TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-03 23:24:14
mail facebook google pos stwis
420 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tôi quen nhà giáo, nhà Lý luận Phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương thật tình cờ trong buổi Tọa đàm về Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng chủ trì có sự phối hợp của Hội nhà văn Cần Thơ và khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn tường Đại học Cần Thơ.

Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

 

Tôi và chị có những điểm chung: cùng học Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, cùng dạy Văn trường chuyên, cùng làm công tác thanh tra giáo dục, cùng có học sinh đạt giải quốc gia môn Văn, cùng viết Lý luận phê bình và làm thơ. Chị đã thử sức mình ở nhiều thể loại: Lý luận phê bình, thơ, truyện, ký nhưng thế  mạnh của ngòi bút Đỗ Nguyên Thương vẫn là Lý luận phê bình bởi nó gắn liền với nghề dạy Văn, về phân tích giới thiệu tác giả, tác phẩm trong và ngoài nước có trong chương trình, và đặc biệt là những chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Văn cấp quốc gia. Chị đã xuất bản tác phẩm Lý luận phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương”  3 tập  và một tập thơ được đông đảo bạn đọc đón nhận. Và giờ đây chị lại thử sức ở thể loại thơ mới, thơ 1-2-3 với tập “Tìm về miền ký ức”.

Thơ 1-2-3 là một thể thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thể nghiệm gần bốn năm nay, đã có hàng nghìn bài thơ và hàng trăm tập thơ 1-2-3 ra đời của các tác giả trong và ngoài nước hưởng ứng. Song, để làm một bài thơ 1-2-3 cho hay ở thể loại này không phải dễ. Vì nó có quy định nghiêm ngặt về số câu (6 câu) số chữ tối đa ở mỗi câu, kể cả đầu bài (Khổ 1 là 1 câu- đầu đề bài thơ, tối đa 11 chữ. Khổ 2 có 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ, và Khổ 3 có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Câu đầu và câu cuối phải có sự hô ứng để làm rõ chủ đề bài thơ). Một bài thơ hay cần nhiều yếu tố, nhưng có ba yếu tố quan trọng như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã nói:

Túi nhà thơ có ba ngăn

Tứ, Từ, Tư đủ quanh năm tiêu xài.

(Một là có Tứ thơ mới lạ, hai là Từ ngữ dùng đúng lúc, đúng chỗ, ba là tính tưởng của bài thơ phải cao và đẹp). Thơ Đỗ Nguyên Thương dù viết về đề tài nào, thể loại nào cũng đằm thắm một tình yêu đôn hậu, chân tình, tạo được sự lắng đọng nơi trái tim người đọc. Một hồn thơ  như thế luôn chứa đựng những buồn, vui, sướng, khổ về nhân tình thế thái.

Riêng tên tập thơ 1-2-3 “Tìm về miền ký ức” đã toát lên chủ đề của những bài thơ. Đó là những kỷ niệm đẹp về quê hương với bốn mùa xuân hạ thu đông rất đáng yêu. Đó là những kỷ niệm về tuổi học trò, tình đồng nghiệp gắn với bảng đen phấn trắng. Đó là tình bạn, tình yêu, là những ước mơ, hy vọng đẹp. Mỗi bài thơ như một lát cắt về cuộc sống và con người trong quá khứ và hiện tại, tương lai. Ký ức là hành trang theo ta suốt đời, là nguồn sữa mẹ nuôi ta trên mỗi chặng đường. Bài “Ký ức” có thể coi là tuyên ngôn của tập thơ:

 Ký ức

Là những gì hôm qua mà hôm nay còn thức

Chẳng chịu ngủ yên năm tháng qua rồi

 

Có buồn, có day dứt, có vui

Có hình ảnh người thân và rất nhiều cảnh vật

Nuôi lớn trong ta như sữa mẹ tinh thần.

Những ký ức ấy hiện lên vẻ đẹp đáng yêu qua cách cảm, cách nghĩ thấm đậm tình đời, tình người rất trong sáng và nhân văn qua “Đôi mắt nhìn đời”:

Đôi mắt nhìn đời

 

Nhìn đời qua lăng kính yêu thương

Mọi sự vật lung linh hơn dáng hình sẵn có

 

Xung quanh đều là bạn, cả lá hoa cây cỏ

Ai cũng đẹp hơn và thánh thiện hơn nhiều

Thế giới diệu kỳ - thế giới thật đáng yêu.

 

Tình cảm này, hồn thơ này qua “lăng kính yêu thương” sẽ lan tỏa khắp tập thơ, nó như chất xúc tác để gắn kết tính hiện thực, tính lãng mạn và tính thẩm mỹ và từ đó toát nên tính tư tưởng cao đẹp, không gượng ép hô hào kiểu khẩu hiệu.

Đỗ Nguyên Thương viết Lý luận phê bình văn học là chính, và chị đến với thơ như một sự tình cờ để giãi bày những ẩn ức, vui buồn của cuộc đời. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chị đã rất yêu thơ. Giấc mộng văn chương vẫn đeo bám chị trên mỗi chặng đường. Chính tình yêu nghề và sự đam mê văn chương là ngọn lửa thắp nên niềm đam mê để chị viết khỏe, để cảm xúc thơ luôn thăng hoa qua tư duy hình tượng kết hợp hài hòa với tư duy logic.

Ở “Tìm về miền ký ức”, người đọc thấy rõ hơn những rung động của con tim trước vẻ đẹp của quê hương đất nước. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng. Đó là những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện như tranh thuỷ mặc, khi điệp trùng hùng vĩ như núi cao, biển rộng, khi thủ thỉ như lời tâm sự lứa đôi hiện ra ở các bài: Mưa mùa hạ, Nói với mùa xuân sắp đến, Mùa đông và nước hoa, Đông lạnh cần hơi ấm, Chiều Trung du, Hồ mờ sương, Mộc Châu mãi xanh trong ký ức, Về quê đất Tổ đi anh, Về Ngã ba Đồng Lộc… Những bài thơ là những bức tranh nội tâm với nhiều gam màu thương nhớ. Hãy lắng nghe lời tâm tình trước Mưa mùa hạ. Mưa của thiên nhiên và mưa của tình yêu đôi lứa?

Mưa mùa hạ

 

Gõ vào mái tôn nhà hàng xóm

Gõ vào khung cửa sắt nhà mình

 

Âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh

Làm dịu mát những ngày hè nóng bức

Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa.

Ở khổ 1 là câu thơ đầu bài mang tứ thơ “Mưa”, và từ đó nhà thơ triển khai bằng hai câu tả thực ở khổ 2: Mưa gõ vào mái tôn hàng xóm và gõ vào khung cửa sắt nhà mình. Tiếng gõ của mưa làm bừng tỉnh không gian, đánh thức giác quan và sự rung động để dẫn đến khổ 3: Là những nhận định mang hình hài lý trí “âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh/Làm mát những ngày hè nóng bức”. Và câu kết mới là “điểm sáng thẩm mỹ”, khép lại tứ thơ: “Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa”. Câu 6 góp phần “hô ứng” với câu 1 – đầu đề bài thơ. Và người đọc thấy mưa chỉ là cái cớ để chị mượn nói về tình yêu - một tình yêu đích thực, khát khao suốt năm tháng (bốn mùa). Có thể xem đây là cơn “mưa tình” rất đẹp, nó làm dịu mát tâm hồn ta với bao hy vọng đợi chờ trong xa cách nhớ thương. Bài thơ được đưa lên đầu tập thơ làm đọc giả muốn đọc tiếp một mạch để khám phá vẻ đẹp của các bài thơ khác. Thơ 1-2-3 có được những bài đầy liên tưởng ẩn dụ như vậy không nhiều.

Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người (Đỗ Trung Quân), thì chị đã cho ta thấy một tình quê hương, đất nước nồng nàn, tha thiết. Bàn chân chị đặt đến vùng đất nào là những địa danh vùng đất ấy ùa vào trang thơ. Nào Đền Hùng, đất Tổ, Việt Trì (Phú Thọ) hay Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Mộc Châu (Sơn La). Nào Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), đường lên Tây Tiến  hay miệt vườn Tây Nam Bộ…Cảnh sắc thiên nhiên và con người cứ hiện lên qua mỗi vần thơ như một đoạn phim quay cận cảnh, thật đáng yêu dường nào. Trong hành trang nỗi nhớ của những kỷ niệm xưa, Đỗ Nguyên Thương luôn khắc sâu về những vùng đất chị đã qua và nơi chị trở lại. Nơi đó không biết giờ này ra sao, nỗi hoài niệm cứ dâng lên tầng tầng lớp lớp. Nếu không có tâm hồn lộng gió bốn phương và cái nhìn đầy nhân ái, làm sao có được những vần thơ như thế. Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị chính là tình yêu đời, là nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, về tình yêu đôi lứa. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Bài “Về quê” là tiếng mời gọi tâm tình nhỏ nhẹ rất nữ tính: “Về quê/Về quê em đi anh/Nắng vẫn nắng và hoa sen khoe sắc/Gió vẫn tự tình khúc hát trung du/Khúc nắng hạ dọn dẹp đợi mùa thu/Như em đợi anh, bất chấp hè nắng gió”. Đó cũng là tiếng gọi của quê hương, tiếng gọi của tình yêu với người xa xứ.

Nhà Lý luận phê bình văn học Đào Thái Sơn đã viết “Bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng, chính vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ thuật”. Hình tượng trong thơ chị ẩn chứa trong ánh mắt và con tim của nhân vật trữ tình, có khi hiện ra dễ thấy một cách chân thực và mang tính triết luận: “Một cuộc đời ý nghĩa khi hoàn thiện giấc mơ vui”, hay “Trong em, anh là hòn sỏi nhỏ sức mạnh vô song”, hoặc “Ánh sáng từ biển tri thức vô bờ tan lạnh giá con tim”…Những câu thơ về tình yêu như thế ghim được vào trái tim người đọc. Lại có khi hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu thơ ẩn hiện như con “rồng thần” khó nắm bắt. Khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, nhìn kỷ vật đơn sơ mà thấy lòng nghẹn đắng một miền xanh ký ức, để rồi “Có tiếng nhói phía sau lồng ngực/Nghẹn ngào/Thương…”. Tôi có cảm giác như thấy những giọt nước mắt của cái tôi trữ tình đang lặng thầm chảy ngược vào tim. Hoặc những câu thơ gợi nhiều liên tưởng “Bên cây xanh thấy lãi nhiều ngày” (Vui một ngày là lãi một ngày)

Ở mảng thơ thời áo trắng sân trường, tuy không mới nhưng chị đã tìm được tứ thơ và có cách thể hiện một cách hồn nhiên, chân tình gần gũi ở các bài: Sân trường ngày hiến chưng nhà giáo Việt Nam, Một ngày vui tại trường em… và đó chính là những vần thơ  “nhịp cầu nhân vạn dặm yêu thương”… để vui cùng thầy cô bè bạn ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 hàng năm, để được ôm hôn bè bạn cùng trang lứa, để được các em học sinh vây quanh như đàn chim tìm về tổ ấm của lớp mình năm xưa.

Trong miền ký ức sâu thẳm của tập thơ, có nỗi nhớ, niềm thương, niềm tin và những khát khao, hy vọng. Nó cứ trải dài theo mỗi bước chân của chị trên mỗi cung đường. Sáu mươi ba bài thơ 1-2-3 của chị không bị câu thức bởi luật thơ. Chị đã cố gắng nén năng lượng chữ ở mỗi câu thơ. Có câu chỉ một chữ có câu 2,3,4,,6,7 chữ, ít có câu tối đa 13 chữ. Hình ảnh, nhịp điệu của cảm xúc trữ tình được diễn đạt một cách dễ hiểu, luôn toát lên lòng lạc quan yêu đời.

Gương mặt thơ Đỗ Nguyên Thương qua thơ 1-2-3 đến với bạn đọc đã để lại nhiều cảm mến. Chị đã đánh thức con tim của bao người về những miền ký ức đẹp xa vời qua ngôn ngữ vừa dân dã vừa hiện đại, có sự kết hợp khéo léo giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ văn chương. Điều đó đã góp phần làm cho nhiều bài thơ nổi gió, bay cao như giai điệu vút lên ở những bản nhạc. Tôi tin rằng thơ chị sẽ còn bay xa và vang vọng hơn nữa. Mong rằng thơ 1-2-3 của chị luôn là một “hằng số bất biến” “mặc định” những thông điệp yêu thương đa sắc đa thanh tắm mát hồn người. Xin trân trọng giới thiệu tập “Tìm về miền ký ức” của nhà giáo, nhà Lý luận phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương cùng bạn đọc.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm