TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-03 23:24:14
mail facebook google pos stwis
1179 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tôi quen nhà giáo, nhà Lý luận Phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương thật tình cờ trong buổi Tọa đàm về Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng chủ trì có sự phối hợp của Hội nhà văn Cần Thơ và khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn tường Đại học Cần Thơ.

Nhà lý luận phê bình Đỗ Nguyên Thương và tập thơ “Tìm về miền ký ức”

 

Tôi và chị có những điểm chung: cùng học Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, cùng dạy Văn trường chuyên, cùng làm công tác thanh tra giáo dục, cùng có học sinh đạt giải quốc gia môn Văn, cùng viết Lý luận phê bình và làm thơ. Chị đã thử sức mình ở nhiều thể loại: Lý luận phê bình, thơ, truyện, ký nhưng thế  mạnh của ngòi bút Đỗ Nguyên Thương vẫn là Lý luận phê bình bởi nó gắn liền với nghề dạy Văn, về phân tích giới thiệu tác giả, tác phẩm trong và ngoài nước có trong chương trình, và đặc biệt là những chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Văn cấp quốc gia. Chị đã xuất bản tác phẩm Lý luận phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương”  3 tập  và một tập thơ được đông đảo bạn đọc đón nhận. Và giờ đây chị lại thử sức ở thể loại thơ mới, thơ 1-2-3 với tập “Tìm về miền ký ức”.

Thơ 1-2-3 là một thể thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thể nghiệm gần bốn năm nay, đã có hàng nghìn bài thơ và hàng trăm tập thơ 1-2-3 ra đời của các tác giả trong và ngoài nước hưởng ứng. Song, để làm một bài thơ 1-2-3 cho hay ở thể loại này không phải dễ. Vì nó có quy định nghiêm ngặt về số câu (6 câu) số chữ tối đa ở mỗi câu, kể cả đầu bài (Khổ 1 là 1 câu- đầu đề bài thơ, tối đa 11 chữ. Khổ 2 có 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ, và Khổ 3 có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Câu đầu và câu cuối phải có sự hô ứng để làm rõ chủ đề bài thơ). Một bài thơ hay cần nhiều yếu tố, nhưng có ba yếu tố quan trọng như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã nói:

Túi nhà thơ có ba ngăn

Tứ, Từ, Tư đủ quanh năm tiêu xài.

(Một là có Tứ thơ mới lạ, hai là Từ ngữ dùng đúng lúc, đúng chỗ, ba là tính tưởng của bài thơ phải cao và đẹp). Thơ Đỗ Nguyên Thương dù viết về đề tài nào, thể loại nào cũng đằm thắm một tình yêu đôn hậu, chân tình, tạo được sự lắng đọng nơi trái tim người đọc. Một hồn thơ  như thế luôn chứa đựng những buồn, vui, sướng, khổ về nhân tình thế thái.

Riêng tên tập thơ 1-2-3 “Tìm về miền ký ức” đã toát lên chủ đề của những bài thơ. Đó là những kỷ niệm đẹp về quê hương với bốn mùa xuân hạ thu đông rất đáng yêu. Đó là những kỷ niệm về tuổi học trò, tình đồng nghiệp gắn với bảng đen phấn trắng. Đó là tình bạn, tình yêu, là những ước mơ, hy vọng đẹp. Mỗi bài thơ như một lát cắt về cuộc sống và con người trong quá khứ và hiện tại, tương lai. Ký ức là hành trang theo ta suốt đời, là nguồn sữa mẹ nuôi ta trên mỗi chặng đường. Bài “Ký ức” có thể coi là tuyên ngôn của tập thơ:

 Ký ức

Là những gì hôm qua mà hôm nay còn thức

Chẳng chịu ngủ yên năm tháng qua rồi

 

Có buồn, có day dứt, có vui

Có hình ảnh người thân và rất nhiều cảnh vật

Nuôi lớn trong ta như sữa mẹ tinh thần.

Những ký ức ấy hiện lên vẻ đẹp đáng yêu qua cách cảm, cách nghĩ thấm đậm tình đời, tình người rất trong sáng và nhân văn qua “Đôi mắt nhìn đời”:

Đôi mắt nhìn đời

 

Nhìn đời qua lăng kính yêu thương

Mọi sự vật lung linh hơn dáng hình sẵn có

 

Xung quanh đều là bạn, cả lá hoa cây cỏ

Ai cũng đẹp hơn và thánh thiện hơn nhiều

Thế giới diệu kỳ - thế giới thật đáng yêu.

 

Tình cảm này, hồn thơ này qua “lăng kính yêu thương” sẽ lan tỏa khắp tập thơ, nó như chất xúc tác để gắn kết tính hiện thực, tính lãng mạn và tính thẩm mỹ và từ đó toát nên tính tư tưởng cao đẹp, không gượng ép hô hào kiểu khẩu hiệu.

Đỗ Nguyên Thương viết Lý luận phê bình văn học là chính, và chị đến với thơ như một sự tình cờ để giãi bày những ẩn ức, vui buồn của cuộc đời. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chị đã rất yêu thơ. Giấc mộng văn chương vẫn đeo bám chị trên mỗi chặng đường. Chính tình yêu nghề và sự đam mê văn chương là ngọn lửa thắp nên niềm đam mê để chị viết khỏe, để cảm xúc thơ luôn thăng hoa qua tư duy hình tượng kết hợp hài hòa với tư duy logic.

Ở “Tìm về miền ký ức”, người đọc thấy rõ hơn những rung động của con tim trước vẻ đẹp của quê hương đất nước. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng. Đó là những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện như tranh thuỷ mặc, khi điệp trùng hùng vĩ như núi cao, biển rộng, khi thủ thỉ như lời tâm sự lứa đôi hiện ra ở các bài: Mưa mùa hạ, Nói với mùa xuân sắp đến, Mùa đông và nước hoa, Đông lạnh cần hơi ấm, Chiều Trung du, Hồ mờ sương, Mộc Châu mãi xanh trong ký ức, Về quê đất Tổ đi anh, Về Ngã ba Đồng Lộc… Những bài thơ là những bức tranh nội tâm với nhiều gam màu thương nhớ. Hãy lắng nghe lời tâm tình trước Mưa mùa hạ. Mưa của thiên nhiên và mưa của tình yêu đôi lứa?

Mưa mùa hạ

 

Gõ vào mái tôn nhà hàng xóm

Gõ vào khung cửa sắt nhà mình

 

Âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh

Làm dịu mát những ngày hè nóng bức

Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa.

Ở khổ 1 là câu thơ đầu bài mang tứ thơ “Mưa”, và từ đó nhà thơ triển khai bằng hai câu tả thực ở khổ 2: Mưa gõ vào mái tôn hàng xóm và gõ vào khung cửa sắt nhà mình. Tiếng gõ của mưa làm bừng tỉnh không gian, đánh thức giác quan và sự rung động để dẫn đến khổ 3: Là những nhận định mang hình hài lý trí “âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh/Làm mát những ngày hè nóng bức”. Và câu kết mới là “điểm sáng thẩm mỹ”, khép lại tứ thơ: “Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa”. Câu 6 góp phần “hô ứng” với câu 1 – đầu đề bài thơ. Và người đọc thấy mưa chỉ là cái cớ để chị mượn nói về tình yêu - một tình yêu đích thực, khát khao suốt năm tháng (bốn mùa). Có thể xem đây là cơn “mưa tình” rất đẹp, nó làm dịu mát tâm hồn ta với bao hy vọng đợi chờ trong xa cách nhớ thương. Bài thơ được đưa lên đầu tập thơ làm đọc giả muốn đọc tiếp một mạch để khám phá vẻ đẹp của các bài thơ khác. Thơ 1-2-3 có được những bài đầy liên tưởng ẩn dụ như vậy không nhiều.

Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người (Đỗ Trung Quân), thì chị đã cho ta thấy một tình quê hương, đất nước nồng nàn, tha thiết. Bàn chân chị đặt đến vùng đất nào là những địa danh vùng đất ấy ùa vào trang thơ. Nào Đền Hùng, đất Tổ, Việt Trì (Phú Thọ) hay Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Mộc Châu (Sơn La). Nào Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), đường lên Tây Tiến  hay miệt vườn Tây Nam Bộ…Cảnh sắc thiên nhiên và con người cứ hiện lên qua mỗi vần thơ như một đoạn phim quay cận cảnh, thật đáng yêu dường nào. Trong hành trang nỗi nhớ của những kỷ niệm xưa, Đỗ Nguyên Thương luôn khắc sâu về những vùng đất chị đã qua và nơi chị trở lại. Nơi đó không biết giờ này ra sao, nỗi hoài niệm cứ dâng lên tầng tầng lớp lớp. Nếu không có tâm hồn lộng gió bốn phương và cái nhìn đầy nhân ái, làm sao có được những vần thơ như thế. Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị chính là tình yêu đời, là nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, về tình yêu đôi lứa. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Bài “Về quê” là tiếng mời gọi tâm tình nhỏ nhẹ rất nữ tính: “Về quê/Về quê em đi anh/Nắng vẫn nắng và hoa sen khoe sắc/Gió vẫn tự tình khúc hát trung du/Khúc nắng hạ dọn dẹp đợi mùa thu/Như em đợi anh, bất chấp hè nắng gió”. Đó cũng là tiếng gọi của quê hương, tiếng gọi của tình yêu với người xa xứ.

Nhà Lý luận phê bình văn học Đào Thái Sơn đã viết “Bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng, chính vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ thuật”. Hình tượng trong thơ chị ẩn chứa trong ánh mắt và con tim của nhân vật trữ tình, có khi hiện ra dễ thấy một cách chân thực và mang tính triết luận: “Một cuộc đời ý nghĩa khi hoàn thiện giấc mơ vui”, hay “Trong em, anh là hòn sỏi nhỏ sức mạnh vô song”, hoặc “Ánh sáng từ biển tri thức vô bờ tan lạnh giá con tim”…Những câu thơ về tình yêu như thế ghim được vào trái tim người đọc. Lại có khi hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu thơ ẩn hiện như con “rồng thần” khó nắm bắt. Khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, nhìn kỷ vật đơn sơ mà thấy lòng nghẹn đắng một miền xanh ký ức, để rồi “Có tiếng nhói phía sau lồng ngực/Nghẹn ngào/Thương…”. Tôi có cảm giác như thấy những giọt nước mắt của cái tôi trữ tình đang lặng thầm chảy ngược vào tim. Hoặc những câu thơ gợi nhiều liên tưởng “Bên cây xanh thấy lãi nhiều ngày” (Vui một ngày là lãi một ngày)

Ở mảng thơ thời áo trắng sân trường, tuy không mới nhưng chị đã tìm được tứ thơ và có cách thể hiện một cách hồn nhiên, chân tình gần gũi ở các bài: Sân trường ngày hiến chưng nhà giáo Việt Nam, Một ngày vui tại trường em… và đó chính là những vần thơ  “nhịp cầu nhân vạn dặm yêu thương”… để vui cùng thầy cô bè bạn ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 hàng năm, để được ôm hôn bè bạn cùng trang lứa, để được các em học sinh vây quanh như đàn chim tìm về tổ ấm của lớp mình năm xưa.

Trong miền ký ức sâu thẳm của tập thơ, có nỗi nhớ, niềm thương, niềm tin và những khát khao, hy vọng. Nó cứ trải dài theo mỗi bước chân của chị trên mỗi cung đường. Sáu mươi ba bài thơ 1-2-3 của chị không bị câu thức bởi luật thơ. Chị đã cố gắng nén năng lượng chữ ở mỗi câu thơ. Có câu chỉ một chữ có câu 2,3,4,,6,7 chữ, ít có câu tối đa 13 chữ. Hình ảnh, nhịp điệu của cảm xúc trữ tình được diễn đạt một cách dễ hiểu, luôn toát lên lòng lạc quan yêu đời.

Gương mặt thơ Đỗ Nguyên Thương qua thơ 1-2-3 đến với bạn đọc đã để lại nhiều cảm mến. Chị đã đánh thức con tim của bao người về những miền ký ức đẹp xa vời qua ngôn ngữ vừa dân dã vừa hiện đại, có sự kết hợp khéo léo giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ văn chương. Điều đó đã góp phần làm cho nhiều bài thơ nổi gió, bay cao như giai điệu vút lên ở những bản nhạc. Tôi tin rằng thơ chị sẽ còn bay xa và vang vọng hơn nữa. Mong rằng thơ 1-2-3 của chị luôn là một “hằng số bất biến” “mặc định” những thông điệp yêu thương đa sắc đa thanh tắm mát hồn người. Xin trân trọng giới thiệu tập “Tìm về miền ký ức” của nhà giáo, nhà Lý luận phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương cùng bạn đọc.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm