TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • ‘Truyện Kiều’ được Đại thi hào Nguyễn Du viết thời điểm nào?

‘Truyện Kiều’ được Đại thi hào Nguyễn Du viết thời điểm nào?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-12-24 23:02:45
mail facebook google pos stwis
2509 lượt xem

Thời điểm Đại thi hào Nguyễn Du viết Truyện Kiều từng được tranh luận gay gắt, nay câu hỏi ấy lại được đưa ra mổ xẻ trên mạng xã hội.

Những bản Kiều cổ do ông Nguyễn Khắc Bảo sưu tầm.

Cuộc tranh luận của giới học thuật về thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều diễn ra cách đây hơn 10 năm – nay lại được khơi dậy trên khắp các hội nhóm mạng xã hội liên quan đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Tuy nhiên, các đáp án đưa ra khó thuyết phục bởi các bằng chứng rời rạc, mang tính suy diễn.

 

Ba mốc thời gian

Đến nay, ngoài bản Kiều của Nguyễn Hữu Lập, giới nghiên cứu còn thấy bản của Tăng Hữu Ứng chép 1874, bản Nguyễn Doãn Cử, bản Diễn Châu, bản Thái Bình, bản Quế Võ, bản R2003, bản R987… Ở Bắc Thành (Hà Nội), sau khi Phạm Quý Thích có bản Kiều, các sĩ phu túc nho Bắc Kỳ như: Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Lý, Chu Doãn Trí… cũng chép và làm nhiều thơ văn vịnh Kiều.

Trong suốt hơn 50 năm qua, có rất nhiều giả thuyết đưa ra để chứng minh về thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều.

Nhiều cuộc hội thảo, tranh luận lẫn “bút chiến” diễn ra nhằm chứng minh và bảo vệ các ý kiến được cho là đúng. Tuy nhiên, từ đó đến nay, hai giả thuyết có sức thuyết phục hơn cả liên quan đến hoàn cảnh ra đời của Truyện Kiều.

Thuyết thứ nhất khẳng định Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau thời gian đi sứ Trung Quốc (1814 – 1820). Thuyết thứ hai lại khẳng định Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi đi sứ – có thể vào khoảng cuối thời Lê, đầu thời Tây Sơn.

Học giả Trần Trọng Kim viết trong sách “Việt Nam sử lược”: “Năm Tân Mùi (1811), vua Gia Long sai quan tìm những sách dã sử nói chuyện nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn để sửa lại quốc sử… có những truyện như “Hoa tiên” của ông Nguyễn Huy Tự, “Truyện Thúy Kiều” của Nguyễn Du cũng phát hiện ra thời bấy giờ”.

Như vậy, “Truyện Thúy Kiều” được phát hiện ra vào năm 1811, tức thuộc loại sách “dã sử nói chuyện nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn” – tức đã được viết ra trước khi vua Gia Long lên ngôi.

Nhà nghiên cứu Kiều học Nguyễn Khắc Bảo cho rằng: “Thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều phải là trước đời Gia Long nhưng không thể thuộc đời vua Lê – chúa Trịnh. Thời điểm đó chính là khoảng từ sau khi Nguyễn Du bị quân Tây Sơn bắt rồi thả về an trí tại quê cha”.

Ông Bảo nhấn mạnh: “Cần nắm vững vốn từ cổ thời Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều (từ 1796 – 1801) mới chọn, phiên được từ Quốc ngữ đúng”.

Trước đây, học giả Đào Duy Anh trong “Khảo luận về Kim Vân Kiều” năm 1943 cho rằng, Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi đi sứ Trung Quốc, khoảng 1805 – 1809.

Còn Hoàng Xuân Hãn dựa vào “Đại Nam liệt truyện chính biên”, cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc, khoảng 1815 – 1820. Tuy nhiên, năm 1951 khi phát hiện ra chứng cứ chắc chắn rằng Truyện Kiều viết trước “Mai đình mộng ký” nên Hoàng Xuân Hãn tự bác lại ý kiến của mình và cho rằng Truyện Kiều được viết trước năm 1809.

Nhà nghiên cứu Trương Chính căn cứ thêm vào những câu thơ trong Truyện Kiều, cũng cho rằng Nguyễn Du viết vào khoảng thời gian ở “dưới chân núi Hồng”, nghĩa là từ 1796 – 1801.

Nhiều người lại tin vào kết quả khảo cứu về chữ húy thời Lê trung hưng của GS Nguyễn Tài Cẩn, PGS Ngô Đức Thọ và PGS Đào Thái Tôn để đi đến kết luận là Truyện Kiều được viết vào những năm từ 1785 – 1790.

Bởi vậy, người yêu Truyện Kiều nhận thấy 3 mốc thời gian: Khoảng năm 1789, năm 1802 và năm 1813. Nhưng điều quan trọng là trong ba mốc ấy, Truyện Kiều chính xác được viết vào năm nào?

 

Ai mang “Kim Vân Kiều truyện” về nước?

Hai bản “Kim Vân Kiều tân truyện”, bên trái là Liễu Văn đường tàng bản – in năm 1871, bên phải là Bảo Hoa các tàng bản – in năm 1879.

 

Theo nghiên cứu của PGS Lê Thanh Lân, ban đầu người ta tin rằng, Truyện Kiều được viết vào khoảng 1813 – 1820 vì hiểu chữ “hành thế”.

“Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong đời, tức là được mọi người biết đến. Bởi vậy, PGS Lê Thanh Lân cho rằng rất nhiều bằng cứ cho thấy Truyện Kiều được viết trước đó rất lâu.

Học giả Hoàng Xuân Hãn từng nhắc đến Phạm Quý Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào kinh. Nhà nghiên cứu Vũ Thế Khôi cho biết bài “Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường…” thật ra có tên là “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” có trong tập “Lập Trai tiên sinh di thi tục tập”.

Học giả Hoàng Xuân Hãn từng chỉ ra: Nguyễn Lượng bị chết vào khoảng 1807. Vì có sự phê bình của ông ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết vào đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long.

Liên quan đến Nguyễn Lượng, giới nghiên cứu Kiều học nhận thấy trong lời bình bằng chữ Hán của ông có bốn chữ “bách chủng hoan ngu”. Chắc chắn ông không dám viết chữ “chủng” vào thời Nguyễn vì vào năm 1803 Gia Long đã có lệnh cấm dùng chữ “chủng”, và khi viết phải thay bằng chữ “Thực”.

Trương Chính nhận xét trong Truyện Kiều có những câu nghịch ngôn, như: “Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?”, rồi “Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” và khẳng định những câu này chỉ có thể được sáng tác trước thời Nguyễn.

Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản “Liễu Văn Đường 1871” còn sót các chữ đáng phải kiêng dưới thời Nguyễn. “Câu 853: Tuồng chi là giống hôi tanh. Câu 1310: Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa. Câu 2750: Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Trong đó những chữ “Chủng” là tên vua Gia Long hồi nhỏ, và chữ “Lan” là tên mẹ cả của vua Gia Long tức Huy Gia từ phi”.

Trước đây, nhiều người cho rằng, nhờ chuyến đi sứ Nguyễn Du mới được tiếp xúc với “Kim Vân Kiều truyện” để sau đó viết Truyện Kiều. Điều này, theo PGS Lê Thanh Lân là không đúng.

Ông Lân cho rằng, có nhiều giả thuyết về thời điểm “Kim Vân Kiều truyện” vào nước ta. Học giả Hoàng Xuân Hãn đoán do Nguyễn Nễ hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn cùng đi sứ thời Tây Sơn, khoảng 1792 – 1793 mang về.

PGS Thạch Giang lại cho rằng, có thể trong chuyến đi sứ năm 1763, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã mang “Hoa tiên” và “Kim Vân Kiều truyện” từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện. Nhờ đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện đọc “Hoa tiên”, Nguyễn Du do lui tới học tập nên đọc được “Kim Vân Kiều truyện” để sáng tác Truyện Kiều.

Song, điều chắc chắn ở truyện “Liên Hồ quận quân” trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục”, viết vào khoảng 1793 – 1794 của Vũ Trinh, có câu: “Thúy Kiều gieo mình sông lớn”. Trước năm 1794 Vũ Trinh đã biết đến “Kim Vân Kiều truyện” thì Nguyễn Du đã tiếp cận không muộn hơn Vũ Trinh.

 

Vua “bật đèn xanh” phổ biến “Truyện Kiều

Trong khi chưa thể khẳng định Truyện Kiều được Nguyễn Du viết trong thời điểm nào, nhiều nhà nghiên cứu ngược dòng thời gian về năm 1786 – Nguyễn Du chịu hai cái tang lớn của anh hai Nguyễn Điều (mất 7.1786), anh cả Nguyễn Khản (mất 11.1786).

Mùa đông 1796, Nguyễn Du định vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh, bị tướng Tây Sơn là Quận Công Thận bắt giam mấy tháng, rồi vì là bạn của anh Nguyễn Nễ nên được thả về an trí ở Tiên Điền, lấy biệt hiệu là Hồng Sơn liệp hộ và Nam Hải điếu đồ.

Đến lúc này, lấy việc đi săn ở Hồng Lĩnh, câu cá ở biển Nam làm sinh kế và trong lúc “Cầm đường ngày tháng thanh nhàn/ Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao”, lại nhân vì trong tủ sách của quan Tể tướng có quyển “Kim Vân Kiều truyện” nên thi hào mới dựa vào đó để sáng tác thành “Đoạn trường Tân Thanh”.

Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo phỏng đoán, những người được đọc đầu tiên có lẽ là anh rể Vũ Trinh có lời mặc bình, em ruột Nguyễn Lượng có lời chu bình rồi các cháu là Nguyễn Thiện, Nguyễn Hành, Nguyễn Thị Bành, Nguyễn Thị Đài.

“Công việc sáng tác Truyện Kiều có lẽ là trong khoảng 1796 – 1801. Năm 1802 Nguyễn Du đành phải ra làm quan với triều Gia Long, nhưng vì trong Truyện Kiều viết có nhiều câu phạm đại húy nên lo sợ nếu truyền bá rộng thì “Đoạn trường Tân Thanh” sẽ thành “Đoạn đầu tân đao” hạ xuống trừng trị cả dòng họ” – Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo.

Sau này chỉ có những người thân thích như anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn mới được đọc và có bài thơ “Đề từ”, hoặc Tiến sĩ Phạm Quý Thích đọc và có bài “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” mà sau này các bản Truyện Kiều đều khắc in ở đầu sách như bài “Đề từ”.

Chỉ đến tháng 8.1830, vua Minh Mạng đọc Truyện Kiều và có viết bài “Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ngự chế tổng thuyết” có câu khen ngợi Thúy Kiều: “Dùng dao nhọn sát thân, lòng trinh nữ giữ mình tiết lớn, Khuyên áo gấm quy thuận, bậc trượng phu vì nước lòng ngay. Thương chí nàng cho là hiếu trung, Xét lòng nàng cho là trinh tiết”.

Bản Kiều chép tay của Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập (có mẹ kế là con gái Đại thi hào Nguyễn Du) chép ở Huế năm 1870 lại do kỵ húy quá triệt để nên sửa từ ngữ của Truyện Kiều quá nhiều.

Đến tháng 3.1871 lại có bài của vua Tự Đức khen “Truyện hay nỡ để khói tan lạnh lùng”. Và có lẽ vị Hoàng đế do văn hay chữ tốt, yêu chuộng người tài nên dù có đòi nọc Nguyễn Du ra đánh trăm roi, vẫn dựa vào quyển Kiều tịch thu được trong Di cảo của thi hào mà sai người chép và vẽ 150 bức tranh minh họa cảnh vật Truyện Kiều.

Như vậy, sau khi hai vị Hoàng đế Minh Mạng và Tự Đức “bật đèn xanh” cho việc đọc Kiều thì ở Kinh thành Huế có phong trào: Làm trai mê đánh Tổ tôm/Mê ngựa hậu bổ, mê Nôm Thúy Kiều. Người ta tranh nhau sao chép Truyện Kiều đến nỗi “giấy hiếm và quý như giấy Lạc Đô”.

TRẦN KIỆT

Giáo dục & Thời đại

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bốn văn nhân, một mạch văn chương
Bốn con người, bốn phong cách, nhưng cùng chung một mạch nguồn: đi ra từ chiến tranh, sống và viết bằng trải nghiệm thật, và giữ trọn sự tử tế với văn chương.
Xem thêm
Văn chương Việt trong vòng xoáy AI
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đưa văn chương và người đọc vào thời khắc chuyển mình chưa từng có. Nó có thể được xem là công cụ hỗ trợ người viết, cũng gợi mở vô số thách thức cùng các áp lực mới cần đối mặt.
Xem thêm
Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh
Những ngày gần đây, dư luận xã hội không khỏi bàng hoàng trước thông tin gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường, len lỏi vào cả bữa ăn học đường. Những mâm cơm tưởng như an toàn nhất - nơi trẻ em ăn uống mỗi ngày - bỗng trở thành tâm điểm của nỗi lo lắng. Phụ huynh hoang mang, nhà trường lúng túng, cơ quan quản lý khẩn trương rà soát, còn người làm chính sách thì không khỏi trăn trở.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Xem thêm
Trại sáng tác cần tránh hình thức, lãng phí
Nhiều năm qua, các trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đồng thời cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, mô hình cũ đã bộc lộ những hạn chế về hiệu quả, cách tổ chức.
Xem thêm
Làm mới “chất Việt” trong trang văn trẻ thơ
Giữa “bão” giải trí số, văn học thiếu nhi Việt Nam đang âm thầm chuyển mình để không bị lãng quên. Từ việc cách tân ngôn ngữ đến mở rộng biên độ sáng tạo, mỗi trang viết hôm nay là một nỗ lực nhằm tìm lại vị thế trang trọng nhất trong thế giới tinh thần của độc giả nhỏ tuổi.
Xem thêm
Một chuyến xe, một câu nói, và chiếc gương soi vào nhân cách
Có những câu chuyện, thoạt nhìn rất nhỏ. Một chuyến xe. Một cuộc tranh cãi. Một câu nói buột miệng.
Xem thêm
Từ tâm sự của vợ chồng dịch giả tiếng Đức đến dấu ấn cổ tích của Anh Grimm
Qua thư giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tôi đã có cuộc hẹn tại nhà riêng của hai dịch giả Đức ngữ nổi tiếng là GS.TS Günter Giesenfeld và Marianne Ngo. Thành phố Marburg của họ cách chỗ tôi ở chỉ một tiếng rưỡi tàu. Vì biết người Đức rất tôn trọng giờ giấc nên tôi đã đến sớm hơn 2 tiếng đồng hồ để vừa tránh chậm tàu, có thể vừa tranh thủ thời gian dạo quanh một trong những thành phố cổ kính và huyền bí nhất nước Đức.
Xem thêm
Vị thế của văn chương trong Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Đến vùng xa vùng đảo và lắng nghe ý kiến của người dân, tôi càng thấy rõ hơn, cái nghèo về đời sống tinh thần, đời sống văn hoá vẫn chưa được người dân quan tâm. Họ cần những ích lợi vật chất và gần như xa lạ với nhu cầu thụ hưởng thành quả văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Từ một cuộc đối thoại hóm hỉnh nhưng không kém phần thẳng thắn, bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Minh đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người làm thơ phải giật mình: Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Xem thêm
Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.
Xem thêm
Nhìn lại năm 2025, ấn tượng văn hóa, và suy ngẫm văn học
Năm 2025 vừa khép lại với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, trong đó không thể không nhắc đến những hoạt động nổi bật kỉ niệm 80 năm Quốc khánh và 50 năm non sông liền một dải. Hòa trong không khí ấy, đời sống văn hóa và văn học có những ấn tượng gì đáng suy ngẫm?
Xem thêm
Thi ca trước áp lực công nghệ số
Công nghệ số mở ra cơ hội lan tỏa nhanh chưa từng có, nhưng cũng đặt thi ca trước những thách thức về chất lượng, công chúng và sinh kế sáng tác. Từ góc nhìn các nhà thơ và nhà nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh, câu chuyện không chỉ là thích ứng mà là tìm lại vị thế của thơ trong đô thị hiện đại.
Xem thêm
Từ văn chương đến căn cốt văn hóa dân tộc
Trong dòng chảy đương đại, Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du vẫn hiện diện như một mạch nguồn bền bỉ trong đời sống tinh thần người Việt. Vượt lên khuôn khổ của một kiệt tác văn chương, tác phẩm đã trở thành hệ giá trị văn hóa, đạo lý sống và thước đo nhân cách được truyền nối qua nhiều thế hệ.
Xem thêm
Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà
Bài của Vũ Thanh đăng trên Văn nghệ Online
Xem thêm
Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy
Giữ gìn sự liêm chính trong sáng tác vì thế không phải là một khẩu hiệu đạo đức, mà là điều kiện để văn chương tiếp tục tồn tại như một giá trị tinh thần cao đẹp và đáng tin cậy. Khi người cầm bút còn biết tự vấn, biết dừng lại trước ranh giới của sự trung thực, thì văn chương vẫn còn cơ hội tự làm sạch mình. Và chỉ trong một không gian sáng tác được nâng đỡ bởi sự thật và lòng tin, những tác phẩm chân chính mới có thể bền bỉ đi cùng con người, vượt qua những ồn ào nhất thời của danh vọng và thời cuộc để lặng lẽ nâng đỡ, an ủi con người, làm chỗ dựa tinh thần cho con người đi qua những chông chênh, trắc trở, đau đớn của cuộc sống vốn vẫn còn nhiều thử thách này.
Xem thêm
Cơ chế quản lý cần thiết cho đời sống văn học
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, quy định các nội dung khuyến khích phát triển văn học, đồng thời xác lập rõ hơn cơ chế quản lý nhà nước về văn học.
Xem thêm
Từ bàn thắng bị tước đoạt đến căn bệnh thành tích của Sea Games
Sea Games từng được quảng bá như biểu tượng của sự đoàn kết trong khu vực Đông Nam Á (ĐNA), nó được xem là tinh thần thể thao cao thượng và sự giao lưu giữa 11 quốc gia. Nhưng những gì diễn ra trong những kỳ đại hội gần đây cho thấy một thực tế đáng buồn: Sea Games đang ngày càng rời xa giá trị thể thao nguyên bản, để trở thành cuộc đua thành tích của các quốc gia đăng cai, nơi côngg bằng bị bẻ cong và trọng tài trở thành công cụ phục vụ tham vọng huy chương.
Xem thêm
Vài ý kiến tham khảo về mối liên hệ giữa văn học và y học
Một đề tài nghiên cứu của PGS. Tiến sĩ Trần Huyền Sâm, Trường ĐH Sư phạm Huế được Hội Nhà Văn TP. Huế tổ chức buổi tọa đàm (vào lúc 8h30, ngày 10/12/2025 tại Tòa soạn Tạp chí Sông Hương, Số 9 đường Phạm Hồng Thái. TP. Huế).
Xem thêm
Thi ca và âm nhạc – Hành trình nuôi dưỡng tâm hồn người thầy tương lai
Phát biểu tại chương trình nghệ thuật “Khúc hát từ những vần thơ”, GS.TS Huỳnh Văn Sơn – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Xem thêm