TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
420 lượt xem

 Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại ký ức về những nhà thơ, nhà văn lão thành như Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Tuân… thế hệ đàn anh – những người đã “lót ổ” cho thế hệ hôm nay dưới mái nhà văn chương.

Ngày 30.9, tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội nghị đại biểu Nhà văn lão thành Việt Nam lần thứ nhất năm 2023. Hội nghị đánh giá những thành tựu to lớn của các nhà văn lão thành đối với nền văn học Việt Nam trong 50 năm qua. 

Vanvn.vn xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương, là tiếng vọng thời gian tưởng nhớ tới thế hệ nhà văn lão thành.

Nhà thơ Vũ Quần Phương. Ảnh: Hoàng Hà

Thế là tôi đã bước vào tuổi mụ 85 hôm 8/9 vừa qua. Sống tử như đùa mà ào một cái đã vào chặng cuối của đời người. Tiếng tích tắc của đồng hồ vẫn như mọi khi mà tâm trạng nhìn thời gian của mình không như xưa nữa. Không hiểu sao tuổi lớn thì cảm giác về thời gian như không còn chính xác, thấy chóng hết ngày, hết tháng, hết năm.

Thế là đã 60 năm tính từ cái ngày tôi được rủ đến họp thơ ở Hội Nhà văn Việt Nam. Trụ sở Hội khi ấy không phải ở 65 Nguyễn Du mà ở phía đối diện, bên số chẵn. Hồi đó (thập niên 1960) lứa chúng tôi được gọi là cây bút trẻ, sau này gọi là lứa chống Mỹ, hầu hết chưa vào Hội Nhà văn.

Anh Thái Giang được giải Nhất cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ năm 1962 và sau đó trong nhiều cuộc thi thơ khác anh luôn được giải cao mà khi viết bài này tôi giở tập kỷ yếu của hội ra xem hấy đến năm 1966, anh mới vào hội nhưng hầu như tất cả các cuộc họp về thơ, chúng tôi thường được mời dự. Mời giấy hoặc mời miệng kèm theo lời dặn của anh Chế Lan Viên hoặc anh Tế Hanh: ”Gặp anh em viết nhớ rủ các bạn ấy đến cho vui”.

Tôi đến buổi đầu là theo suất “rủ đến cho vui ấy”. Mà vui thật! Lần đầu tiên tôi được ngồi thật gần, được trò chuyện với các nhà thơ mà tôi được học tác phẩm của họ ở trung học: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Yến Lan… Đôi khi là: Tú Mỡ, Huy Cận, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Quang Dũng… Tôi thích thú như được ngồi trò chuyện với người trong cổ tích.

Buổi ấy tôi thấy anh Chế Lan Viên ngồi giữa cái đi-văng, một bên là Ca Lê Hiến một bên là Trường Giang. Anh Chế Lan Viên hồi đó là Trưởng tiểu ban thơ, người triệu tập và điều hành cuộc họp. Anh tạo một không khí thật gần giữa chúng tôi, những người còn nhiều rụt rè với văn chương và ngại ngùng trước các tên tuổi đã vào văn học sử như những người khai sinh nền thơ hiện đại nước nhà viết bằng quốc ngữ.

Trong buổi họp ấy Ca Lê Hiến đọc bài thơ tình yêu Anh là con sông chảy trước cửa nhà em. Trường Giang, người luôn có thơ đăng báo hồi ấy, đọc bài Gà Đông Cảo. Hai bài thơ chọn ngẫu nhiên mà giới thiệu khá chính xác hai mạch cảm xúc của các anh. Sau đó anh Ca Lê Hiến về miền Nam chiến đấu và làm thơ dưới bút danh Lê Anh Xuân. Anh hy sinh sau chiến dịch Mậu Thân.

Trường Giang làm báo Giao thông vận tải và làm thơ với viết hàng ngày cho đến khi về hưu. Anh mất lúc ranh giới giữa hai thế kỷ 20 và 21, vẫn chưa vào hội.

Năm 1972, khi chuyển từ nghề y sang làm biên tập cho buổi Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam tôi càng có điều kiện tiếp xúc với các bậc đàn anh, tính tuổi có người vào hàng cha chú mình rồi. Không chỉ thơ mà cả văn và phê bình. Tôi đã được gặp ông già nhỏ thó lành hiền Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tiểu thuyết Tố Tâm (1925), tác phẩm vào loại “cổ điển” của tiểu thuyết hiện đại nước nhà, đã xa vời lắm. Cụ Phách khi ấy đã không viết nữa. Nhưng gặp cụ như gặp một chứng cứ lịch sử của văn chương.

Tôi đã mạnh dạn hỏi cảm giác cụ Nguyễn Công Hoan, khi cuốn Đống rác cũ đang là sự kiện trong dư luận xã hội. Lại có lần trường sư phạm ở Hưng Yên mời cụ Nguyễn Tuân về nói chuyện văn, có mời thêm tôi về nói chuyện thơ. Trường có chiếc xe com-măng-ca vuông và cử một thầy giáo đi đón khách. Chắc để thể hiện sự tôn kính, thầy giáo đón cụ Nguyễn Tuân trước, sau rồi mới lần lượt đến năm người chúng tôi, hai diễn viên ngâm thơ, người đàn, người nói và một ông đi nghe nhờ.

Cụ Nguyễn ngồi ghế cạnh tài xế, là ghế sang nhất ở loại xe ấy. Phải cái mỗi lần có người lên cụ phải bước xuống đường để người ta lật cái ghế cụ đang ngồi ấy lấy lối vào xe. Xe đi lòng vòng đến cả giờ, cụ Nguyễn kiên trì xuống lên đúng yêu cầu.

Đến lần cuối, khi đón đến một ông đi nghe nhờ, ông này nhà ở gần hội, phố Nguyễn Du. Xe dừng, cụ Nguyễn nhanh nhẹn bước xuống, nhưng lần này cụ xách xuống theo cả cái làn cói, trong có cái cặp lồng xinh xắn. Cụ quay lại từ tốn nói với thầy giáo đi đón: “Đến đây gần nhà tôi rồi, xin ông cho tôi về”.

Lũ chúng tôi, ngồi phía sau tán chuyện đang vui, mới cuống lên, một người nhảy xuống ốp cụ: “Thưa bác, đi luôn thôi ạ, không đón ai nữa. Chúng cháu vô ý quá xin bác tha lỗi cho”. Tài xế cũng nhanh trí cụ Nguyễn vừa lên là đi ngay. Cụ không nói gì nhưng chắc còn đang bực. Trên xe trầm lắng hẳn.

Xe qua cầu Long Biên, chị Kim Dung, diễn viên ngâm thơ, người ít tuổi nhất đoàn, bỗng nhiên hướng lên khen “nhan sắc” nhà văn: “Bác có nước da đẹp quá, cứ đỏ hồng lên. Hôm bác nói chuyện ở đài về nghệ thuật nhả chữ, cháu có được nghe. Cả phát thanh viên, cả ca sĩ, diễn viên thích lắm, vỡ ra bao nhiêu điều, chứ chúng cháu cứ luyện thanh mò, vất vả lắm mà tiến chậm. Bác phải sang nói lại và nói thêm bác ạ. Nhiều người, hôm ấy vắng, chưa được nghe”. Thế là câu chuyện bác cháu về phát âm tiếng Việt lại hào hứng cho đến lúc xuống xe.

Tối hôm đó, lúc sắp lên hội trường làm phận sự của tôi, bác Nguyễn Tuân bảo: “Trưa nay anh nghe tôi nói rồi. Bây giờ tôi xin đến nghe anh một lúc”. Tôi thành thật thưa: “Có bác là kỷ niệm đẹp cho cháu nhưng cháu cũng sợ”. Bác nhắc: “một lúc thôi”. Một lúc trôi qua, bác lặng lẽ đứng dậy về phòng.

Phòng nghỉ là một lớp học cải biên, có giường tôi và giường bác Nguyễn. Khi tôi về thấy bác còn thức. Tôi hỏi: “Bác không ngủ ạ”. Bác Nguyễn đáp: “Tôi không ngủ sớm. Thường đọc một chút. Và lại muốn chờ anh. Anh có dây mắc màn chưa? Tôi có mang theo cuộn dây gai. Trên bàn ấy, anh lấy mà dùng”. Không hiểu sao, đến nay tôi vẫn nhớ chi tiết ấy.

Cụ Nguyễn Tuân có một cảm tình đặc biệt với những gì truyền thống. Có một điều gì vừa như xa xôi lại vừa như gắn bó hàng ngày với cụ mà chúng ta chỉ có thực sự chứng kiến mới hiểu ra các giá trị của những vang bóng từ một thuở xa xưa trong tâm hồn cụ. Tôi đã thấy, cũng ở đài, ngay trong phòng biên tập của chúng tôi, hồi chiến tranh chống Mỹ, cuộc gặp ngẫu nhiên của cụ và bà Quách Thị Hồ.

Bà Hồ là nghệ sĩ còn sót lại của thời xưa. Tuổi cao nhưng giọng vang, ấm. Bà hát ca trù hay ngâm thơ theo các làn truyền thống hay lạ lùng, có sức gợi lại những nề nếp văn hóa từ nhiều thời của nước mình, dấu xưa xe ngựa, bâng khuâng lắm.

Bữa ấy bà nhờ ông Đinh Khắc Ban, người chơi đàn đáy nổi danh từ trước cách mạng đun cho ấm nước, chị Trần Thị Tuyết thì rửa ấm chén. Bà Hồ lấy từ chiếc túi xách tay phong trà Thái Nguyên đặc biệt, hồi ấy trà ngon phải mua ngoài chợ đen, bà Hồ đã tự san ra từng phong nhỏ vừa với một ấm trà. Bà Hồ pha trà nghiêm cẩn, sang trọng như thực hiện một lễ nghi.

Bà nâng hai tay chén trà nhỏ đưa mời ông Nguyễn. Ông Nguyễn cũng hai tay đón chén trà nghi ngút khói. Ông nhấp trà, ngẫm nghĩ rồi nhìn bà Hồ, thư thả: “Trà ngon, bà pha khéo nhưng… hình như nước chưa đủ sôi”. Bà Hồ sửng sốt nhìn ông Nguyễn: “Ơ hay, ông lạ nhỉ, nước người ta vừa đun xong. Ông thấy đấy mà lại bảo chưa đủ sôi là đủ thế nào?”.

Ông Nguyễn im lặng, nét mặt bình thản. Bà Hồ rót chén trà mới, nhấp nhấp lại rồi tươi tỉnh và thân ái nhìn ông Tuân mà rằng: “Hay là ông ngậm trà vào miệng, tôi rót thắng nước vào xem đủ sôi chưa”. Mấy biên tập viên chúng tôi ngồi quanh vừa làm việc vừa hóng chuyện hai cố nhân, ai cũng bừng gương mặt, thích thú nhưng không dám cười thành tiếng. Tôi cũng vui mà quên đưa mắt liếc bác Nguyễn, người nổi tiếng kỹ tính xem lúc ấy bác thế nào nhưng tôi chắc ông cụ xúc động.

Cái câu nói của bà Hồ chát chúa thế nhưng hình như lại u ẩn chút hương thân ái từ một thời xa, đủ mang bác Nguyễn về ngược thời gian bốn mươi năm trước. Cái thời nhố nhăng và đau đớn của những ông TYPN, ông Xuân Tóc Đỏ, những chị Dậu, anh Phu, vẫn có những tấm lòng thương nhau, phục nhau thầm lặng của đám văn nhân tài tử thật sự biết tài đức nhau.

Cái chi tiết “đời” mà tôi chứng kiến hôm ấy quá mảnh mai mà sao tôi cứ ấn tượng mãi. Đọc tường thuật đám tang Tản Đà hay đám tang Vũ Trọng Phụng cũng thấy được tình cảm ấy.

Thế hệ viết đang dự cuộc họp này, có hạnh phúc là lúc mới vào nghề, đã được thở cùng khí quyển văn chương với các bậc khai sơn phá thạch cho nền văn chương nước nhà trong thời nước mất. Năm tháng chưa xa nhưng cuộc đời đã khác, trong câu chuyện hay trong tính cách các cụ, chúng ta như còn nhận ra dấu vết của cái thời ngỡ như trong tiền kiếp nhưng lại là bối cảnh văn chương của những tác phẩm mà chúng ta mê đắm.

Năm 1984, về làm ở Nhà xuất bản Văn học, tôi được giao làm tuyển tập cho các nhà văn trước cách mạng. Về thơ, phần trước cách mạng, chỉ chọn 20 bài. Nói chung, các tác giả đều vui “in gì thì in, được in là chúng tôi vui rồi”. Riêng anh Xuân Diệu cho rằng với anh 20 bài thì biết giới thiệu gì, anh đề nghị lấy thêm. Nhà xuất bản không thay đổi lượng bài được. Anh xin để anh tự chọn. Điều ấy tôi làm biên tập, tôi có thể phối hợp với anh được. Nhưng khi duyệt, nếu phải thay bài thì anh thuận cho. Anh Xuân Diệu nói: “Thế thì tôi chờ, khi nào tác giả được chọn tôi in”.

Tôi vẫn nghĩ thơ Xuân Diệu trước cách mạng có những bài hay lắm, có thể là hay nhất trong các tác giả Thơ Mới, hay trong cả tiến trình thơ Việt. Những bài ấy để dài lại rất “vu vơ”, dễ bị gạt. Mà không in tuyển Xuân Diệu thì chẳng ra làm sao. Tôi loay hoay tìm cách gỡ. Gỡ chưa ra sáng hôm sau, sớm lắm, anh Xuân Diệu đạp xe đến căn nhà tội nghiệp của gia đình tôi ở phố Trương Hán Siêu.

Anh nói: “Đêm qua anh nghĩ lại. Mình dỗi không in thì họ không in thật. Thế là vì mấy lượm lúa mà mình bỏ cả vụ gặt. Thôi họ muốn chọn thế nào cũng được. In thơ bây giờ như chạy đồ đạc ra khỏi đám cháy nhà. Chạy khỏi ngọn lửa của thời gian. Túm được thứ nào cứ bế đại ra. Chọn lọc gì nữa. Sẽ còn nhiều lần chọn lọc, sắp xếp lại. Các cậu chưa phải là người chọn cuối cùng đâu”. Rồi anh vận ca dao: Trời mà bắt chết thời thôi/ Nếu còn, tôi sẽ no xôi chán chè.

Bữa ấy anh Xuân Diệu nói liền một thôi. Tôi chỉ biết nghe, càng nghe càng nhẹ lòng. Nhẹ lòng vì nút thắt đã được gỡ. Nhưng lúc tiễn anh về, nhìn theo dáng lưng anh, như lầm lũi như kiên nhẫn, trên chiếc xe đạp Favorit, tôi như ngộ ra một triết lý sống của anh, cái triết lý chấp nhận, chấp nhận để thích ứng, để tồn tại, để phấn đấu cho cái đích mình đã định, với anh là tham gia đánh giặc cứu nước và làm thơ hay. Những cái đích thơ nhiều lúc phải tạm thời gác lại.

Ngay lứa chúng ta thôi cũng đã đáp ứng nhu cầu tình thế nhiều phen lắm. Nhưng chúng ta vẫn có những nhà thơ xuất sắc, những bài thơ được công chúng rộng lớn mến yêu. Bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, lứa đàn anh thời kháng chiến 9 năm và bài thơ Một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, lứa chúng ta trong cuộc kháng chiến lần sau, là hai đỉnh thơ độc đáo, đột xuất nhô lên rồi tuyệt tự. Nó không có hậu duệ. Tại sao? Trả lời câu hỏi ấy cũng là một cách thu thập kinh nghiệm làm nghề.

Tố Hữu, nhà thơ tài năng duy nhất không phải “nhận đường” hay “tìm đường”, ông cứ thẳng hướng ban đầu mà tiến. Có lần tôi được nghe ông khuyên, khi ấy ông đã hưu: “Xúc động thì nên viết, viết ngay nhưng đăng lúc nào thì phải tính”. Và ông tiếc. Hồi ông qua nước bạn đang cách mạng văn hóa, nhiều chuyện muốn viết lắm nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc, muốn viết thì cảm xúc lại mở rồi.

Một lần khi tôi hỏi tại sao ông ít thơ tình yêu thế, có phải vì cương vị xã hội mà ông không dám bộc bạch. Ông nói: “Không phải, tôi có được làm thơ vì tôi hay vì thơ đâu. Hồi Từ ấy, tôi làm thơ để tuyên truyền lý tưởng, sau này là để giải thích chính sách. Các cậu đừng coi tôi là nhà thơ chuyên nghiệp, thơ tôi nghiệp dư, cách mạng mới là chuyên nghiệp”. Tố Hữu nói xong, trầm ngâm. Tôi nhìn ông, thầm nghĩ đấy mới chính là chỗ lớn của thơ Tố Hữu.

Tôi hay hỏi tâm sự nghề viết, ở cuộc họp này xin được đôi nét tưởng nhớ, tri ân lớp đàn anh thuộc thế hệ đầu, những người đã lót ổ cho chúng ta, dưới mái nhà văn chương tam đại đồng đường khi ấy. Còn lớp chống Pháp và chính lớp chúng ta nữa, nhiều nỗi lòng, nhiều mong ước nghe cảm động lắm, thương nghề lắm, xin để một dịp khác.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cha tôi: Một ngón đàn tài tử đậm hồn thơ – Tạp bút Tương Như
Trong suốt cuộc đời, đôi khi phải chịu đựng cảnh mưa gió chìm nổi, tôi vẫn thường tự nghĩ mình là có lẽ là nơi hội tụ cơ duyên giữa ba dòng sông nghệ thuật: mỹ thuật, thi ca và âm nhạc.
Xem thêm
Duyên đá - Bút ký của Minh Đan
Mỗi ngày, mặt trời phía xa xa chưa kịp lấp ló, đã thấy ba tôi cần mẫn xách những xô nước mát trong trĩu nặng đôi bờ vai xương xẩu tưới lên những tia sống khỏe, mớm yêu cho từng khóm cây, chậu cảnh vườn nhà.
Xem thêm
Sức quyến rũ của sự chân thành
16 giờ ngày 14.4.2024, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tổ chức buổi gặp gỡ giao lưu giữa tác giả - Tiến sĩ Lê Kiên Thành (con trai cố Tổng bí thư Lê Duẩn)
Xem thêm
Sông chảy bên đời – Tuỳ bút của Nguyễn Thị Thu Thủy
Một đời người đã đi qua biết bao dòng sông, bao nhiêu ngã rẽ, khúc cua; mỗi dòng sông đều để lại bao luyến lưu, vương vấn, để lại những kí ức luôn tươi xanh mỗi khi nhớ về. Sông vẫn cứ chảy như thời gian trôi đi mải miết vì vậy “không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.
Xem thêm
Rặng Diên Vĩ - Tản văn của Quốc Tuấn
Gió vẫn thổi, mái tóc thơm tuột khỏi giây buộc, quấn quanh đầu như vòng hoa nâu thẫm, vô tình quất bỏng môi người. Mùi hương đó, quen quá. Mùi tóc mẹ, hương quê vị quán. Tựa như làn nước lung linh, hơi thở chị uyển chuyển theo nhịp điệu không gian. Đôi mắt và đôi môi vẫn mỉm cười nhưng đã có chút tiếc nuối. Chính nỗi buồn ẩn chứa trên khuôn dung đã khiến chị trở nên hấp dẫn, pha lẫn sự hồn nhiên, ngây thơ tạo nên một tổng thể đẹp đến khó tin.
Xem thêm
Trần Bảo Định - Thú thưởng ngoạn văn chương qua tác phẩm “Đọc thơ bạn”
Có thể nói Trần Bảo Định là một hiện tượng văn học Việt Nam hiện đại: Chỉ trong vòng khoảng hơn 10 năm trở lại đây, từ khi về hưu anh đã cho ra đời 6 tập thơ, hơn 10 tập tản văn, truyện ngắn và 3 tập tiểu luận phê bình trong khi phải chống chọi với căn bệnh ung thư quái ác...
Xem thêm
Canh cá rô đồng – Tản văn của Châu Duyên
Tôi biết về món canh cá rô đồng đã lâu theo lời kể của cô bạn đang ở thành phố mang tên Bác, toàn những tin nhắn như là: Ê! Trưa nay tớ đang ăn canh cá rô đồng nè.
Xem thêm
Sài Gòn như nhà, như mẹ, như quê… – Tản văn của Triệu Vẽ
Ở Sài Gòn, không có ranh giới trọng khinh giữa dân “Sài Gòn” hay dân “tỉnh lẻ”, dân “phố” hay dân “phèn”. Trong huyết quản sâu xa của người Sài Gòn có ruộng đồng, bờ bãi, con trâu, con gà.
Xem thêm
Ơi mùa hoa ban! – Bút ký của Nguyễn Huy Bang
Chiếc máy bay VJ 299 từ Tân Sơn Nhất (sau 2 giờ 5 phút) bay qua không phận 3 nước.
Xem thêm
Tháng Ba hoa gạo – Tản văn của Bằng Lăng Tím
Đào phai, mai vàng là sự kì diệu của tháng giêng. Chúa của các loài hoa tháng ba chính là hoa gạo. Xuân sắp sửa đi qua, hạ lấp ló ở đầu ngõ. Hoa gạo đẹp theo nét riêng và tùy vào thời tiết. Hôm nào trời quang hoa đỏ thắm, ngời sắc trong khoảng không. Ríu rít đàn chim, lao xao ong bướm. Hoa như đốm lửa thắp sáng cả bình minh. Hôm nào sương dày đặc, nhìn hoa như ánh lửa đêm đông, lập lòe mang đến sự ấm áp lạ thường.
Xem thêm
Nhớ hoa đào - Tùy văn của Nguyễn Linh Khiếu
Mỗi năm khi sắp tết bao giờ mình cũng mua hoa đào. Hà Nội không có hoa đào làm sao gọi là tết. Dù là bích đào bạch đào hay đào phai thì hoa đào bao giờ cũng mang tết đến mỗi ngôi nhà thân thương. 
Xem thêm
Giữa những mùa hoa nở - Bút ký Nguyễn Xuân Thủy
Từ Yên Khương, thuộc huyện Lang Chánh chúng tôi đi theo đường tuần tra biên giới lên Đồn Biên phòng Bát Mọt, thuộc huyện Thường Xuân. Đường tuần tra biên giới chập chùng uốn lượn giữa núi non, len lỏi giữa màu xanh của rừng. Càng lên hướng Cửa khẩu Khẹo càng có cảm giác đang đi về nơi thâm sơn cùng cốc. Cũng đúng, Bát Mọt là tuyến cuối của dải biên giới xứ Thanh, nơi có cột mốc 378 là nơi tiếp giáp biên giới giữa Thanh Hóa và Nghệ An. Những nơi cuối đất cùng trời bao giờ cũng gợi cho người ta sự rưng rưng về những niềm thương nỗi nhớ.
Xem thêm
Lửa Cát Bi, ngọn trao truyền khí chất Hải Phòng
“Ơi Hải Phòng cửa biển quê hương/ Tổ quốc đang ghi những trang lịch sử/ Của Hải Phòng viết trên sóng bão Thái Bình Dương”. Với vị thế địa lý của Hải Phòng, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nơi đây luôn là miền đất tiền tiêu quan trọng, cửa ngõ chiến lược. Bởi kẻ thù thường tiến hành xâm lược Hải Phòng đầu tiên, lấy đó làm bàn đạp để đánh chiếm Thăng Long – Hà Nội. Khi thất bại, chúng cũng thường chọn Hải Phòng là một trong những tuyến đường rút chạy cuối cùng. Hải Phòng là địa phương luôn “đi trước về sau”, có vị trí xứng đáng, giữ vai trò quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc cũng như các cuộc kháng chiến của cách mạng Việt Nam, xứng đáng với danh hiệu “Thành phố Cảng trung dũng, quyết thắng”.
Xem thêm
Mùi Tết vương dấu chân xa – Tản văn của Đặng Tường Vy
Mỗi độ xuân về, người con xa xứ không tránh khỏi rưng rức, chạnh lòng. Nỗi nhớ trong lòng người tha hương rất lạ: sâu lắng, dịu dàng, chôn kín. Như gái đôi mươi thầm thương trộm nhớ một ai đó, âm thầm, mãnh liệt, nồng nàn,  tha thiết.
Xem thêm
Mùi hương thảo - Tản văn Quốc Tuấn
Chị mười tám, hay hai lăm tuổi. Tôi cũng chẳng biết và không cần biết, chỉ cần trong tôi đã bận lòng trước vẻ đẹp thuần khiết của loài cúc lam đồng thảo ấy. Nơi đáy mắt thể hiện những đốm lửa vui, những nét cong, nếp gấp mong manh nơi khóe miệng, bờ môi thể hiện sự phong phú nơi nhiệt tâm.
Xem thêm
Phép màu đã không đến với chị, chị Hồng Oanh ơi!
Chia sẻ của nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh
Xem thêm
Vào vườn hương
Thành phố Cần Thơ đất rộng người thưa không chỉ có gạo trắng nước trong để níu chân người và du khách bốn phương. Tây Đô còn là mảnh đất văn hiến với không hiếm những trang anh hùng hào kiệt yêu nước và nghệ sĩ phong lưu tài hoa nhân cách. Kế thừa truyền thống văn chương của Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt … và các bậc văn nghệ sĩ đàn anh: Kiều Thanh Quế, Lưu Hữu Phước, Hoài Sơn, Mai Văn Bộ, Trần Kiết Tường, …đã có không ít thế hệ đàn em kế thừa xứng đáng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Suy ngẫm về “chữ” của “một thời vang bóng”_ Tản mạn của Quốc Tuấn
Người xưa, dẫu không biết chữ nhưng khi thấy một mẫu giấy có vết mực sẽ lượm lên, mang về cất giữ. Điều đó thể hiện sự “sùng chữ” (trân trọng giá trị của văn chương, chữ nghĩa) của ông cha. Những người không biết chữ đã biết đối xử với con chữ bằng tấm lòng trân quý như thế, thì dễ hiểu các trí giả đời trước họ sống với chữ nghĩa sâu sắc đến độ nào.
Xem thêm
Má tôi
Bài đăng báo Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024
Xem thêm