nay, tiêu biểu chính là Bùi Phan Thảo, thơ anh đang tạo nhiều âm vang và dư ba trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc…
Xem thêm
Sự phục sinh tiếng cười trong văn chương đương đại
Trong tiểu luận Bắt đầu cất lên tiếng cười, nhà văn Hồ Anh Thái nêu tình trạng thiếu/ít tiếng cười trong xã hội và trong văn chương. Theo ông: “Trong văn chương (một thời) không có chỗ cho sự hài hước. Hài hước giễu cợt đồng nghĩa với phê phán chê trách.(…) Chê trách chỉ chứng tỏ sự thiếu thiện chí, sự phá ngang, thậm chí là ác ý và phản lại sự vận động theo quy luật.” Điều đó có nghĩa, trong sáng tạo và tiếp nhận văn chương nghệ thuật vẫn có những agélaste, tức những người không biết đùa. Là nhà văn luôn suy ngẫm về cái sự cười, cũng trong tiểu luận nói trên, Hồ Anh Thái viết: “Hài hước cũng phải học, học để thưởng thức được cái hài.”
Xem thêm
Vài suy nghĩ nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám
Giành Độc lập cho Dân tộc là chân lý vĩnh hằng, là khát vọng cháy bỏng của mọi dân tộc cũng như mọi người dân bị thuộc địa áp bức. Lịch sử hàng ngàn năm của Dân tộc ta và của cả thế giới đã minh chứng điều đó!
Xem thêm
Văn minh đô thị ở Đài Loan
Đã từng đặt chân đến một số nước châu Á, châu Âu,
Xem thêm
Sài Gòn thương
Chương trình VHNT của VTV về chủ đề hướng về TP. Hồ Chí Minh
Xem thêm
Huyền tích Lữ Minh Châu
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Sự ra đời và phát triển Khu chế xuất đầu tiên tại Việt Nam có sự đóng góp to lớn của Huyền tích “buôn tiền” Lữ Minh Châu.
Xem thêm
Nhớ Bùi Giáng
Nói về hiện tượng Trung niên thi sỹ Bùi Giáng, nếu nhìn nhiều góc độ khác nhau, sẻ Bùi Giáng ra làm trăm mảnh, bóc thi sỹ ra hàng ngàn lớp võ, để thấy cái cốt lõi một Bùi Giáng tung hứng rong chơi đạt đến cảnh giới vô phân biết tướng.
Xem thêm
Trả lại giá trị đích thực của giải thưởng
Mấy năm gần đây, có những cuộc thi hay các đợt xét giải thưởng luôn bị dư luận chê bai ồn ào trên các phương tiện truyền thông chính thống hay mạng xã hội.
Xem thêm
Chủ tịch Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh: Phẩm hạnh của người cầm bút
Nhà văn Bích Ngân Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố chia sẻ với Thời Nay.
Xem thêm
Vẫn là nỗi buồn của chiến tranh | Huỳnh Văn Hoa
Remember the day I borrowed your brand new car and dented it?
Xem thêm
Tìm những giá trị thiết yếu cho người Việt Nam ngày nay?
VXH- Đây là ý kiến tôi đã phát biểu khi được mời dự một cuộc họp phía Nam, góp ý bổ sung cho đề tài nghiên cứu cấp quốc gia về con người.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Sách chứa đựng vẻ đẹp của văn hóa
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng việc Venezuela tổ chức Hội chợ Sách quốc tế đã chứng minh không thế lực nào có thể dập tắt được tri thức và cái đẹp.
Xem thêm
Những nhà văn bị bỏ lại…
Bài đăng Văn nghệ số 42/2021
Xem thêm
Giữ gìn bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa trong cuộc vận động xây dựng nông thôn mới
Cùng với quá trình xây dựng nền Công nghiệp hiện đại, việc xây dựng nông thôn mới trên quy mô toàn quốc đã có những thành công lớn.
Xem thêm
Nhiệm vụ của phê bình văn học là thuyết phục trái tim người đọc
Cuộc đối thoại giữa nhà nghiên cứu văn học Đào Tuấn Ảnh và nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam xung quanh những vấn đề thời sự của đời sống văn học hiện nay.
Xem thêm
Văn học Việt Nam và sự xác lập những giá trị văn hóa Việt mới
“Càng ngày hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên thế giới lại càng có ảnh hưởng lớn. Một trong sự đóng góp vào việc quảng bá hình ảnh Việt Nam trên thế giới là văn học. Các nhà văn trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước đã hoàn thành sứ mệnh xuất sắc của một nhà văn. Tác phẩm của các nhà văn viết về hai cuộc kháng chiến vĩ đại ấy đã thay đổi cách nhìn của thế giới về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam một cách ngoạn mục. Phát huy thành tựu này, các nhà văn Việt Nam đương đại tiếp tục có những sáng tạo hiện đại đậm bản sắc dân tộc và đa dạng. Hội Nhà văn nhận thấy, việc quảng bá các tác phẩm văn học Việt Nam ra thế giới là một công việc không thể chậm trễ hơn”.
Xem thêm