TIN TỨC

Triệu Kim Loan - Khúc độc thoại xanh của hồng gai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-04 09:29:36
mail facebook google pos stwis
900 lượt xem

"Chữ gọi mùa trăng" - Tập thơ thứ 7 đánh dấu chặng đường chín muồi của nhà thơ Triệu Kim Loan, đã được ra mắt vào sáng 23/9/2025 tại không gian ấm cúng của nhà thơ Trần Mai Hường, do Nhóm "Bạn văn & Miền chữ" tổ chức. Bài viết sâu sắc dưới đây của nhà văn Kao Sơn gửi từ Hà Nội chính là món quà tinh thần ý nghĩa được dành tặng cho tác giả trong một ngày đáng nhớ. Văn chương TP. HCM xin trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc bài viết này.

Nhóm "Bạn văn & Miền chữ" tặng hoa nhà thơ Triệu Kim Loan.
 

KAO SƠN

Trong vài năm trở lại đây, nhà thơ - nhà giáo Triệu Kim Loan liên tục ghi dấu ấn với những thành công trên hành trình sáng tạo. Chị xuất hiện đều đặn trên nhiều lĩnh vực, thể loại, như một cách thỏa mãn đam mê, tự kiểm nghiệm và khẳng định khả năng của chính mình.

Đọc Triệu Kim Loan gần đây, ta nhận ra rõ nỗ lực thoát khỏi những khuôn mẫu khô cứng một thời gắn với lối dạy văn trong nhà trường. Thơ chị vẫn nồng nàn, đỏ thắm tựa đóa hồng, nhưng đã xuất hiện nhiều hơn những liên tưởng mới mẻ – tựa những nốt gai sần cần thiết trên cuống hoa. Cảm xúc trực diện được thể hiện qua lăng kính thơ ca khiến ngôn từ biến hóa, bay bổng, đôi khi hư ảo mà vẫn đạt được độ chính xác đáng ngạc nhiên. Những cảm nhận trực diện dần nhường chỗ cho những hình tượng được chọn lọc, đa diện hơn. Sự biến ảo của câu chữ, hình ảnh, thậm chí những xô lệch trong kết cấu và cách tiếp cận ngày càng xuất hiện dày đặc. Minh chứng rõ nét nhất là sự ra mắt của tập thơ mới: “Chữ gọi mùa trăng”.

“Chữ gọi mùa trăng” – một gợi mở về hình tượng, một tuyên ngôn về luật chơi. Con chữ ở đây có hình hài và lối thể hiện vừa đa dạng, vừa riêng biệt. Chữ gọi mùa trăng, chữ thay cho người, nơi chủ thể và khách thể hóa thân, đổi ngôi. Tiếng nói một thời thoát ra từ lồng ngực, bay vào khoảng không, va vào vách núi rồi dội ngược trở lại. Độ vang vọng của những “âm thanh” cất lên từ chữ tùy thuộc vào tâm thế, tình cảm của tác giả. Đó có thể là hoài niệm về mối tình đầu, những vô thường trong cuộc tình dài, hoặc đơn giản chỉ là một run rẩy bất chợt của hiện tại, một thảng thốt trước sự đổi thay của cuộc sống. Và Trăng – đối tác được lựa chọn để gửi gắm và sẻ chia.

Người đọc dễ dàng nhận ra sự hiện diện của Trăng qua những ngôn từ, hình tượng vừa thực vừa huyền ảo. Khi thật như chính nó với những ký tự mặc định, khi lại ảo như “bóng chữ động chân cầu”, tựa ánh trăng đầu ngọn sóng: “Những cơn sóng cuộc người cứ xô rồi vỡ/ Em neo thầm mắt gió tự mình xanh”. Đồi núi, những uốn lượn trập trùng, những xanh non cùng khô cằn hiện diện như ẩn dụ về kiếp người với bao đổ vỡ, đổi thay vô định.

Không chỉ khai mở ngoại cảnh, thơ chị còn mang đến những góc nhìn mới trong những chủ đề quen thuộc, vốn “vô hình vô ảnh” như tình yêu: “Một vầng sáng nhẹ như tơ/ Họa mi xếp cánh tròn mơ đợi rằm”. Đôi khi, ta thấy mình như bông cúc Họa Mi bé nhỏ trong giá rét, dịu dàng khép cánh đợi trăng, chờ heo may để bung lụa. Và đâu đó vang lên những câu thơ rất đẹp: “Mơ một ngày nắng hát/ Thảo nguyên xanh trổ hoa/ Trầu xanh và vôi trắng/ Gọi tên ai - ngọc ngà...” (Mơ một ngày nắng hát). Cùng với đó là những run rẩy, bất trắc đặc trưng của tình: “Thương dốc chiều/ Bóng núi/ Một xa xôi…”.

Biển, sóng, bờ và những biến động vô thường của đại dương cũng được Triệu Kim Loan mượn làm hình tượng để nói hộ nỗi nhớ cồn cào trong lòng, cùng những giằng xé rất thực giữa khát khao chiếm hữu và buông xả: “Hẹn rồi người có về không/ Biển đang dựng sóng dõi trông bóng người”. Thơ là thế, không nhất thiết phải trực diện. Bằng thủ pháp hoán dụ, những “em - anh”, những chênh vênh đổ vỡ, những mong nhớ, hy vọng, thậm chí cả hờn trách… vẫn hiện ra qua những hình ảnh, sự vật tưởng chừng không liên quan. Nhưng chỉ cần thế là đủ: “Hoàng hôn vừa góa bụa/ Đêm đã trở mình say”.

Có một sự đổi mới trong cách sử dụng hình tượng, bằng việc nhập hồn vào chính những hình tượng ấy, biến chúng thành sinh linh vừa động vừa ảo: “Biển cuồng nhiệt xô bờ/ Muốn buộc gió để lưu hương nụ nhớ/ Lại hoang mang/ Nụ nhớ có lưu đày…” (Nụ nhớ). Và đâu đó một câu hỏi khẽ vang lên: “Ai người có lỗi – Ai mơ?/ Dấu son năm tháng có mờ trong nhau?” – chỉ hỏi vậy thôi, dường như chẳng chờ lời đáp, bởi có những lúc trong đời, ta chẳng muốn nghe câu trả lời:

Giọt trầm thả giữa mù khơi
Lòng em lá ngón đắng cời đêm loang
Thanh xuân dâng trọn đêm Ngoan
Dại yêu đau mới thắt ngang tim mình
(Lỗi hẹn)

Vẫn dịu dàng, đầy nữ tính, không nổi loạn, không hờn ghen. Chỉ là “em - anh” cùng chút kỷ niệm được chọn lọc, lưu giữ. Nhưng ẩn sâu trong đó, người đọc nhận ra những cất giấu, dồn nén được thể hiện bằng những câu lục bát tài hoa.

Triệu Kim Loan vốn là một nhà giáo. Sự gắn bó với trường lớp, học trò là một phần quan trọng trong cuộc đời chị, và điều đó hiện diện rõ nét trong thơ. Đó không chỉ là những kỷ niệm đẹp, mà đôi khi cả những trăn trở, hụt hẫng: “Tôi giờ như đã nhạt tôi/ Bảng đen đang vẽ những lời phân vân...”, “Mùa thi về sấp ngửa/ Giữa khuya cơn gió lùa”, “Một ngày lật giở từng chương/ Thấy mình tóc bạc, thấy đường còn xa…”. Phải là một giáo viên gắn bó và yêu nghề sâu sắc, mới có được những chi tiết thơ nhỏ mà thật, thảng thốt đến vậy. Nhưng sau tất cả, tình cảm với trường, với trò vẫn ngày một đằm thắm, ẩn sâu hơn. Những kỷ niệm thời áo trắng chưa vướng bụi trần vẫn tồn tại nguyên vẹn. Có cảm giác chị không làm thơ về nó, mà chỉ đơn giản nhặt từ ký ức những cánh phượng ngày xưa ép trong trang vở, giờ lấy ra làm tươi hồng lại, thổi bùng lên đốm lửa nhỏ năm nào: “Giọt nắng nào run rẩy/ Ép vàng tuổi em trăng/ Em buông lơi mái tóc/ Đợi nguyệt lên tròn rằm…”, “Em đi tìm chiếc lá/ Gói cái nhìn chao nghiêng…” (Góc nhớ). Thật và ảo – thật như đã từng cầm trên tay, ảo như ký ức về một chiếc lá bay vô định.

Cũng với tư cách một cô giáo, một người mẹ, Triệu Kim Loan đã nấc nghẹn khi viết về Làng Nủ, về những cái chết đau thương của học sinh trong cơn bão khốc liệt:

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Con nằm trong đất
Mẹ ở đâu rồi
Nhà mình cũng mất”

“Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời…”
(Làng Nủ)

Trong “Chữ gọi mùa trăng”, người đàn bà làm thơ còn dành một góc riêng cho những số phận phụ nữ. Có người mỏng manh như sương, có người kiên cường như đá, có người hạnh phúc, có người cô độc chống chọi với giông bão cuộc đời. Không phán xét, chỉ thấu cảm và sẻ chia bằng tấm lòng bao dung, nhân hậu, như trong những câu thơ viết về người phụ nữ từng lầm lỡ:

“Một đời tròn sóng vỗ chơi
Mặt trời treo ngược phía đời lấm lem
Em như cây đàn bỏ quên
Cứ ai vuốt phải là mềm ngân rung
Sóng yêu thương vỗ lưng chừng
Em cam chịu/ Em đã từng thương em”
(Thương em)

Hay trong bài “Trớ trêu” viết về thân phận người đàn bà bị phản bội, nhưng vẫn đầy nghị lực nuôi con khôn lớn:

“Đêm nhòa gối lệ bình minh
Đếm ngày trên nỗi lặng thinh đợi ngày
Đàn con khôn lớn tuổi đầy
Bồ hòn hóa ngọt mẹ dày dặn vui”

Với mỗi nhà thơ, bên cạnh những trang viết bộc bạch cảm xúc riêng tư, luôn có mảng đề tài xã hội không thể bỏ qua – nơi thể hiện ý thức công dân với Nhân dân, Tổ quốc. Hầu như tập thơ nào của Triệu Kim Loan cũng có chùm bài về quê hương, được viết bằng cả tâm hồn và trách nhiệm. Điều đáng chú ý là cách tiếp cận mỗi lúc một khác, biên độ cảm xúc được mở rộng, cách lựa chọn và xử lý tứ thơ không lặp lại. Ở tập này, ngay cả cách biểu đạt cũng mới mẻ. Không còn những thương nhớ vu vơ, chung chung hay kỷ niệm mù xa, thơ chị về quê hương chứa đầy hình ảnh hiện thực, nhiều khi như những ghi chép sống động. Chất “hôm nay” hiện lên đậm nét: “Quê hương tôi/ Một ngày bão nổi/ Cầu sập, nhà trôi, núi lở, đất vùi…” (Nghẹn ngào đêm), “Thuyền nan bão quật tơi bời/ Nửa đêm lập cập mẹ soi lửa tìm/ Gọi cha buốt nghẹn buồng tim” (Mắt bão). Không còn chỉ là thơ, đó là những phóng sự, những thước phim bằng chữ – chân thực và rát buốt.

Đặc biệt, có lẽ ấn tượng nhất trong tập là những bài viết về đề tài chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Như một sử gia, chị bình tĩnh hướng cái nhìn vào sâu bên trong sự kiện để tìm ra cái giá thực sự của chiến thắng – cái giá lớn nhất và đau thương nhất là sự hy sinh về con người. Tiếng thơ của chị giờ là tiếng nói của người trong cuộc: là cô thanh niên xung phong giữa “Rừng Trường Sơn bom chan bão lửa”, đã lỡ hẹn cùng anh lính trẻ lái xe để “Tuổi hai mươi cùng cỏ hoa rực nắng/ Cho núi rừng, cho Tổ quốc linh thiêng” (Tìm em ngày thống nhất). Là “Người đàn bà đợi chồng/ Hàng đêm/ Hóa đá”, là “Nước mắt/ Đọng trong lúm đồng tiền một thời son trẻ/ Giờ kiệt khô hóa vết đồi mồi” (Đợi anh). Và nhói buốt đến tận cùng là hình ảnh người mẹ giữa ngày cờ hoa, một mình lặn lội vào chiến trường xa tìm con:

“Mênh mông rừng bát ngát cây
Mẹ tìm con giữa núi dầy đất son
Chỉ nghe tiếng lá cuộn tròn
Chỉ nghe tiếng suối chảy mòn xa xưa”
(Mẹ cầu hương linh)

Hay những câu thơ viết khi thăm nhà tù Côn Đảo, nơi quá khứ hiện về ám ảnh:

“Biển đêm gầm réo, sóng vỗ vào xiềng xích
Hòn đảo mồ côi trăng khóc phía chân trời
Những vách đá còn sẫm màu máu đỏ
Tiếng gông cùm vọng từ chốn xa xôi”
(Thăm nhà tù Côn Đảo)

Và thật xúc động khi đọc những dòng về các liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn:

“Nơi các anh nằm sương khói bao dung
Cứ đêm đêm trăng thì thầm kể chuyện
Những đêm trắng hành quân thần tốc
Những trận giáp lá cà xương máu đổi tự do”
…(Thắp nắng lòng người)

Rõ ràng, để viết được những câu thơ như vậy, cần một sự hóa thân đến triệt để. Không bi thương hóa, không thể là nỗi đau vờ: “Những người lính đã hòa với cỏ xanh. Hòa với cỏ cây sau những ngày khốc liệt. Gió vẫn ngắt xanh trên đồi A1. Trùng điệp núi rừng mây trắng mênh mang” (Những người nằm lại đồi A1). Phải chăng, sự hy sinh ấy đã được đền đắp? Hay đó là một khẳng định cho chân lý bất tử của sự sống?!

Hoa hồng vẫn đỏ, vẫn thơm và vẫn có gai. Có lẽ cuộc sống cần đến cả hai.

Với 7 tập thơ đã ra mắt, “Chữ gọi mùa trăng” là một bước tiến mới. Đây không phải lúc để luận bình về nội dung, chủ đề hay kỹ thuật, càng không phải để nói đến được - mất trong một tập thơ riêng lẻ. Mỗi tập thơ, một khi đã xuất bản, sẽ có cuộc sống riêng, độc lập, thoát ly khỏi sự quản lý của tác giả và có tiếng nói riêng để kết giao với bạn đọc. Còn với tác giả, mỗi tập thơ mới là một sự tái sinh. Xin lại được tiếp tục đợi chờ và hy vọng.

Sài Gòn, tháng 8 năm 2025
K.S.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm