TIN TỨC

Trương Nam Hương, nhà thơ của cảm thức cội nguồn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-06-30 20:55:23
mail facebook google pos stwis
5763 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Nhà thơ Trương Nam Hương sinh năm 1963 ở Hải Phòng, quê nội Thừa Thiên – Huế, quê ngoại Bắc Ninh. Tuổi thiếu niên, lứa tuổi quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách một con người, Hương sống xa quê nội. Năm 1975 đất nước thống nhất, mười hai tuổi - khi nhân cách sắp hoàn thành, anh không về nội mà theo gia đình vào Sài Gòn, sau đó ra Biên Hòa của miền Đông Nam bộ định cư.

Cho đến nay khi đã đi qua “Sáu mươi năm cuộc đời”, thời gian anh gắn bó với quê nội lúc dài nhất cũng chỉ nửa năm. Vì thế, dù Hương có viết: “Trong tôi có chút sâu đằm/ Của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô” thì tôi qua tiếp xúc, thấy anh trong căn cốt, không liên quan gì với xứ sở “sơn bất cao, thủy bất thâm” của quê nội. Anh là người Bắc 100 %. Thể hiện qua chất giọng Hà Nội chuẩn, qua gu ẩm thực thích cà pháo mắm tôm ăn với canh rau đay mồng tơi, qua cách uống cà phê chậm rãi cùng bạn bè trong quán giữa Sài Gòn nồng nhiệt. Một làn gió heo may, một mùi hương hoa sữa, một quả bàng chín, một trái sấu rơi... cũng làm anh run rẩy. Bởi đó là kỷ niệm của anh, là tuổi thơ của anh trên đất Bắc.

Từ những riêng tư ấy, trở thành nhà thơ, thơ Hương không có cái dữ dội của thơ miền Trung, cái phóng túng rênh rang của thơ Nam bộ, mà thơ Hương luôn mượt mà bay bổng, đặc trưng của thơ miền Bắc. Xuất phát điểm khác nhau, cảm nhận về đối tượng được phản ánh cũng khác nhau. Đều là dân tập kết mà Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân) viết “Nhớ mưa quê hương” với những chi tiết rất cụ thể: “…Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm/ Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông/ Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm/ Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong”, thì nỗi nhớ quê hương trong thơ Hương lại bàng bạc, liêu trai: “Anh vịn màu rêu Huế để yêu em…”. Ấy bởi Ca Lê Hiến sinh năm 1940, tập kết ra Bắc năm 1954 khi đã 14 tuổi, đã kịp sống với quê hương. Còn Trương Nam Hương “Con từ xa Huế sinh ra”, quê hương anh được biết đến đầu tiên qua hình bóng người cha, vì thế mới “Anh vịn”, Anh mượn!” Nhưng nắng mưa cây cỏ Huế có màu gì; giống, khác thế nào với nắng mưa cây cỏ đất Bắc? Tôi không biết. Hương chắc cũng không biết. Thực tế trong đời sống có một màu không ngả qua đen, không tía qua đỏ mà chỉ đủ đậm như màu mực học trò trên giấy trắng. Và nó mang đến cho người ngắm bao nỗi niềm sâu kín cùng những tâm sự ngổn ngang, ngơ ngẩn… màu ấy được gọi là “tím Huế”. Người đầu tiên định danh “tím Huế” là ai? Công dân Huế hay công dân của một vùng đất khác? Điều đó không quan trọng, quan trọng là Huế đã khiến ông (hay bà) nghĩ vậy, và khi ông (hay bà) ấy nói ra thì ai cũng thấy là không thể khác. Từ đó, với người phụ nữ Huế và với cộng đồng, màu tím ấy là màu Huế - vừa là màu áo, vừa là sự biểu hiện của tấm lòng đức hạnh. Vì thế mới có “Thuỷ chung tình bạn chùm hoa tím/ Hôn đóa hoa thơm, tưởng Huế gần…” (Tố Hữu). Đến lượt mình, chàng Trương thi sĩ của chúng ta, người có số hưởng, đã mặc nhiên thừa nhận, lấy đó làm điểm tựa xây đắp cho mình một tình yêu và chàng yên tâm ngay khi thấy: “…Vững như núi, Huế lại đằm như nước/ Vạt áo dài mây trắng xuống thi ca…”.

Thơ Hương là vậy, không rối rắm chữ nghĩa, không tân kỳ hình thức. Từ khi đặt bút viết những câu thơ đầu tiên anh đã chọn cho mình một phong cách thơ bình dị, gần gũi và thuần hậu. Về mặt hình thức, Trương Nam Hương không xa lạ một thể loại thơ nào, nhưng chuộng nhất có tứ tuyệt, ba câu và thơ lục bát. Trong số đó, trừ thơ ba câu, còn tứ tuyệt và lục bát đều là những thể thơ mà độ phủ sóng rộng khắp toàn cõi nước Việt (đã đành), còn theo những bước chân di dân của người Việt ra thế giới, dù tứ tuyệt có nguồn gốc từ thơ Đường từ thế kỷ XII. Tứ tuyệt, ấy là một thể thơ mà khi sự hàm súc đạt đỉnh, có thể gói được cả vũ trụ vào trong. Tuân thủ nghiêm nhặt niêm luật, tứ tuyệt của Trương Nam Hương lúc thủ thỉ tỏ bày, lúc như một tiếng thở dài sau nhiều kìm nén, khiến ta thắt lòng: “Mẹ giờ hóa nén hương thơm đỏ/ Thương lặng nhìn con chẳng rụng tàn/ Khói thắt se vòng lo mẹ nặng/ Cõi về cong vít cả thân nhang” (Mẹ). Lúc giống như những tia chớp giữa cơn giông, vụt lóe trong khoảnh khắc mà soi rõ được bao la… Và đẹp, một vẻ đẹp cổ điển thường chỉ thấy trong cổ thi: “Ngày mỏng mờ hơn chuông rõ hơn/ Trúc vin nghìn bậc đá rêu mòn/ Núi khom khom vái mây dâng lễ/ Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm!” (Lên Yên Tử).

Cùng với thơ tứ tuyệt, Hương sử dụng nhiều thơ ba câu. Tôi không thích thơ ba câu. Nó mang lại cho tôi cảm giác chơi vơi, chân không đến đất, đầu không đến trời. Thơ ba câu của Trương Nam Hương thuyết phục tôi ở sự uyển chuyển của câu chữ, ở khả năng gắn kết, độc lập đấy mà ràng rịt đấy. Ví dụ bài Lỗi hẹn sông Cầu: “…Tháng giêng hoa xoan rơi vụng dại/ Em với sông Cầu xanh ở lại/ Anh đi rét ngọt giữa tay cầm// Cỏ níu chân sông mùa thiếp ngủ/ Em tiễn cái nhìn đau cả gió/ Chiều chớp đầy anh… mắt lá răm…”. Hai khổ thơ này, đứng độc lập đã là hai bài thơ trọn vẹn. Đứng trong bài, làm nên một thể thống nhất câu chữ, để lại dư vị tiếc nuối, ngọt ngào về những ân nghĩa cuộc đời mà mình bỏ lỡ…

Nhưng phải đến lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc nhà thơ của chúng ta mới bày tỏ được hết công phu. Đụng vào lục bát, Hương như cá trong nước, chim trên trời, tung tăng sải vây, tung cánh.

Để đổi mới lục bát, cách chung của nhiều người là ngắt câu, bẻ chữ, xuống dòng. Làm gì thì cũng phải đảm bảo nhịp 6/8. Hương khác hơn, từ những chữ mòn nhẵn, anh biến tấu, thay đổi, làm mới, biến chúng thành của riêng mình: “Tiếng sông úng ớ”, “Mưa nắng tung tuây cái tôm cái tép”, “Em hây hẩy khép chiều ngấn mẩy”, “Nửa giờ thấp thểnh oai xưa”, Sóng nước ngung nguây vỗ mạn thuyền… Tìm chữ cũng giống như tìm vàng, phải dày công đãi cát. Và khi đã gặp, nó làm cho câu thơ trở nên có hồn, sáng rỡ, găm sâu vào trí nhớ người đọc, khiến người đọc day dứt mãi không thôi. Nỗ lực “bảo toàn” thơ bằng thơ! Có lẽ vì thế, hàm lượng những câu thơ hay, những câu thơ lục bát hay trong thơ Hương rất nhiều. Ví dụ: “Tết nghèo bánh lá thay cơm/ Đồng xu mừng tuổi còn thơm mùi bùn/ Con cầm thương khó run run/ Muốn khoe với cả mưa phùn mẹ ơi”; ví dụ:“Anh xa đất Bắc mười năm/ Tay em Hà Nội, xin cầm hơi lâu/ Hỏi mùa hoa sữa nơi đâu/ Câu thơ ngồi khóc, mắt nâu lại buồn…”; ví dụ: “Tạ ơn Hà Nội trọn đời/ Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”; ví dụ: “Khi người đánh bóng tuổi tên/ Anh đi tìm hộp xi đen đánh giày”; ví dụ nữa: “Váy người ngắn đến mê ly/ Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài”

Đọc câu thơ này của Hương, tôi bỗng nhớ giai thoại về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo phương Tây thời chống Mỹ. Sau những trao qua đổi lại với người đứng đầu Chính phủ Bắc Việt về những vấn đề mình quan tâm, nhà báo chợt hỏi: “Ngài nghĩ gì về chiếc mini juyp?” Thủ tướng hóm hỉnh: “Tôi nghĩ, nó không thể ngắn hơn được nữa!”. Thông tuệ như Thủ tướng mà vẫn không tiên liệu hết được sự phát triển của cuộc sống, của thơ. Bởi sau khi ông mất không lâu (năm 2000), Việt Nam chuyển hướng, bước sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Và những chiếc mini juyp mà ông tưởng ngắn tối đa dạo nào, đã trở nên ngắn hơn. Cái nhớ của tôi, phê bình văn học gọi là “liên tưởng”. Thơ càng hay, càng tạo ra nhiều liên tưởng thú vị.

Bài hay trong thơ Hương cũng nhiều, nhưng nếu tìm một bài hay nhất trong tập thơ mới nhất của anh xuất bản mấy năm trước “Thời nắng xanh & những bài thơ khác”, anh viết về quê nội, viết về người cha kính yêu thì không phải Màu Huế, hay Nhỡ mùa sen, mà là bài Lời thưa: “Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca// Con từ xa Huế sinh ra/ Nắng mưa thấm tiếng oa oa đầu đời/ Cha – dòng sông nhớ - con bơi/ Đắng cay vào giọt mồ hôi bến bờ// Nổi nênh quá tuổi dại khờ/ Con thương Huế với câu thơ lụy tình/ Chênh vênh quá nửa Ngự Bình/ Huế cho con cả cung đình rêu phong// Thăng trầm dạ nhớ thưa mong/ Thời gian mái đẩy long đong điệu hò/ Hồn cha giờ hóa con đò/ Mênh mang đầy cả giấc mơ – suối nguồn// Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi.” Những câu thơ ngân nga ở tầng sâu, ở nơi giáp ranh hư thực, mộng mơ và huyền ảo, như những lớp màn sân khấu mở ra đưa người đọc vào hút sâu tâm trạng, tâm sự.

Thơ Hương là thơ trữ tình. Thơ trữ tình nói về mình. Hương chỉ nói về mình, về tuổi thơ theo tiếng tàu điện leng keng ra Bờ Hồ. Về tuổi học trò trắng trong như tờ giấy trắng, về con sông Hồng đỏ nặng phù sa, về bà ngoại thương khó, về người cha tuổi thơ anh thần tượng… Chỉ thế thôi, mà đọc lên thấy man mác buồn, thấy hồn vía những câu thơ thăm thẳm. Đấy cũng là vị chung của thơ Hương trong tập, trong toàn bộ thơ Hương từ trước tới nay. Không dưng mà trong một bài bình về “Khúc hát người xa xứ” tập thơ đầu tay của Trương Nam Hương cách đây hơn 30 năm (1990), Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết: “Trương Nam Hương – Hồn thơ đẹp như nỗi buồn”. Nỗi buồn cảm thông, nỗi buồn chia sẻ. Từ những nỗi niềm ấy, mẹ cha, quê ngoại quê nội luôn là niềm thi hứng lớn lao cho anh. Do thiên chức đặc biệt của mẹ, con cái thường đặt nặng tình cảm vào mẹ hơn cha. Các nhà thơ vì vậy, thường chỉ viết hay về mẹ. Hương khác hẳn, viết hay cả hai. Ở những bài thơ Hương viết về cha - mẹ, cảm thức cội nguồn trong anh hiện ra rõ nhất. Đã hơn một lần thơ anh nhắc đến NGUỒN: “Mênh mang đầy cả giấc mơ – suối nguồn…”, “Giờ xin ngồi khóc với nguồn…”,  “Nói ra cứ sợ làm đau đến nguồn…” Nguồn, với quê cha là sự tìm về; với quê mẹ là cảm thương, ơn nghĩa, là Hà Nội, Sông Hồng, là miền Quan họ, là cả một miền Bắc nước Việt diệu vợi phía sau. Mẹ hiện diện ở khắp nơi: Trăng thắp nến đợi sông ngày trở dạ/ Con chào đời cùng lúc với phù sa/ Con nhận nước sông Hồng làm máu đỏ/ Cát ôm con từ hơi mẹ ấp òa/ Con mượn cỏ bờ đê làm chỏm tóc/ Mắc vành nôi lên dợn sóng la đà/ Khi bập bẹ âm đầu, con gọi mẹ/ Chạm mảng trời run biếc của bèo hoa/ Mẹ nuôi ấm đời con bằng Quan họ/ Thuở trúc xinh gọi chú ớt ơi à/ Môi đã ríu mạn thuyền thưa Quán dốc/ Mắt đã dài cho ướt cả ngày xa/ Trăng ửng lớn một lần con dối mẹ/ Đánh rơi đêm vào chỗ rễ si xòa/ Sông mẹ thức trắng nửa bờ lau nhắc/ Mai con về tạ lỗi với phù sa (Nhớ sông Mẹ)

Cùng với cảm thức cội nguồn, đọc “Thời nắng xanh…” của Trương Nam Hương, ta còn cảm nhận rõ một cảm thức khác trong thơ anh hôm nay là cảm thức tiếc nuối tình yêu, tuổi trẻ. Cảm thức ấy trải đều, mang mang, hoang hoải suốt tập thơ. Và trong niềm thương nỗi nhớ về quá khứ, anh bật lên những câu thơ thật “đau”, những bài thơ xát lòng như muối xát: “Em không đến trường mùa Thu năm ấy nữa/ Em không đến trường cả mùa Thu năm sau/ Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa/ Theo mùa thu tiếc nuối chảy qua cầu…” (Xa  lắc mùa thu). Hoặc: “Năm anh mười bảy/ Sông Hồng tuổi em/ Bờ đê. Đêm ấy…/ Sóng. Trăng. Cỏ mềm…/ Anh vốc nước lên/ Chạm môi em đỏ/ Khoác vai bóng thuyền/ Buồm lơi nếp gió/ Em đổ đầy anh/ Tiếng sông úng ớ/ Mắt sao mướt xanh/ Rơi nhòe ngấn cỏ/ Ngày trăng biết nhớ/ Sông Hồng biết yêu/ Năm anh mười bảy/ Cầm con sóng liều…/ Rồi anh biền biệt/ Dạt trôi bao miền/ Ba mươi năm ấy/ Sông Hồng hóa em! (Sông 17 tuổi)…

*

Năm 1990, Trương Nam Hương trình làng tập thơ đầu tay Khúc hát người xa xứ, và lập tức nổi danh, đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, rồi được kết nạp “đặc cách” vào Hội, vượt ngoài quy định “muốn vào Hội phải xuất bản ít nhất 2 tác phẩm được dư luận tốt”. Ở thời điểm ấy, anh là hội viên trẻ tuổi nhất sở hữu giải thưởng thơ danh giá này. Hơn ba mươi năm trôi qua, đến nay Trương Nam Hương đã xuất bản hơn mười tập thơ, sở hữu nhiều giải thưởng thơ, nhiều danh hiệu thơ đặc biệt, như: “Nhà thơ được yêu thích nhất” do báo Người lao động bình chọn năm 1992, “Gương mặt văn học 20 năm thành phố Hồ Chí Minh 1975 - 1995”, “Gương mặt văn học 30 năm thành phố Hồ Chí Minh 1975 - 2005”.

Thời nắng xanh & những bài thơ khác là tập thơ mới nhất nhà thơ Trương Nam Hương trình làng. Đọc thấy mừng, thấy ông vẫn giữ được phong độ, không có bài nào xuống tay. Điều nói nghe nhẹ bổng này, nhưng chỉ những thi tài đích thực mới làm được.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 – 2023

(Nguồn: Tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam số 23 (3302), ngày 10/6/2023)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm