TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • ‘Thức bước thời gian’ –  Những suy tư, trăn trở của người đàn bà thơ Bùi Kim Anh

‘Thức bước thời gian’ –  Những suy tư, trăn trở của người đàn bà thơ Bùi Kim Anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-16 00:14:53
mail facebook google pos stwis
2926 lượt xem

 

Nguyễn Văn Hòa

 “Thức bước thời gian” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022) là thơ thứ 12 trong hành trình sáng tạo của thi sĩ Bùi Kim Anh. Có thể xem đây là tập sách thể hiện rõ nét nhất những suy tư, trăn trở, đau đáu về đời và người, với bao thăng – trầm, buồn – vui, được – mất mà nhà thơ đã nếm trải.


Tập thơ “Thức bước thời gian” của nhà thơ Bùi Kim Anh.

120 bài thơ trong Thức bước thời gian bộc lộ nhiều cung bậc sắc thái, nỗi niềm của một người đàn bà thơ sống đến tận cùng của mọi cảm xúc, tâm trạng. Và dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào Bùi Kim Anh cũng sống thành thật, luôn tự vấn lương tâm để tìm cho mình lẽ sống đúng đắn nhất.

Yếu tố thời gian trở thành mạch ngầm xuyên suốt trong cả tập sách. Có lẽ vì thế mà nhà thơ đã chọn nhan đề cho thi tập là Thức bước thời gian. Ngay nhan đề đã tạo nên sự chú ý đến người đọc, bởi ở đó dường như có điều gì giăng mắc, nuối tiếc, xót xa và trắc ẩn. Bài thơ mở đầu tập sách cũng đã trực tiếp đề cập đến bước đi và những ám ảnh của thời gian: không viết cho mùa thu nữa/ ánh hoàng hôn mùa đông tím lịm/ những ngày tháng mùa đông sương mờ// bài ca ánh mặt trời mang bốn mùa đi xa/ ta còn mơ mộng mãi/ những lời thơ viển vông// những câu chuyện theo con nước dòng sông/ cứ quẩn vào rong rêu củi rác/ ta mặc lòng mà miên man thời gian (Ánh hoàng hôn mùa đông).

Nhà thơ luôn có sự ám ảnh về bước đi của thời gian, bởi thời gian của cuộc đời là hữu hạn mà thời gian của vũ trụ – tạo hóa lại vô biên. Và ở cõi trần tục này, con người phải gánh vác trên vai nhiều trọng trách và cả bao nỗi lo toan để tồn tại với đời. tôi chạy vội/ người trên đường chạy vội/ mưa nhanh hơn bước chạy// Hà Nội mùa thay lá/ tôi dẫm lên mưa lá// gió tạt chao quang gánh/ người đàn bà nghiêng theo rau/ rớt xuống lòng đường// tôi chạy vội/ bỏ lại đằng sau cơn dông (Ghi theo mưa). Chỉ những dòng thơ ngắn nhưng đã lột tả và gợi cho người đọc bao suy tưởng về cuộc đời, con người trong hành trình sống, mưu sinh trước bao biến thiên nghiệt ngã.

Đời người qua đi nhanh và ngắn ngủi thế ư? Con người phải làm thế nào trước sự tàn bạo và khắc nghiệt của thời gian? Bao nhiêu câu hỏi cứ ám vào tâm khảm của chủ thể trữ tình… Và rồi, người thi sĩ ấy phải lần lượt tìm cách “hóa giải”. Khảo sát trong 120 bài thơ trong tập sách này thì có đến hơn 1.500 lần nhà thơ nhắc đến thời gian. Sự nhắc đi nhắc lại với tần số dày đặc như thế lại càng làm tăng thêm sự thảng thốt của chủ thể trữ tình. Đâu đó là những tổn thương, mất mát, nuối tiếc, bởi những cơ hội qua đi sẽ không bao giờ trở lại, những việc không hay đã xảy ra sẽ tạo nên vết thương khó có thể chữa lành theo năm tháng… Bùi Kim Anh có cái nhìn nhất quán, xuyên suốt về ý nghĩa, giá trị và bước đi của thời gian bằng sự khẳng định: “Đừng hẹn nữa ngày mai”. Bởi nhà thơ có những luận lý khá rõ: một ngày đã qua và một ngày không trở lại/ mặc con người cứ ghi và cứ tính/ mặc đồng hồ quay hai mươi tư tiếng/ tóc thời gian trắng lại nhuộm màu/ một ngày thôi cũng là quá muộn/ mây thiên di cảm xúc cũng rời đi/ lẳng lặng thời gian dòng đời biến động/ chớ để ngày mai/ đừng hẹn nữa ngày mai. Do đó, nhà thơ Bùi Kim Anh có đề xuất: nếu có thể thương nhau hôm nay/ không gặp nữa khóc cười chốc lát/ bao nhiêu là cỏ mọc/ quanh ta hoa nở hoa tàn/ vẹn nguyên không gian trời đất/ vẹn nguyên vòng quay thời gian/ lòng người liệu có vẹn nguyên/ giật mình ngoái lại// xin đừng hỏi/ thời gian đặt ở đâu/ ta là ai/ xin đừng hỏi/ cùng sống hết lòng hôm nay đã.

Thơ Bùi Kim Anh trùng điệp những từ ngữ thể hiện cảm xúc. Chính điều này làm cho lời thơ trở nên da diết và ấn tượng hơn đối với người tiếp nhận. Những khía cạnh của tâm hồn được phời bày, thổ lộ theo dòng chảy của cảm xúc.

lạnh rồi đấy/ Hà Nội vào đông yên ắng lạ/ chỉ những hàng cây xao xác không đâu// ngày muộn rồi muốn hẹn thơ lúc đêm sâu/ khoác vai trên phố vắng/ lời yêu đương có hòa âm gió lạnh/ có một Hà Nội năm tháng bền lâu/ thơ thẩn tuổi thơ lang thang trắng mái đầu// ta nhớ mẹ gầy như phố nhỏ/ hàng cây bên đường lá non tơ/ bạn ôm cặp chờ ta đi học/ hai bím tóc dài thương nhớ/ nơi đâu// đừng cười ta/ người đàn bà làm thơ bao tuổi vẫn dại khờ/ cứ luẩn quẩn thu sang đông tới/ cứ giá như để rồi không thể/ trắng bợt mái đầu thơ vẫn xanh xao (Hà Nội ơi đêm lạnh).


Nhà thơ Bùi Kim Anh.

Cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Kim Anh được đặt trong mối quan hệ đa dạng của cuộc sống để cắt nghĩa, lý giải những vấn đề liên quan đến đời sống con người thời hiện đại. Ở đó có những mặt tích cực, tiêu cực và cả những điều làm cho tác giả cảm thấy nhức nhối, bất an.

Đại dịch Covid bùng phát, nhất là những tháng ngày Hà Nội có những ca nhiễm đầu tiên rồi trở thành tâm dịch, số ca lây nhiễm trong cộng đồng ngày một gia tăng đã gây nên tâm lý hoang mang cho cả cộng đồng. Hàng loạt các chỉ thị, công văn từ các cấp, các ngành về công tác phòng chống dịch ra đời; phố xá trở nên vắng lặng khác thường. Bùi Kim Anh cũng có chùm thơ viết trong thời đoạn đặc biệt này và có nhiều bài đọc lên cảm giác nỗi đau buồn len lên đến từng sợi tóc, bao trùm cả thời gian và không gian (những bài thơ như: Phiếu đi chợ, Phố giãn cách, Sau một đêm… là những bài thơ ám ảnh về thời đại dịch ). Hà Nội thức sau một đêm / Tinh mơ nháo chợ nháo siêu thị/ chẳng cẩn thịt sạch rau sạch/ chẳng hỏi của ta của đâu/ nhanh tay/ nhanh tay/ chỉ một đêm/ chỉ một sáng/ đổi thay phố xá/ con người tha vi rút cùng du lịch/ vi rút bám vào sinh sôi/ lời chửi rủa/ lời thóa mạ/ lâu không dùng râm ran// tà áo dài tháng Ba bay trên trang facebook/ những người đàn bà lo chợ ngày dịch bệnh không quên làm đẹp/ tháng Ba vẫn còn đó sắc xuân.

Ngày tháy Bảy nghĩ viễn vông cũng là bài thơ gợi nhiều suy ngẫm về tình cảnh những ngày thành phố thực hiện giãn cách xã hội và nỗi niềm của người đàn bà thơ Bùi Kim Anh: công viên khóa lâu rồi/ không tỉa tót cỏ xanh màu cỏ dại/ người đi bộ ngóng mỏi/ người chạy quanh hồ sớm nay cũng không// góc phố chợ mua bán cỏn con/ một hai hàng liệu mai còn bán/ thơ ơi sao đi không đợi/ câu chữ nhiều rồi tình cũng không// đã gần bao giờ mà cách ly/ thơ nhiễm dịch đâu mà nghi ngại/ thì cứ tự mình cảnh giới/ tự mình giãn cách thêm ra.

Khi đã đi qua những va vấp, hiểu được ý nghĩa của cuộc đời, nhận thức được sâu sắc thế sự nhân sinh, Bùi Kim Anh nghiệm ra: lẽ đời chẳng như câu kinh/ đọc làm sao trọn thì mình bảo ta// cõi người gần cõi Phật xa/ nổi trôi kiếp phận đâu là thanh cao (Vấp lời nhân gian). Vâng, nếu lẽ đời giống hệt câu kinh thì có lẽ cuộc đời này sẽ buồn ít, vui nhiều; người với người sống với nhau tử tế lắm và như thế thì xã hội sẽ bình yên, đáng sống, đáng yêu biết nhường nào! Nhưng đó chỉ là trong những câu kinh!

Cuộc sống thời hiện đại với bao nhiêu làn sóng mới dội vào và có những tác động không nhỏ đến mọi mặt đời sống xã hội. Vì thế, để nhìn nhận, đánh giá con người phải dựa trên hệ quy chiếu mới. Tâm thế đối thoại, các chuẩn mực, thước đo được tư duy trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Cái tôi đời tư được quan tâm và đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. với không tới được đám mây/ ta đi nói chuyện với cây trên đường/ trời mù sương lá đẫm hương/ hạt nào rơi ướt lời vương nỗi người// giời mưa đội nón đi chơi/ có ai bảo mụ dở hơi cũng ừ/ câu thơ viết lúc canh tư/ sáng ra đọc lại nhiều từ gõ sai// viết cho mình tháng ngày dài/ lời khen lắt vắt ngỡ tài hóa ngu/ ta như một chiếc đèn cù/ xoay một chỗ đến mỏi dừ nguồn cơn (Giời mưa đội nón đi chơi).

Vốn là người đàn bà nhạy cảm nên trước hiện thực cuộc sống vốn đa diện đa chiều, tồn tại nhiều vấn đề bất cập đã làm cho Bùi Kim Anh cảm thấy xót xa, day dứt. Bằng sự từng trải, cộng với vốn sống, vốn hiểu biết của bản thân, nhà thơ đã có cái nhìn đầy chiêm nghiệm – triết lý khá sâu sắc về cuộc đời.

Từ những suy nghĩ, hành động, việc làm của chính mình, Bùi Kim Anh lại mượn thơ để giải tỏa nỗi niềm trắc ẩn với lời tự thú rất chân thành. Hơn ai hết chính chị đã biết thơ mình ở mức độ nào và chị nương tựa vào thơ chỉ với mục đích duy nhất là để ký gửi nỗi niềm của mình vào đó, chứ không với ý định trở thành nhà thơ “hot”, có tiếng tăm…  biết mua gì cho mình đây/ tiền không nhiều để vung tay quá trời/ xoàng xỉnh xếp chật tủ rồi/ xa xỉ thì đắt, túi vơi cạn nguồn// thơ mình dở dở ương ương/ đã không “hot” lại nhiều buồn ai mua// ta về thêm nét già nua/ bỏ vu vơ chốn dư thừa phấn son// dạo phố đồng tiền cỏn con/ đồng tiền đã bạc thơ còn hóa vôi (Dạo phố đồng tiền cỏn con).

Thơ Bùi Kim Anh càng lúc càng điềm tĩnh, càng lúc càng trầm tư hướng vào cuộc sống đời thường để giãi bày, tự vấn, tự thoại nhằm khẳng định cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân ấy với tinh thần trách nhiệm và thái độ sống “vô tư” khi đã hiểu rõ tường tận chân giá trị của cuộc đời này.

mỗi ngày quanh ta bao đổi thay/ cái tốt và cái xấu không lặp lại/ trái đất mỗi ngày nóng lên và thêm tai họa/ chẳng làm được gì đâu ngoài tầm tay với/ mùa thời gian tiếp nối và không bao giờ lặp lại…/ ta sẽ ôm nhau òa khóc hay òa cười/ ta sẽ nói nhau những lời mát mẻ hay những lời tử tế/ có thể như thế chất thêm bực dọc hay giải tỏa ấm ức/ chỉ biết không có gì lặp lại dù ta cố diễn lại từ đầu… (Không bao giờ lặp lại).

Sau những trăn trở, thao thức, nhà thơ tự tìm về chính mình, đối thoại với chính mình để tìm cho riêng mình lối đi, cách ứng xử hợp tình, hợp lý nhất dẫu ngoài kia ai nói gì, làm gì mặc kệ họ. ngày mai tính mãi mỏi rồi/ chi bằng lễnh đễnh ta ngồi ta chơi/ người cứ nói lời của người/ mặc ta thu một góc đời quẩn quanh// ta tự ru giấc cho lành/ tự ta ve vuốt năm canh nỗi niềm/ ngày mai đợi đấy qua đêm/ còn không ta mặc ưu phiền mặc ai (Người cứ nói lời của người).

Dù đã ở vào tuổi thất thập cổ lai hy nhưng Bùi Kim Anh vẫn miệt mài tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật để cho ra những vần thơ da diết, đẫm chất thế sự với lối tư duy tinh tế và sắc sảo. Chị vẫn xem thơ là người bạn tri kỉ cùng đồng hành, chứng kiến với mình sau bao tháng ngày khổ ải, vất vả, cô đơn hay ngay cả lúc bình thản, an yên…   con chó nhỏ nằm trên sân nhìn ra cổng/ ta ngồi trong nhà nhìn ra/ mỗi ngày như thế trôi qua// ta đã là người già/ thời gian ngoảnh mặt với ta/ chỉ có thơ mãi ở lại (Ta đã là người già). Đôi khi văng vẳng trong tâm tưởng như đang có người gọi chị: người gọi ta ư/ ta đâu còn trẻ/ đêm mộng mị/ nghe như tiếng thở dài// mưa tạnh rồi/ thơ gọi ta ư/ sợi tóc rụng vào đêm/ chỉ có đêm kết nối (Gọi ta ư). Đêm đã trở thành thế giới của tâm thức. Vì thế, suốt cả tập thơ, sự xuất hiện của biểu tượng đêm liên tục cũng có cái lý của nó.

Bằng cách sử dụng khéo léo các phép tu từ trong bài Gọi sang kiếp ấy phù vân, gợi lên cho người đọc bao điều: chuồn chuồn ngủ ngọn tre pheo/ có cơn gió mát lại treo giữa trời// gọi về một chốn thảnh thơi/ nơi hoa cỏ biết nói lời thi nhân// gọi sang kiếp ấy phù vân/ thơ ta chỉ viết được ngần ấy thôi// rải ra trong một cuộc chơi/ là trang giấy mỏng ngã phơi nỗi chiều.

Ấn tượng đối với bạn đọc khi khám phá thế giới thơ Bùi Kim Anh đó là chị đã xây dựng được bản sắc/ tạng thơ riêng với giọng thơ buồn, khắc khoải; ngôn ngữ tự nhiên nhưng giàu cảm xúc; hình ảnh thơ độc đáo có sức lay động lòng người.

N.V.H/VCPN

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm