TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tròn một năm ngày mất Trịnh Bửu Hoài - “Một hồn thơ đẹp nghĩa kim bằng”

Tròn một năm ngày mất Trịnh Bửu Hoài - “Một hồn thơ đẹp nghĩa kim bằng”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-07 23:01:37
mail facebook google pos stwis
2068 lượt xem

NGUYỄN THANH

Trong đội ngũ những nhà thơ hàng đầu ở phương Nam, Trịnh Bửu Hoài sở hữu một sắc thơ hồn hậu và dễ thương với bút pháp dung dị mà kinh điển. Trịnh thi sĩ cũng viết báo, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo… nhưng sự nghiệp của anh tập trung vào lĩnh vực thi ca gồm nhiều tập thơ, trường ca và tiểu thuyết. Số tác phẩm xuất bản khoảng trên 60 quyển. Hai bài thơ được phổ nhạc: Cánh phượng hồng thuở xưa (NS Anh Bằng), Làm thơ tình em đọc (NS Trúc Hồ).

Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ: Phóng viên đài phát thanh, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Châu Đốc, Chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Anh Giang, Phó Ban Công tác Hội Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long. Và là Hội viên của: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.


            Ảnh Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài 

Đất An Giang, miền biên thùy Tây Nam tổ quốc với đồng lúa mênh mông và núi rừng bạt ngàn là vùng đất linh nhân kiệt về lịch sử văn hóa. Bác Tôn Đức Thắng kính yêu, hai nhà văn lớn cùng được giải Hồ Chí Minh là Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo. Nhà thơ Viễn Phương, nhà văn Nguyễn Văn Hầu, các nhạc sĩ Hoàng Việt , Phan Nhân…nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, ông hoàng dĩa nhựa Tấn Tài, soạn giả Thái Thụy Phong… Trong lĩnh vực thi ca, Trịnh Bửu Hoài là một khuôn mặt thơ quen thuộc trong nước có khối lượng tác phẩm nhiều và  đa dạng ở phương Nam.

Trịnh Bửu Hoài (1952-2022) là tên thật, người xã Mỹ Đức, tỉnh An Giang. Say mê văn chương từ thuở còn ngồi trên ghế trường tiểu học, mới 14 tuổi (năm 1966), Trịnh Bửu Hoài đã cầm bút làm thơ. Khoảng thời gian này, đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam, tôi trốn quân dịch, bỏ trường Trung học ở một huyện xa về tỉnh nhà ẩn náu dạy tư và chủ trương tạp chí Văn nghệ Miền Tây cùng một nhóm sinh viên học sinh và trí thức, nhà văn nghệ sĩ tiến bộ : Nguyễn Bá Thế, Sơn Nam, Kiên Giang, Hoài Nam Tử, Lý Thị Kim Xương, Giáo sư : Nguyễn Bá Thảo, Nguyễn Đức Minh, nhà giáo Nguyễn Văn Xứng,… Tôi vừa đi dạy học, vừa viết báo và mở phòng tranh theo sở thích văn nghệ của mình.

Tây Đô lúc này ở trong  không khí hoạt động văn nghệ, báo chí khá sôi nổi: nhà báo An Khê Nguyễn Bính Thinh làm tờ Miền Tây ở đường Thủ Khoa Huân, gần Sở Bưu Điện – sau đó gần 10 năm, ông Hải cũng làm lại tờ Miền Tây ở đường Minh Mạng (nay là đường Đồng Khởi). Tờ tạp chí có lửa Văn nghệ Miền Tây (1967-1970) của Nguyễn Thanh chủ trương đặt tại Garage 2 Hòa Bình của gia đình anh Dương Văn Hóa cũng là một bạn văn. Trong lúc đó, bạn thơ Lê Trúc Khanh phụ trách Thi Văn đoàn Về Nguồn trên đài Phát thanh Cần Thơ, thường  xuyên có chương trình văn nghệ khá sung túc vào tối thứ năm hằng tuần. Tại căn hộ cặp sát lề đường số 11 đường Pasteur – nay là Võ Thị Sáu – nơi nhà một chị bạn yêu văn nghệ Trương Huỳnh Mai có cà phê Thằng Cuội. Nơi đường Cống Quỳnh, cạnh hồ Xáng Thổi bên bờ sông Cái Khế lộng gió (gần cầu Nhị Kiều đường Hoàng Văn Thụ hiện nay) có Cà phê Sống vốn là điểm gặp gỡ rầm rộ của anh em văn nghệ. Các bạn sinh viên, học sinh và văn nghệ sĩ đất Tây Đô ngồi uống cà phê, nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn,... và nhạc buồn của Trúc Phương, Thanh Sơn,… và nghe nói về các đề tài nghệ thuật văn chương trình bày bởi những văn nghệ sĩ nổi tiếng vào những chiều thứ bảy.

Trong không gian sinh hoạt văn nghệ rầm rộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long lúc bấy giờ, tôi và Trịnh Bửu Hoài đã nghe biết tiếng nhau, cùng quý trọng nhau ở sở thích và đam mê, nhưng ở xa nhau nên chưa hề gặp mặt một lần hoặc cùng ngồi uống cà phê và tán gẫu chuyện văn chương. Mãi cho tới sau ngày hòa bình thực sự lập lại trên quê hương, qua báo chí và tác phẩm xuất bản thêm của anh, và những lần đi thực tế ở Núi Cấm, An Giang, tôi mới có dịp được hiểu nhiều về cuộc đời và thân thế của nhà thơ tài hoa Trịnh Bửu Hoài nơi miền biên thùy Tây Nam của tổ quốc.

Trịnh Bửu Hoài là chân dung hồn hậu của một nhà thơ tài năng và đa dạng, nổi bật ở nhiều bình diện văn hóa. Sự nghiệp văn chương phong phú của anh là những tác phẩm văn học mang chủ đề tư tưởng thâm thúy và lành mạnh mà nhiều bạn thơ, nhà phê bình  như nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà văn Mường Mán, nữ nhà văn Trầm Nguyên Ý Anh… đã có dịp nói đến trong các bài tiểu luận về nhà thơ miền biên thùy Tây Nam bộ này.

Trong văn đàn thế giới, ngoài tình yêu là chủ đề quan trọng trong thi ca đông tây xưa nay, tình bằng hữu được coi là mảng đề tài sâu sắc mang tính nhân văn trong thi ca. Người yêu văn chương không bao giờ quên tình bạn cao đẹp trong văn học dân gian hay bác học qua các truyện nổi tiếng thể hiện mối tình thâm rực sáng nghĩa kim bằng như  Bá Nha - Tử Kỳ, Trần Minh - Nhuận Điền, Lưu Bình - Dương Lễ, Xuân Diệu - Huy Cận hay Arthur Rimbaud – Paul Verlaine…

Với một tâm hồn lãng tử phóng khoáng của người nghệ sĩ, Trịnh Bửu Hoài đã xuôi ngược sông hồ đây đó ngay từ thuở mới cầm bút nên anh có nhiều cơ hội phơi trải lòng  mình với bè bạn văn nghệ tri âm ở ba miền đất nước. Ngoài miền đất mẹ Bảy Núi An Giang với thế núi hình sông hùng vĩ hữu tình: Ngước mặt về tây, Thất Sơn sừng sững/ Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông, nơi đâu “có chùm khế ngọt” và “con đò nhỏ” từng đặt chân đến, nhà thơ cũng coi là quê hương và ai cũng là anh em, bè bạn – tứ hải giai huynh đệ – Huống chi là người bạn đồng hương ngày xưa vốn đã xem nhẹ cuộc đời dâu bể, tình cờ nhà thơ gặp lại nơi bến sông trăngBạn xem công danh là phù vân, suốt đời lênh đênh mái chèo trên sông nước như chiếc bèo nhỏ giữa trường giang mặc cho bao kẻ bon chen xuôi ngược vì vật chất áo cơm: “Áo cơm không là nợ/ Hồn phơi phới ngàn lau/ Ai vào cuộc bề dâu/ Bạn đùa trăng vọc nước (Bạn tôi)”. Ở đây, phải chăng người đọc cảm thấy tư tưởng nhà thơ phảng phất một nhân sinh quan yếm thế của Lão Trang từng thể hiện trong thi ca Việt Nam (Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…) và Trung Quốc (Lý Bạch, Đào Tiềm…).

Hẳn là không. Vì lẽ đến hôm nay, sau thời khói lửa tóc tang, đất nước đã thanh bình hơn bốn mươi năm, nhân dân đã xây dựng lại quê hương trở nên giàu mạnh. Và mọi người ai cũng được tự do, bình đẳng sống trong sự thụ hưởng vật chất và tinh thần trong đảm bảo an ninh trật tự của một quốc gia hòa bình thịnh vượng. Nhà thơ, người nghệ sĩ, chắc hẳn hơn ai hết đã đến lúc muốn được mở rộng vườn lòng sâu kín của mình để cộng hưởng tất cả niềm vui đích thực từ cuộc đời sung mãn của mình cũng như đất nước giàu đẹp của mình với bè bạn, anh em như câu nói lạc quan của một nhà thơ: Đấy là quán tha hồ muôn khách đến hay là vườn chim nhả hạt mười phương khi mọi người tình cờ được hội ngộ cùng nhau ở bất cứ nơi nào trên non sông hoa gấm hôm nay.

Với tình cảm trong ấy, khi dùng chân nơi xứ Huế với sông Hương thơ mộng và núi Ngự hữu tình,  đã vui mừng trong gặp gỡ anh em bao nhiêu, phút chia tay, Trịnh Bửu Hoài càng cảm thấy lưu luyến ngậm ngùi bấy nhiêu: Chúc bạn về ngủ ngonNhưng ta làm sao ngủ được…/ Huế thơ mà bạn ta nghèo/ Quá đêm còn nằm thao thức/ Nhậm ngùi một mảnh trăng treo. Đến phố cổ Hội An, Quảng Nam trầm mặc u huyền, được quen thêm bạn mới. Khi giã biệt nhà thơ khôn ngăn nỗi bịn rịn, muốn bạn theo luôn mình xuôi về phương Nam: Mênh mông tình người xứ Quảng/ Theo ta… xuôi về phương Nam (Về phố cổ). Một chiều đến Sa-Pa mộng mơ, cheo leo trên đỉnh Hoàng Liên Sơn sương giăng mây phủ, hồn thơ cảm thấy chơi vơi, thăng hoa như trút bỏ hết được mớ bòng bong ưu nhân thế trức ánh mắt hồn nhiên tình tứ của cô gái Mèo: Chiều Sa-Pa sương giăng mịt mùng/ Tôi lạc vào nẻo hư hay thật/ Cô gái Mèo hồn nhiên ánh mắt/ Tôi bỏ ưu tư ở lại bên trời (Chiều Sa Pa).

Cả những ngày đầy nắng ở Tây Nguyên mịt mùng sương mù phố núi càng làm cho nhà thơ nhớ thương dào dạt về người bạn thơ ngày xưa thân phận long đong trôi dạt mà không buồn độc ẩm: Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Ta ngó núi không buồn rót rượu/ Nằm nghe rừng núi hát thơ người… Tình bạn ở Trịnh Bửu Hoài là nghĩa tình sâu nặng, đằm thắm cháy lên nồng nàn từ trái tim một nhà thơ rực sáng nghĩa kim bằng: Ta về Pleiku một ngày đầy nắng/ Thêm chút mùa đông trên má hồng/ Nhớ anh ta một đời lận đận/ Trôi dạt đồng bằng sông nước mênh mông/ Lang thang Tây nguyên bồng bềnh mây trắng/…Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Gió hạ Lào thông thốc thổi mây trôi… (Về Pleiku nhớ bạn).

Từ muôn thu, ta thấy thơ, rượu cả nhạc thường gắn liền với nghệ sĩ thi nhân, bè bạn như một định mệnh. Rimaud-Verlaine với mối tình trai trong văn học Pháp rồi Lý Bạch, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn… cùng bằng hữu tri âm đã để lại hậu thế những vần thơ tuyệt bút ngan ngát men nồng. Vì lẽ, vắng bạn thì nhà thơ lấy ai để cùng đối ẩm và tâm sự hàn huyên: Ra đi hồn chở đầy cố xứ/ Đêm dài ai uống rượu tri âm (Tiễn bạn). Những vần thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài mang âm hưởng ngậm ngùi khiến tôi nhớ đến bài thơ “Lâm giang tống Hạ Chiêm” (Bên sông tiễn Hạ Chiêm) của thi sĩ thời Trung Đường Bạch Cư Dị (772 – 846): Bi quân lão biệt, lệ triêm cân/ Thất thập vô gia vạn lý thân/ Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/ Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân ( Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu/ Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu/ Buồn trông trận gió theo thuyền nổi/ Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu – Tản Đà dịch thơ). Giọng thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài – tâp thơ Ký ức – và tác giả Tỳ Bà hành đều lâm ly buồn não, hoàn toàn khác biệt với phong cách nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) trong bài “Tống biệt hành” với giọng hào sảng của kẻ nam nhi có chí khí và lý tưởng trong thời chiến. Nhưng tôi thiển nghĩ hình ảnh người bạn hiện diện trong thơ Trịnh Bửu Hoài có lẽ cũng gián tiếp nói lên một phần mặc cảm cô đơn trong cuộc sống của nhà thơ mà ít ai biết được! Về bút pháp, nhìn chung, thơ Trịnh Bửu Hoài dựa trên nền tảng thơ mới phá cách: ngũ ngôn, lục ngôn rồi 7 chữ, 8 chữ nhưng giai điệu, cung bậc luôn thay đổi.

Ngôn ngữ chọn lọc, giàu hình tượng, câu thơ dài ngắn khác nhau diễn tả thích hợp với biến thiên tình cảm mang mang trong lòng kẻ ở người đi và người đọc.

Hôm nay, chinh chiến đã lùi xa, đạn bom im tiếng, từ cuối miền đất nước, Trịnh Bửu Hoài có cơ hội đi qua miền Trung gió Lào cát trắng để “hành Tây Bắc” – chiếc nôi ấm huyền thoại của cách mạng qua hai cuộc đấu tranh thần thánh và chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Đến đâu, nhà thơ cũng cùng nhau thù tạc chuyện trò, trong không khí tình cảm “tứ hải giai huynh đệ” (bốn bể đều là anh em) khiến tác giả càng có thêm những vần thơ ấm nồng  tình bạn…

 Dù sở hữu số lượng không nhỏ về thi tập, nhưng ít ai ngờ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã từng là tác giả của một best-seller (sách bán chạy nhất) bán đắt như tôm tươi. Theo nhà thơ quen thuộc Lê Thiếu Nhơn, cuối những năm của thập niên 1980, Trịnh thi sĩ đã từng viết 20 tiểu thuyết trong đó quyển truyện dài “Tình yêu đâu phải là trò chơi” từng được hơn ba nhà xuất bản săn đón in trên 70 ngàn cuốn. Sự hấp dẫn của  “Tình yêu đâu phải là trò chơi” khiến cho một người đã nhái theo, viết cuốn Tình yêu đâu phải là trò đùa nhưng ký tên Trịnh Vũ Hoài để đánh lừa độc giả. Vỡ lẽ ra rùm beng chuyện đạo văn, cục Xuất bản ra lệnh thu hồi cuốn truyện nhái Tình yêu đâu phải là trò đùa của Trịnh Vũ Hoài !

 Tình bạn với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đích thực là tình bằng hữu mang ý nghĩa tình bầu bạn thủy chung cao đẹp trong đời người, không tương đồng với tình cảm giữa những bạn đời, bạn tình, bạn đường, bạn đồng chí (comrade)… Và hôm nay – nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã đi xa, nghỉ ngơi ở thế giới ly tao vĩnh hằng của Nguyễn Du, Lý Bạch.  Nhưng những độc giả yêu thơ thi sĩ vẫn không bao giờ quên chân dung dịu dàng đôn hậu của anh : vẫn hồn nhiên mỗi ngày theo đuổi chữ nghĩa với đau đáu nhân sinh “không còn ai bên máy chữ gọi thơ về”. 

 

                                                                           4. 12. 2023

                                                                                  N.T          

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm