TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tròn một năm ngày mất Trịnh Bửu Hoài - “Một hồn thơ đẹp nghĩa kim bằng”

Tròn một năm ngày mất Trịnh Bửu Hoài - “Một hồn thơ đẹp nghĩa kim bằng”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-07 23:01:37
mail facebook google pos stwis
2231 lượt xem

NGUYỄN THANH

Trong đội ngũ những nhà thơ hàng đầu ở phương Nam, Trịnh Bửu Hoài sở hữu một sắc thơ hồn hậu và dễ thương với bút pháp dung dị mà kinh điển. Trịnh thi sĩ cũng viết báo, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo… nhưng sự nghiệp của anh tập trung vào lĩnh vực thi ca gồm nhiều tập thơ, trường ca và tiểu thuyết. Số tác phẩm xuất bản khoảng trên 60 quyển. Hai bài thơ được phổ nhạc: Cánh phượng hồng thuở xưa (NS Anh Bằng), Làm thơ tình em đọc (NS Trúc Hồ).

Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ: Phóng viên đài phát thanh, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Châu Đốc, Chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Anh Giang, Phó Ban Công tác Hội Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long. Và là Hội viên của: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.


            Ảnh Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài 

Đất An Giang, miền biên thùy Tây Nam tổ quốc với đồng lúa mênh mông và núi rừng bạt ngàn là vùng đất linh nhân kiệt về lịch sử văn hóa. Bác Tôn Đức Thắng kính yêu, hai nhà văn lớn cùng được giải Hồ Chí Minh là Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo. Nhà thơ Viễn Phương, nhà văn Nguyễn Văn Hầu, các nhạc sĩ Hoàng Việt , Phan Nhân…nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, ông hoàng dĩa nhựa Tấn Tài, soạn giả Thái Thụy Phong… Trong lĩnh vực thi ca, Trịnh Bửu Hoài là một khuôn mặt thơ quen thuộc trong nước có khối lượng tác phẩm nhiều và  đa dạng ở phương Nam.

Trịnh Bửu Hoài (1952-2022) là tên thật, người xã Mỹ Đức, tỉnh An Giang. Say mê văn chương từ thuở còn ngồi trên ghế trường tiểu học, mới 14 tuổi (năm 1966), Trịnh Bửu Hoài đã cầm bút làm thơ. Khoảng thời gian này, đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam, tôi trốn quân dịch, bỏ trường Trung học ở một huyện xa về tỉnh nhà ẩn náu dạy tư và chủ trương tạp chí Văn nghệ Miền Tây cùng một nhóm sinh viên học sinh và trí thức, nhà văn nghệ sĩ tiến bộ : Nguyễn Bá Thế, Sơn Nam, Kiên Giang, Hoài Nam Tử, Lý Thị Kim Xương, Giáo sư : Nguyễn Bá Thảo, Nguyễn Đức Minh, nhà giáo Nguyễn Văn Xứng,… Tôi vừa đi dạy học, vừa viết báo và mở phòng tranh theo sở thích văn nghệ của mình.

Tây Đô lúc này ở trong  không khí hoạt động văn nghệ, báo chí khá sôi nổi: nhà báo An Khê Nguyễn Bính Thinh làm tờ Miền Tây ở đường Thủ Khoa Huân, gần Sở Bưu Điện – sau đó gần 10 năm, ông Hải cũng làm lại tờ Miền Tây ở đường Minh Mạng (nay là đường Đồng Khởi). Tờ tạp chí có lửa Văn nghệ Miền Tây (1967-1970) của Nguyễn Thanh chủ trương đặt tại Garage 2 Hòa Bình của gia đình anh Dương Văn Hóa cũng là một bạn văn. Trong lúc đó, bạn thơ Lê Trúc Khanh phụ trách Thi Văn đoàn Về Nguồn trên đài Phát thanh Cần Thơ, thường  xuyên có chương trình văn nghệ khá sung túc vào tối thứ năm hằng tuần. Tại căn hộ cặp sát lề đường số 11 đường Pasteur – nay là Võ Thị Sáu – nơi nhà một chị bạn yêu văn nghệ Trương Huỳnh Mai có cà phê Thằng Cuội. Nơi đường Cống Quỳnh, cạnh hồ Xáng Thổi bên bờ sông Cái Khế lộng gió (gần cầu Nhị Kiều đường Hoàng Văn Thụ hiện nay) có Cà phê Sống vốn là điểm gặp gỡ rầm rộ của anh em văn nghệ. Các bạn sinh viên, học sinh và văn nghệ sĩ đất Tây Đô ngồi uống cà phê, nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn,... và nhạc buồn của Trúc Phương, Thanh Sơn,… và nghe nói về các đề tài nghệ thuật văn chương trình bày bởi những văn nghệ sĩ nổi tiếng vào những chiều thứ bảy.

Trong không gian sinh hoạt văn nghệ rầm rộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long lúc bấy giờ, tôi và Trịnh Bửu Hoài đã nghe biết tiếng nhau, cùng quý trọng nhau ở sở thích và đam mê, nhưng ở xa nhau nên chưa hề gặp mặt một lần hoặc cùng ngồi uống cà phê và tán gẫu chuyện văn chương. Mãi cho tới sau ngày hòa bình thực sự lập lại trên quê hương, qua báo chí và tác phẩm xuất bản thêm của anh, và những lần đi thực tế ở Núi Cấm, An Giang, tôi mới có dịp được hiểu nhiều về cuộc đời và thân thế của nhà thơ tài hoa Trịnh Bửu Hoài nơi miền biên thùy Tây Nam của tổ quốc.

Trịnh Bửu Hoài là chân dung hồn hậu của một nhà thơ tài năng và đa dạng, nổi bật ở nhiều bình diện văn hóa. Sự nghiệp văn chương phong phú của anh là những tác phẩm văn học mang chủ đề tư tưởng thâm thúy và lành mạnh mà nhiều bạn thơ, nhà phê bình  như nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà văn Mường Mán, nữ nhà văn Trầm Nguyên Ý Anh… đã có dịp nói đến trong các bài tiểu luận về nhà thơ miền biên thùy Tây Nam bộ này.

Trong văn đàn thế giới, ngoài tình yêu là chủ đề quan trọng trong thi ca đông tây xưa nay, tình bằng hữu được coi là mảng đề tài sâu sắc mang tính nhân văn trong thi ca. Người yêu văn chương không bao giờ quên tình bạn cao đẹp trong văn học dân gian hay bác học qua các truyện nổi tiếng thể hiện mối tình thâm rực sáng nghĩa kim bằng như  Bá Nha - Tử Kỳ, Trần Minh - Nhuận Điền, Lưu Bình - Dương Lễ, Xuân Diệu - Huy Cận hay Arthur Rimbaud – Paul Verlaine…

Với một tâm hồn lãng tử phóng khoáng của người nghệ sĩ, Trịnh Bửu Hoài đã xuôi ngược sông hồ đây đó ngay từ thuở mới cầm bút nên anh có nhiều cơ hội phơi trải lòng  mình với bè bạn văn nghệ tri âm ở ba miền đất nước. Ngoài miền đất mẹ Bảy Núi An Giang với thế núi hình sông hùng vĩ hữu tình: Ngước mặt về tây, Thất Sơn sừng sững/ Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông, nơi đâu “có chùm khế ngọt” và “con đò nhỏ” từng đặt chân đến, nhà thơ cũng coi là quê hương và ai cũng là anh em, bè bạn – tứ hải giai huynh đệ – Huống chi là người bạn đồng hương ngày xưa vốn đã xem nhẹ cuộc đời dâu bể, tình cờ nhà thơ gặp lại nơi bến sông trăngBạn xem công danh là phù vân, suốt đời lênh đênh mái chèo trên sông nước như chiếc bèo nhỏ giữa trường giang mặc cho bao kẻ bon chen xuôi ngược vì vật chất áo cơm: “Áo cơm không là nợ/ Hồn phơi phới ngàn lau/ Ai vào cuộc bề dâu/ Bạn đùa trăng vọc nước (Bạn tôi)”. Ở đây, phải chăng người đọc cảm thấy tư tưởng nhà thơ phảng phất một nhân sinh quan yếm thế của Lão Trang từng thể hiện trong thi ca Việt Nam (Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…) và Trung Quốc (Lý Bạch, Đào Tiềm…).

Hẳn là không. Vì lẽ đến hôm nay, sau thời khói lửa tóc tang, đất nước đã thanh bình hơn bốn mươi năm, nhân dân đã xây dựng lại quê hương trở nên giàu mạnh. Và mọi người ai cũng được tự do, bình đẳng sống trong sự thụ hưởng vật chất và tinh thần trong đảm bảo an ninh trật tự của một quốc gia hòa bình thịnh vượng. Nhà thơ, người nghệ sĩ, chắc hẳn hơn ai hết đã đến lúc muốn được mở rộng vườn lòng sâu kín của mình để cộng hưởng tất cả niềm vui đích thực từ cuộc đời sung mãn của mình cũng như đất nước giàu đẹp của mình với bè bạn, anh em như câu nói lạc quan của một nhà thơ: Đấy là quán tha hồ muôn khách đến hay là vườn chim nhả hạt mười phương khi mọi người tình cờ được hội ngộ cùng nhau ở bất cứ nơi nào trên non sông hoa gấm hôm nay.

Với tình cảm trong ấy, khi dùng chân nơi xứ Huế với sông Hương thơ mộng và núi Ngự hữu tình,  đã vui mừng trong gặp gỡ anh em bao nhiêu, phút chia tay, Trịnh Bửu Hoài càng cảm thấy lưu luyến ngậm ngùi bấy nhiêu: Chúc bạn về ngủ ngonNhưng ta làm sao ngủ được…/ Huế thơ mà bạn ta nghèo/ Quá đêm còn nằm thao thức/ Nhậm ngùi một mảnh trăng treo. Đến phố cổ Hội An, Quảng Nam trầm mặc u huyền, được quen thêm bạn mới. Khi giã biệt nhà thơ khôn ngăn nỗi bịn rịn, muốn bạn theo luôn mình xuôi về phương Nam: Mênh mông tình người xứ Quảng/ Theo ta… xuôi về phương Nam (Về phố cổ). Một chiều đến Sa-Pa mộng mơ, cheo leo trên đỉnh Hoàng Liên Sơn sương giăng mây phủ, hồn thơ cảm thấy chơi vơi, thăng hoa như trút bỏ hết được mớ bòng bong ưu nhân thế trức ánh mắt hồn nhiên tình tứ của cô gái Mèo: Chiều Sa-Pa sương giăng mịt mùng/ Tôi lạc vào nẻo hư hay thật/ Cô gái Mèo hồn nhiên ánh mắt/ Tôi bỏ ưu tư ở lại bên trời (Chiều Sa Pa).

Cả những ngày đầy nắng ở Tây Nguyên mịt mùng sương mù phố núi càng làm cho nhà thơ nhớ thương dào dạt về người bạn thơ ngày xưa thân phận long đong trôi dạt mà không buồn độc ẩm: Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Ta ngó núi không buồn rót rượu/ Nằm nghe rừng núi hát thơ người… Tình bạn ở Trịnh Bửu Hoài là nghĩa tình sâu nặng, đằm thắm cháy lên nồng nàn từ trái tim một nhà thơ rực sáng nghĩa kim bằng: Ta về Pleiku một ngày đầy nắng/ Thêm chút mùa đông trên má hồng/ Nhớ anh ta một đời lận đận/ Trôi dạt đồng bằng sông nước mênh mông/ Lang thang Tây nguyên bồng bềnh mây trắng/…Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Gió hạ Lào thông thốc thổi mây trôi… (Về Pleiku nhớ bạn).

Từ muôn thu, ta thấy thơ, rượu cả nhạc thường gắn liền với nghệ sĩ thi nhân, bè bạn như một định mệnh. Rimaud-Verlaine với mối tình trai trong văn học Pháp rồi Lý Bạch, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn… cùng bằng hữu tri âm đã để lại hậu thế những vần thơ tuyệt bút ngan ngát men nồng. Vì lẽ, vắng bạn thì nhà thơ lấy ai để cùng đối ẩm và tâm sự hàn huyên: Ra đi hồn chở đầy cố xứ/ Đêm dài ai uống rượu tri âm (Tiễn bạn). Những vần thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài mang âm hưởng ngậm ngùi khiến tôi nhớ đến bài thơ “Lâm giang tống Hạ Chiêm” (Bên sông tiễn Hạ Chiêm) của thi sĩ thời Trung Đường Bạch Cư Dị (772 – 846): Bi quân lão biệt, lệ triêm cân/ Thất thập vô gia vạn lý thân/ Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/ Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân ( Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu/ Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu/ Buồn trông trận gió theo thuyền nổi/ Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu – Tản Đà dịch thơ). Giọng thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài – tâp thơ Ký ức – và tác giả Tỳ Bà hành đều lâm ly buồn não, hoàn toàn khác biệt với phong cách nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) trong bài “Tống biệt hành” với giọng hào sảng của kẻ nam nhi có chí khí và lý tưởng trong thời chiến. Nhưng tôi thiển nghĩ hình ảnh người bạn hiện diện trong thơ Trịnh Bửu Hoài có lẽ cũng gián tiếp nói lên một phần mặc cảm cô đơn trong cuộc sống của nhà thơ mà ít ai biết được! Về bút pháp, nhìn chung, thơ Trịnh Bửu Hoài dựa trên nền tảng thơ mới phá cách: ngũ ngôn, lục ngôn rồi 7 chữ, 8 chữ nhưng giai điệu, cung bậc luôn thay đổi.

Ngôn ngữ chọn lọc, giàu hình tượng, câu thơ dài ngắn khác nhau diễn tả thích hợp với biến thiên tình cảm mang mang trong lòng kẻ ở người đi và người đọc.

Hôm nay, chinh chiến đã lùi xa, đạn bom im tiếng, từ cuối miền đất nước, Trịnh Bửu Hoài có cơ hội đi qua miền Trung gió Lào cát trắng để “hành Tây Bắc” – chiếc nôi ấm huyền thoại của cách mạng qua hai cuộc đấu tranh thần thánh và chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Đến đâu, nhà thơ cũng cùng nhau thù tạc chuyện trò, trong không khí tình cảm “tứ hải giai huynh đệ” (bốn bể đều là anh em) khiến tác giả càng có thêm những vần thơ ấm nồng  tình bạn…

 Dù sở hữu số lượng không nhỏ về thi tập, nhưng ít ai ngờ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã từng là tác giả của một best-seller (sách bán chạy nhất) bán đắt như tôm tươi. Theo nhà thơ quen thuộc Lê Thiếu Nhơn, cuối những năm của thập niên 1980, Trịnh thi sĩ đã từng viết 20 tiểu thuyết trong đó quyển truyện dài “Tình yêu đâu phải là trò chơi” từng được hơn ba nhà xuất bản săn đón in trên 70 ngàn cuốn. Sự hấp dẫn của  “Tình yêu đâu phải là trò chơi” khiến cho một người đã nhái theo, viết cuốn Tình yêu đâu phải là trò đùa nhưng ký tên Trịnh Vũ Hoài để đánh lừa độc giả. Vỡ lẽ ra rùm beng chuyện đạo văn, cục Xuất bản ra lệnh thu hồi cuốn truyện nhái Tình yêu đâu phải là trò đùa của Trịnh Vũ Hoài !

 Tình bạn với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đích thực là tình bằng hữu mang ý nghĩa tình bầu bạn thủy chung cao đẹp trong đời người, không tương đồng với tình cảm giữa những bạn đời, bạn tình, bạn đường, bạn đồng chí (comrade)… Và hôm nay – nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã đi xa, nghỉ ngơi ở thế giới ly tao vĩnh hằng của Nguyễn Du, Lý Bạch.  Nhưng những độc giả yêu thơ thi sĩ vẫn không bao giờ quên chân dung dịu dàng đôn hậu của anh : vẫn hồn nhiên mỗi ngày theo đuổi chữ nghĩa với đau đáu nhân sinh “không còn ai bên máy chữ gọi thơ về”. 

 

                                                                           4. 12. 2023

                                                                                  N.T          

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm