TIN TỨC

Triệu Kim Loan - Khúc độc thoại xanh của hồng gai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-04 09:29:36
mail facebook google pos stwis
645 lượt xem

"Chữ gọi mùa trăng" - Tập thơ thứ 7 đánh dấu chặng đường chín muồi của nhà thơ Triệu Kim Loan, đã được ra mắt vào sáng 23/9/2025 tại không gian ấm cúng của nhà thơ Trần Mai Hường, do Nhóm "Bạn văn & Miền chữ" tổ chức. Bài viết sâu sắc dưới đây của nhà văn Kao Sơn gửi từ Hà Nội chính là món quà tinh thần ý nghĩa được dành tặng cho tác giả trong một ngày đáng nhớ. Văn chương TP. HCM xin trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc bài viết này.

Nhóm "Bạn văn & Miền chữ" tặng hoa nhà thơ Triệu Kim Loan.
 

KAO SƠN

Trong vài năm trở lại đây, nhà thơ - nhà giáo Triệu Kim Loan liên tục ghi dấu ấn với những thành công trên hành trình sáng tạo. Chị xuất hiện đều đặn trên nhiều lĩnh vực, thể loại, như một cách thỏa mãn đam mê, tự kiểm nghiệm và khẳng định khả năng của chính mình.

Đọc Triệu Kim Loan gần đây, ta nhận ra rõ nỗ lực thoát khỏi những khuôn mẫu khô cứng một thời gắn với lối dạy văn trong nhà trường. Thơ chị vẫn nồng nàn, đỏ thắm tựa đóa hồng, nhưng đã xuất hiện nhiều hơn những liên tưởng mới mẻ – tựa những nốt gai sần cần thiết trên cuống hoa. Cảm xúc trực diện được thể hiện qua lăng kính thơ ca khiến ngôn từ biến hóa, bay bổng, đôi khi hư ảo mà vẫn đạt được độ chính xác đáng ngạc nhiên. Những cảm nhận trực diện dần nhường chỗ cho những hình tượng được chọn lọc, đa diện hơn. Sự biến ảo của câu chữ, hình ảnh, thậm chí những xô lệch trong kết cấu và cách tiếp cận ngày càng xuất hiện dày đặc. Minh chứng rõ nét nhất là sự ra mắt của tập thơ mới: “Chữ gọi mùa trăng”.

“Chữ gọi mùa trăng” – một gợi mở về hình tượng, một tuyên ngôn về luật chơi. Con chữ ở đây có hình hài và lối thể hiện vừa đa dạng, vừa riêng biệt. Chữ gọi mùa trăng, chữ thay cho người, nơi chủ thể và khách thể hóa thân, đổi ngôi. Tiếng nói một thời thoát ra từ lồng ngực, bay vào khoảng không, va vào vách núi rồi dội ngược trở lại. Độ vang vọng của những “âm thanh” cất lên từ chữ tùy thuộc vào tâm thế, tình cảm của tác giả. Đó có thể là hoài niệm về mối tình đầu, những vô thường trong cuộc tình dài, hoặc đơn giản chỉ là một run rẩy bất chợt của hiện tại, một thảng thốt trước sự đổi thay của cuộc sống. Và Trăng – đối tác được lựa chọn để gửi gắm và sẻ chia.

Người đọc dễ dàng nhận ra sự hiện diện của Trăng qua những ngôn từ, hình tượng vừa thực vừa huyền ảo. Khi thật như chính nó với những ký tự mặc định, khi lại ảo như “bóng chữ động chân cầu”, tựa ánh trăng đầu ngọn sóng: “Những cơn sóng cuộc người cứ xô rồi vỡ/ Em neo thầm mắt gió tự mình xanh”. Đồi núi, những uốn lượn trập trùng, những xanh non cùng khô cằn hiện diện như ẩn dụ về kiếp người với bao đổ vỡ, đổi thay vô định.

Không chỉ khai mở ngoại cảnh, thơ chị còn mang đến những góc nhìn mới trong những chủ đề quen thuộc, vốn “vô hình vô ảnh” như tình yêu: “Một vầng sáng nhẹ như tơ/ Họa mi xếp cánh tròn mơ đợi rằm”. Đôi khi, ta thấy mình như bông cúc Họa Mi bé nhỏ trong giá rét, dịu dàng khép cánh đợi trăng, chờ heo may để bung lụa. Và đâu đó vang lên những câu thơ rất đẹp: “Mơ một ngày nắng hát/ Thảo nguyên xanh trổ hoa/ Trầu xanh và vôi trắng/ Gọi tên ai - ngọc ngà...” (Mơ một ngày nắng hát). Cùng với đó là những run rẩy, bất trắc đặc trưng của tình: “Thương dốc chiều/ Bóng núi/ Một xa xôi…”.

Biển, sóng, bờ và những biến động vô thường của đại dương cũng được Triệu Kim Loan mượn làm hình tượng để nói hộ nỗi nhớ cồn cào trong lòng, cùng những giằng xé rất thực giữa khát khao chiếm hữu và buông xả: “Hẹn rồi người có về không/ Biển đang dựng sóng dõi trông bóng người”. Thơ là thế, không nhất thiết phải trực diện. Bằng thủ pháp hoán dụ, những “em - anh”, những chênh vênh đổ vỡ, những mong nhớ, hy vọng, thậm chí cả hờn trách… vẫn hiện ra qua những hình ảnh, sự vật tưởng chừng không liên quan. Nhưng chỉ cần thế là đủ: “Hoàng hôn vừa góa bụa/ Đêm đã trở mình say”.

Có một sự đổi mới trong cách sử dụng hình tượng, bằng việc nhập hồn vào chính những hình tượng ấy, biến chúng thành sinh linh vừa động vừa ảo: “Biển cuồng nhiệt xô bờ/ Muốn buộc gió để lưu hương nụ nhớ/ Lại hoang mang/ Nụ nhớ có lưu đày…” (Nụ nhớ). Và đâu đó một câu hỏi khẽ vang lên: “Ai người có lỗi – Ai mơ?/ Dấu son năm tháng có mờ trong nhau?” – chỉ hỏi vậy thôi, dường như chẳng chờ lời đáp, bởi có những lúc trong đời, ta chẳng muốn nghe câu trả lời:

Giọt trầm thả giữa mù khơi
Lòng em lá ngón đắng cời đêm loang
Thanh xuân dâng trọn đêm Ngoan
Dại yêu đau mới thắt ngang tim mình
(Lỗi hẹn)

Vẫn dịu dàng, đầy nữ tính, không nổi loạn, không hờn ghen. Chỉ là “em - anh” cùng chút kỷ niệm được chọn lọc, lưu giữ. Nhưng ẩn sâu trong đó, người đọc nhận ra những cất giấu, dồn nén được thể hiện bằng những câu lục bát tài hoa.

Triệu Kim Loan vốn là một nhà giáo. Sự gắn bó với trường lớp, học trò là một phần quan trọng trong cuộc đời chị, và điều đó hiện diện rõ nét trong thơ. Đó không chỉ là những kỷ niệm đẹp, mà đôi khi cả những trăn trở, hụt hẫng: “Tôi giờ như đã nhạt tôi/ Bảng đen đang vẽ những lời phân vân...”, “Mùa thi về sấp ngửa/ Giữa khuya cơn gió lùa”, “Một ngày lật giở từng chương/ Thấy mình tóc bạc, thấy đường còn xa…”. Phải là một giáo viên gắn bó và yêu nghề sâu sắc, mới có được những chi tiết thơ nhỏ mà thật, thảng thốt đến vậy. Nhưng sau tất cả, tình cảm với trường, với trò vẫn ngày một đằm thắm, ẩn sâu hơn. Những kỷ niệm thời áo trắng chưa vướng bụi trần vẫn tồn tại nguyên vẹn. Có cảm giác chị không làm thơ về nó, mà chỉ đơn giản nhặt từ ký ức những cánh phượng ngày xưa ép trong trang vở, giờ lấy ra làm tươi hồng lại, thổi bùng lên đốm lửa nhỏ năm nào: “Giọt nắng nào run rẩy/ Ép vàng tuổi em trăng/ Em buông lơi mái tóc/ Đợi nguyệt lên tròn rằm…”, “Em đi tìm chiếc lá/ Gói cái nhìn chao nghiêng…” (Góc nhớ). Thật và ảo – thật như đã từng cầm trên tay, ảo như ký ức về một chiếc lá bay vô định.

Cũng với tư cách một cô giáo, một người mẹ, Triệu Kim Loan đã nấc nghẹn khi viết về Làng Nủ, về những cái chết đau thương của học sinh trong cơn bão khốc liệt:

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Con nằm trong đất
Mẹ ở đâu rồi
Nhà mình cũng mất”

“Con nằm trong đất
Sâu lắm mẹ ơi
Ước gì cỏ mật
Nâng con lên trời…”
(Làng Nủ)

Trong “Chữ gọi mùa trăng”, người đàn bà làm thơ còn dành một góc riêng cho những số phận phụ nữ. Có người mỏng manh như sương, có người kiên cường như đá, có người hạnh phúc, có người cô độc chống chọi với giông bão cuộc đời. Không phán xét, chỉ thấu cảm và sẻ chia bằng tấm lòng bao dung, nhân hậu, như trong những câu thơ viết về người phụ nữ từng lầm lỡ:

“Một đời tròn sóng vỗ chơi
Mặt trời treo ngược phía đời lấm lem
Em như cây đàn bỏ quên
Cứ ai vuốt phải là mềm ngân rung
Sóng yêu thương vỗ lưng chừng
Em cam chịu/ Em đã từng thương em”
(Thương em)

Hay trong bài “Trớ trêu” viết về thân phận người đàn bà bị phản bội, nhưng vẫn đầy nghị lực nuôi con khôn lớn:

“Đêm nhòa gối lệ bình minh
Đếm ngày trên nỗi lặng thinh đợi ngày
Đàn con khôn lớn tuổi đầy
Bồ hòn hóa ngọt mẹ dày dặn vui”

Với mỗi nhà thơ, bên cạnh những trang viết bộc bạch cảm xúc riêng tư, luôn có mảng đề tài xã hội không thể bỏ qua – nơi thể hiện ý thức công dân với Nhân dân, Tổ quốc. Hầu như tập thơ nào của Triệu Kim Loan cũng có chùm bài về quê hương, được viết bằng cả tâm hồn và trách nhiệm. Điều đáng chú ý là cách tiếp cận mỗi lúc một khác, biên độ cảm xúc được mở rộng, cách lựa chọn và xử lý tứ thơ không lặp lại. Ở tập này, ngay cả cách biểu đạt cũng mới mẻ. Không còn những thương nhớ vu vơ, chung chung hay kỷ niệm mù xa, thơ chị về quê hương chứa đầy hình ảnh hiện thực, nhiều khi như những ghi chép sống động. Chất “hôm nay” hiện lên đậm nét: “Quê hương tôi/ Một ngày bão nổi/ Cầu sập, nhà trôi, núi lở, đất vùi…” (Nghẹn ngào đêm), “Thuyền nan bão quật tơi bời/ Nửa đêm lập cập mẹ soi lửa tìm/ Gọi cha buốt nghẹn buồng tim” (Mắt bão). Không còn chỉ là thơ, đó là những phóng sự, những thước phim bằng chữ – chân thực và rát buốt.

Đặc biệt, có lẽ ấn tượng nhất trong tập là những bài viết về đề tài chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Như một sử gia, chị bình tĩnh hướng cái nhìn vào sâu bên trong sự kiện để tìm ra cái giá thực sự của chiến thắng – cái giá lớn nhất và đau thương nhất là sự hy sinh về con người. Tiếng thơ của chị giờ là tiếng nói của người trong cuộc: là cô thanh niên xung phong giữa “Rừng Trường Sơn bom chan bão lửa”, đã lỡ hẹn cùng anh lính trẻ lái xe để “Tuổi hai mươi cùng cỏ hoa rực nắng/ Cho núi rừng, cho Tổ quốc linh thiêng” (Tìm em ngày thống nhất). Là “Người đàn bà đợi chồng/ Hàng đêm/ Hóa đá”, là “Nước mắt/ Đọng trong lúm đồng tiền một thời son trẻ/ Giờ kiệt khô hóa vết đồi mồi” (Đợi anh). Và nhói buốt đến tận cùng là hình ảnh người mẹ giữa ngày cờ hoa, một mình lặn lội vào chiến trường xa tìm con:

“Mênh mông rừng bát ngát cây
Mẹ tìm con giữa núi dầy đất son
Chỉ nghe tiếng lá cuộn tròn
Chỉ nghe tiếng suối chảy mòn xa xưa”
(Mẹ cầu hương linh)

Hay những câu thơ viết khi thăm nhà tù Côn Đảo, nơi quá khứ hiện về ám ảnh:

“Biển đêm gầm réo, sóng vỗ vào xiềng xích
Hòn đảo mồ côi trăng khóc phía chân trời
Những vách đá còn sẫm màu máu đỏ
Tiếng gông cùm vọng từ chốn xa xôi”
(Thăm nhà tù Côn Đảo)

Và thật xúc động khi đọc những dòng về các liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn:

“Nơi các anh nằm sương khói bao dung
Cứ đêm đêm trăng thì thầm kể chuyện
Những đêm trắng hành quân thần tốc
Những trận giáp lá cà xương máu đổi tự do”
…(Thắp nắng lòng người)

Rõ ràng, để viết được những câu thơ như vậy, cần một sự hóa thân đến triệt để. Không bi thương hóa, không thể là nỗi đau vờ: “Những người lính đã hòa với cỏ xanh. Hòa với cỏ cây sau những ngày khốc liệt. Gió vẫn ngắt xanh trên đồi A1. Trùng điệp núi rừng mây trắng mênh mang” (Những người nằm lại đồi A1). Phải chăng, sự hy sinh ấy đã được đền đắp? Hay đó là một khẳng định cho chân lý bất tử của sự sống?!

Hoa hồng vẫn đỏ, vẫn thơm và vẫn có gai. Có lẽ cuộc sống cần đến cả hai.

Với 7 tập thơ đã ra mắt, “Chữ gọi mùa trăng” là một bước tiến mới. Đây không phải lúc để luận bình về nội dung, chủ đề hay kỹ thuật, càng không phải để nói đến được - mất trong một tập thơ riêng lẻ. Mỗi tập thơ, một khi đã xuất bản, sẽ có cuộc sống riêng, độc lập, thoát ly khỏi sự quản lý của tác giả và có tiếng nói riêng để kết giao với bạn đọc. Còn với tác giả, mỗi tập thơ mới là một sự tái sinh. Xin lại được tiếp tục đợi chờ và hy vọng.

Sài Gòn, tháng 8 năm 2025
K.S.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm