TIN TỨC

Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-03-05 05:27:39
mail facebook google pos stwis
2557 lượt xem

VÕ THỊ NHƯ MAI

(Đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ, Nguyễn Đức Quận, NXB Hội nhà văn, 2024)


 

I. GIỮA NHỮNG DÒNG HOÀI NIỆM

Mẹ vẫn ở đó, trong ngôi nhà nhỏ ở quê. Con đã đi xa từ những ngày thanh xuân còn đang chảy trên lối cũ. Mười năm, rồi lại mười năm nữa, quãng đường đi chừng ngắn đó mà ngón tay đếm không xuể, lòng trống vắng mà ký ức lại quay về. Bên đó, mẹ thắt thỏm, tất bật như ngày cũ. Đó là điều duy nhất con dám tin rằng không đổi thay giữa bao điều đã nằm ngoài bàn tay con. Những mùa năm cũ, lúc con còn bên mẹ, những buổi chiều hè rực đỏ hay đêm mùa đông gió lạnh, mẹ đều nhóm lửa, đun nước, kể chuyện con nghe. Sáng mai mặt trời lên đẹp lắm, ai mà tĩnh tâm thì nhìn thấy ánh hồng lung linh. Lúc đó con nghĩ rằng, những điều như thế mẹ nói với con để làm gì? Rồi con lớn, rời quê hương, bước vào đô thành ồn ào, và chẳng bao giờ có thời gian dành cho những ánh hồng lung linh đó. Con lại học những bài học khác, về sự cần cù, về những chuyến xe tải chở hàng đi và đến, về những ngày chông chênh giữa đời. Rồi có những đêm con chợt giật mình thức giấc, ngồi nhắm mắt và thấy mây trắng bay qua ngõ nhà, che đi bóng mẹ đang tần tảo nơi quê xa. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ. Con đi xa, mang theo lòng mình những vị ngọt của câu chuyện đêm mùa hè, những bài ca dao mẹ hát, những đêm đốt lửa khoai hồng ấm áp. Rồi có ngày, những điều đó trở nên xa lạ. Cuối ngày, có khi con muốn nghe một tiếng "con ơi" từ giọng mẹ, nhưng chỉ có tiếng gío rét luồn qua khung cửa

Và cứ thế, những bước chân phiêu bạt giữa cuộc đời vẫn mãi quay về một khoảng trời nhớ mẹ. Đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận, lòng ta như được trải ra giữa những cung bậc của nhớ thương, day dứt và tiếc nuối. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là nỗi niềm chung của những kẻ xa quê, những người con mãi lặn lội giữa dòng đời, để rồi một ngày giật mình nhận ra—mẹ vẫn ở đó, nhưng bóng mẹ đã nhòa dần trong sương khói thời gian. Từng câu thơ khắc khoải, chân thành, chạm đến sâu thẳm tâm hồn, khiến ta không khỏi tự vấn: phải chi thời gian chậm lại, phải chi những bước chân chưa từng rời đi, phải chi… mây trắng không ngang ngõ, để giây phút bên mẹ mãi còn vẹn nguyên.

Có những nỗi nhớ nằm sâu trong lòng, chỉ chờ một câu thơ khẽ chạm là trào dâng như sóng. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận là một tập thơ như thế, nhẹ nhàng mà da diết, giản dị mà khắc khoải. Trong từng dòng chữ, ta thấy hình bóng quê hương, nghe được nhịp thở của những tháng năm cũ, cảm nhận được nỗi lòng của một người con xa xứ mãi khôn nguôi niềm thương nhớ. Tôi đọc tập thơ theo bốn ý chủ đạo, như bốn cánh cửa mở ra những miền cảm xúc khác nhau. Ở đó có quê hương vẫy gọi, có những mùa tháng đã đi qua nhưng vẫn đọng lại trong ký ức, có khát khao một bến bờ an yên giữa bao dâu bể, và có cả những tâm tư thầm kín mà không phải lúc nào cũng dễ dàng bày tỏ. Nguyễn Đức Quận không tô vẽ những nỗi niềm bằng lời hoa mỹ mà để cảm xúc tự nhiên chảy trôi, chân thành và sâu lắng. Đọc thơ anh, ta như được trở về với chính những ký ức của mình, để rồi chợt nhận ra, trong dòng chảy vô tận của thời gian, có những điều dù xa đến đâu cũng chẳng thể phai mờ.

 

II. BỐN CÁNH CỬA MỞ RA NHỮNG MIỀN CẢM XÚC

1. Miền đất gọi mời

Quy Nhơn mời gọi những kẻ lữ hành bằng tiếng sóng vỗ rì rào, bằng những con đường đầy nắng, nơi biển xanh ôm ấp bờ cát dài dịu dàng như một lời tự tình. Thành phố ấy không vồn vã, mà trầm lắng, tựa như một bài thơ chưa viết hết, để ai đến rồi cũng lưu luyến chẳng muốn rời. Thăm bến My Lăng, ta bắt gặp hình bóng những con thuyền nhỏ chở đầy nỗi niềm của người dân chài. Nơi đây, nước mặn và tình người quyện vào nhau, dệt nên bức tranh quê hương bình dị mà sâu đậm. (Cầu Trường Thi nối đôi bờ lở/ Sông Cửa Tiền  êm sóng ru trăng/ Chân quay gót ta còn mãi nhớ/ Một lần về thăm bến My Lăng).. Chiều Quy Nhơn đổ bóng xuống những hàng phi lao, gió thổi mát những câu chuyện cũ. Trong khoảnh khắc ấy, lòng ta bình yên đến lạ, như thể thời gian đang ngừng lại, như thể chỉ cần một tiếng gọi là có thể quay về những ngày tháng xưa.

Hát với dòng Kôn, ta nghe được tiếng vọng của lịch sử, những câu ca về một thời binh đao lửa đạn, về những anh hùng đã ngã xuống để đất nước được bình yên. Dòng sông ấy không chỉ chở phù sa mà còn gánh cả bao nhiêu ký ức của người dân Bình Định. (Huyền Trân  ôm giấc mộng dài/ Tháp Chăm trầm mặc u hoài đau thương/ Về đây hát với quê hương/ Trường Thi bến nước còn vương vấn lòng). Dòng Kôn tắm mát bóng dừa, trôi qua bao làng mạc, bao bến bờ, chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước. Những câu hát giao duyên xưa vẫn còn vương trên mặt nước, níu giữ bước chân người lữ khách chưa muốn rời xa. Bến bến Trường Thi, nơi từng lớp người trẻ mài giũa kinh thư, ôm ấp bao khát vọng. Đã qua rồi thời bảng vàng bia đá, nhưng trong sâu thẳm, giấc mơ vươn xa vẫn còn vang mãi, theo những dòng sông, theo những con đường, theo những người con rời quê đi muôn hướng nhưng lòng vẫn nhớ về...

Phú Yên cất lên tình ca giữa những cánh đồng xanh, nơi hoa vàng trải dài trên cỏ xanh như một bức tranh bất tận. Đất trời nơi đây đẹp đến nao lòng, khiến ai một lần đặt chân đến cũng muốn lưu lại mãi mãi. (Đưa em về lại Vũng Rô/ Bình minh ló dạng thuyền vô cá đầy/ Bên nhau duyên lại thắm say/ Trời yên biển lặng tình ngây ngất tình).

Tình ca Lý Sơn vang lên giữa biển trời rộng lớn, nơi những hòn đảo nhỏ giữ lấy hồn thiêng đất mẹ. Sóng biển miệt mài vỗ vào vách đá, như lời thì thầm của những người con kiên cường bám biển, giữ đảo, giữ quê hương. (Ta đưa nhau thăm núi Giếng Tiền/ Triệu năm rồi nay vẫn giữ nguyên/ Lên Thới Lới xem mây vờn đỉnh/ Xuống Tò Vò tìm chút an yên). Quảng Ngãi ta ơi, miền đất nặng nghĩa tình, nơi từng thớ đất, từng ngọn núi, từng dòng sông đều khắc ghi dấu chân cha ông. Mảnh đất ấy, dù có đi xa bao nhiêu, vẫn mãi là nơi để trở về.

Bình Định ta ơi, bao nhiêu năm vẫn sừng sững với võ trận Tây Sơn, với những câu hát bội ngân vang trong đêm hội. Người Bình Định chân chất, kiên trung, như sóng biển ngày đêm vỗ bờ, như mạch nguồn bất tận của những câu thơ còn vang mãi. Lại Giang đôi bờ tựa một khúc hát quê hương, lúc trầm lúc bổng theo từng con nước. Hai bờ sông in bóng những nhịp cầu, nơi những đôi lứa hẹn hò, nơi những người con xa quê thầm gửi nỗi nhớ vào con sóng lăn tăn.

Đi thêm nữa để gặp người con gái, em nghiêng nón lá Gò Găng, bóng hình ấy như một nét chấm phá dịu dàng trên bức tranh quê. Cô gái nhỏ, nụ cười e ấp, bước chân nhẹ nhàng bên bờ sông, tựa như một dáng hình quá đỗi thân thương trong ký ức. Miền đất ấy, mãi mãi là một khúc tình ca trong tim người xa xứ.

2. Những mùa đi qua

Tháng Tư về, mang theo hơi thở nồng nàn của mùa hạ mới chớm. Những cơn gió đổi màu, những cành bằng lăng bắt đầu chấm tím lên trời. Lòng người cũng nhẹ bẫng như những vệt mây trắng lửng lơ trên nền trời trong vắt. (Tháng chạm khẽ vào cánh phượng/ Phượng chỉ mỉm cười không nói năng/ Nắng đứng trộm nhìn chim bướm lượn/ Sân trường ôm ấp bước chân quen). Tháng Tư, tháng của những cuộc chia ly, những trang lưu bút viết vội, của những năm tháng thanh xuân còn dang dở. Nắng tháng Tư mang vị ngọt của những ngày giao mùa, khi hạ vẫn còn e ấp nơi đầu ngõ, khi những cơn mưa rào chưa kịp trút xuống. Người ta bảo, tháng Tư có những vạt nắng vàng chỉ lắm – không gay gắt mà cũng chẳng nhạt nhòa, đủ để hong khô những miền ký ức còn ướt đẫm trong tim.

Rồi bâng khuâng tháng Năm ùa về, mang theo chút luyến lưu từ mùa cũ. Đâu đó, tiếng ve râm ran trong vòm lá, báo hiệu những ngày hè sắp đến. Lòng người cũng chợt bâng khuâng như chính những con đường ngập sắc phượng hồng, rực rỡ nhưng cũng chất chứa bao nỗi niềm. Hạ tím lặng lẽ trôi qua những hàng cây, để lại sắc bằng lăng buồn đến nao lòng. Đâu đó, có một mùa yêu chợt đến rồi vội đi, như những cánh hoa rơi trên vai áo ai, không kịp giữ lại một lời hẹn. (Phượng hồng xác pháo thầm thương/ Ép vào trang vở mùi hương thơm lừng/ Chia tay xa cách người dưng/ Mà sao lại nhớ quá chừng đi thôi)

Mùa thu bất chợt, như một lời hẹn không báo trước. Gió se lạnh thoảng qua vai áo mỏng, lá vàng chao nghiêng trên những con phố nhỏ. Có những ngày trời xanh đến nao lòng, có những buổi chiều nắng rót mật lên từng ô cửa sổ. Người ta thường nhớ về mùa thu bằng những điều dịu dàng nhất – một góc phố cũ, một bản tình ca xưa, một dáng người lặng lẽ bên đường… (Cánh đồng trải thảm hướng dương/ Vàng ươm lan tỏa thơm đường chân qua/ Dạ yến thảo đa sắc hoa/ Trắng, hồng, đỏ, tím ... mặn mà, thanh tao). Hoa thu tháng Tám nở âm thầm trên những lối đi. Không rực rỡ như mùa hạ, không lạnh lẽo như đông, tháng Tám trầm lặng với sắc hoa cúc vàng đón nắng, với chút heo may khẽ khàng mơn man những tâm hồn nhạy cảm.

Khúc thu vàng vang lên trong những chiều gió se lạnh, những con đường ngập lá, những hàng cây thay áo mới. Mùa thu như một bản nhạc không lời, nhẹ nhàng mà thấm sâu vào lòng người. (Lúa chín chờ đợi gặt xong/ Nắng vàng tô thắm má hồng môi tươi/ Quê em con gái duyên cười/ Đôi bờ tóc rối thơm mùi rạ rơm). Và rồi, quê em mùa lúa chín rực rỡ dưới nắng vàng. Mùi thơm lúa mới hòa vào gió, chạy dài trên những triền đê, ôm trọn lấy tuổi thơ của những đứa trẻ lớn lên từ đồng ruộng. Những cánh cò chao nghiêng giữa cánh đồng bao la, lặng lẽ chứng kiến bao mùa đi qua, bao con người trở về và rời xa. Mùa nào cũng có những sắc màu riêng, như những nốt nhạc ngân dài trên bản giao hưởng của thời gian. Và lòng người, cũng cứ thế mà đổi thay theo những mùa trôi…

3. Sẽ có một bến bờ an yên

Có những ngày, tôi đi tìm phù sa của tâm hồn mình, như dòng sông mải miết bồi đắp bến bờ ký ức. Tôi viện vào câu lục bát bên bờ La Tinh, lắng nghe những nhịp vần dịu dàng như tiếng ru của mẹ thuở nào. Lục bát – không chỉ là thơ, mà còn là miền quê lắng sâu trong tâm tưởng, là dòng nước mát lành tưới tắm những nỗi niềm. Tôi đi, tìm câu lục bát giữa mênh mang đời sống, để thấy trong từng con chữ, có cả hơi thở của cha ông, có cả bóng hình quê nhà thân thuộc. (Nguyễn Đức Quận mở lòng đón nhận mọi vui buồn nhân gian. Anh như tha thiết với cuộc đời hơn sau bao rọi soi thấu tận. Thấu tận để bao dung cho người cho mình, gạn đục khơi trong mà tìm chút nhẹ lòng – Ngô Phong)

Nhưng cũng có những ngày chẳng có gì đặc biệt – một ngày bình thường đến mức tưởng như không đáng nhớ. Vậy mà chính những ngày như thế lại làm lòng người trầm lắng, tự hỏi mình đã quên bao nhiêu giấc mơ, đã đánh mất bao nhiêu niềm vui bé nhỏ. Tôi ngồi lặng yên, nhìn sắc màu tình yêu len lỏi trong từng khoảnh khắc: một ánh mắt dịu dàng, một bàn tay khẽ siết, một chiều mưa ai đó che chung chiếc ô… Tình yêu không ồn ào, chẳng cần rực rỡ, mà cứ thế lặng lẽ nhuộm màu những ngày tưởng như vô vị. (Một ngày vừa sinh ta ra mẹ cồn cào bụng thắt/ Bát cháo khoai lấp dạ giữa đêm đông/ Cha chân trần ngập dưới bão giông/ vay lon gạo chờ mùa sau gặt tr

Biển hát lời ru bên sóng, thủ thỉ cùng nỗi nhớ. Có lúc tôi thấy mình như đứa trẻ lạc vào giấc mơ của nước, đi tìm hạ đánh rơi trong một buổi chiều lộng gió. Giữa bầu trời xanh vời vợi, trái tim hồng vẫn rạo rực nhịp đập, vẫn tin vào những điều đẹp đẽ của cuộc đời. Nhưng đâu đó, có những khoảng lặng vàng dương, có những niềm riêng không dễ gọi thành tên. (Dặn lòng gắng học chữ yêu thương/ Thương thân thương phận dẫu chưa suông/ Thương cha thương mẹ thương đồng loại/ Yêu người khốn khó yêu quê hương). Dặn lòng đừng níu giữ những gì đã xa, nhưng có ai không chênh vênh khi rơi tình? Khi tình chưa nguôi, mọi con đường đều mang dáng hình một người đã cũ. Ta cứ ngỡ mình đã quên, nhưng bất chợt một làn gió thổi qua, một bài hát cũ vang lên, và ta lại thấy lòng mình se sắt.

Dòng chảy của tâm hồn cũng như dòng sông – có lúc êm đềm, có khi cuộn trào, có những lớp phù sa lặng lẽ bồi đắp và cũng có những nhánh rẽ không thể quay về. Nhưng dù thế nào, ta vẫn đi, vẫn tìm, vẫn tin rằng phía trước, sẽ có một bến bờ an yên…

4. Những tâm tư thầm kín

Chớm thu, sắc tím len lỏi vào những buổi chiều lặng gió. Đôi khi chỉ cần một tách trà nhớ, đã đủ để lòng người chạm đông, nghe hơi lạnh len vào từng kẽ tay, từng nỗi niềm chưa kịp gọi tên. Khúc sang đông như bản nhạc chậm, lắng lại trong hương đồng, trong mưa trên phố biển rì rào những lời tự tình.(Gương trong soi bóng nắng chiều tan/ Tĩnh lặng theo dòng trôi miên man/ Sóng buồn không gợn lay theo gió/ Im ắng mặt hồ đón thu sang). Có những ngày xuân còn vương chút dư âm, lởn vởn nắng xuân trên mái phố cũ. Vạt nắng nghiêng nghiêng, chạm vào tình xuân, vào chút duyên sót lại của một đoạn đường cũ kỹ. Nhớ về những ngày phố biển bây giờ, tôi gom nhặt gió đông, vẽ ký họa cho ta những đường nét xưa cũ mà thân thương. (Nắng xuân lên ấm đôi miền/ Mưa về xuân tưới xanh duyên má hồng/ Em đi mưa nắng chờ trông/ Có người chín nhớ mười mong mỏi mòn). Ngoài kia, mênh mang tháp cổ, thời gian như một giấc mơ không lời. Bỗng dưng, tôi thấy mình lặng lẽ giữa những đoạn khúc bâng quơ, giữa vu lan nỗi nhớ vơi đầy. Biển vẫn hát, gió vẫn thì thầm, nhưng mây trắng không ngang ngõ nữa. Phải chăng có những điều khi đi rồi sẽ chẳng quay về? (Mưa trên phố biển chiều đông/ Đi qua miền nhớ mênh mông/ Ký ức chợt tràn hội ngộ/ Mơ hoang hồ thỉ tang bồng). Phố biển bây giờ lặng như một khúc hát hai sóng vỗ, chạm vào lòng người những dư âm dịu dàng. Tôi đứng giữa những mảng ký ức lấp lánh, để thấy dù mùa có đổi thay, vẫn còn đó những giấc mơ chưa kịp tàn phai…

 

III. NHẸ NHƯ MỘT TIẾNG THỞ DÀI

Có những chặng đường đi qua bao nẻo, nhưng rốt cùng vẫn quay về một bến đỗ sâu thẳm trong tâm hồn, nơi ký ức, yêu thương và những nỗi niềm gửi lại thời gian. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận tựa như một bản nhạc trầm lặng, vang lên giữa muôn trùng thương nhớ, để mỗi người đọc đều có thể soi thấy bóng mình trong đó. Thơ anh nhắc ta rằng, dù có lạc bước đến đâu, vẫn luôn có một miền yêu thương vẹn nguyên chờ đợi. Xin gửi đến thi sĩ bốn câu thơ như một lời tri ân, như một chút nắng dịu dàng đọng lại giữa trang thơ và nhẹ như một tiếng thở dài: Này dấu chân ngủ quên giữa mênh mông cúc vàng/ Lênh đênh quả tim gánh tin yêu ruổi rong tứ bể/ Dẫu bàn chân không dẫm những bước lao đao trên trần thế/ Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu.

V.T..N.M

Thạc sĩ văn học, giáo viên tại Tây Úc

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm