TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-03 23:20:28
mail facebook google pos stwis
2048 lượt xem

 Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại ký ức về những nhà thơ, nhà văn lão thành như Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Tuân… thế hệ đàn anh – những người đã “lót ổ” cho thế hệ hôm nay dưới mái nhà văn chương.

Ngày 30.9, tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội nghị đại biểu Nhà văn lão thành Việt Nam lần thứ nhất năm 2023. Hội nghị đánh giá những thành tựu to lớn của các nhà văn lão thành đối với nền văn học Việt Nam trong 50 năm qua. 

Vanvn.vn xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương, là tiếng vọng thời gian tưởng nhớ tới thế hệ nhà văn lão thành.

Nhà thơ Vũ Quần Phương. Ảnh: Hoàng Hà

Thế là tôi đã bước vào tuổi mụ 85 hôm 8/9 vừa qua. Sống tử như đùa mà ào một cái đã vào chặng cuối của đời người. Tiếng tích tắc của đồng hồ vẫn như mọi khi mà tâm trạng nhìn thời gian của mình không như xưa nữa. Không hiểu sao tuổi lớn thì cảm giác về thời gian như không còn chính xác, thấy chóng hết ngày, hết tháng, hết năm.

Thế là đã 60 năm tính từ cái ngày tôi được rủ đến họp thơ ở Hội Nhà văn Việt Nam. Trụ sở Hội khi ấy không phải ở 65 Nguyễn Du mà ở phía đối diện, bên số chẵn. Hồi đó (thập niên 1960) lứa chúng tôi được gọi là cây bút trẻ, sau này gọi là lứa chống Mỹ, hầu hết chưa vào Hội Nhà văn.

Anh Thái Giang được giải Nhất cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ năm 1962 và sau đó trong nhiều cuộc thi thơ khác anh luôn được giải cao mà khi viết bài này tôi giở tập kỷ yếu của hội ra xem hấy đến năm 1966, anh mới vào hội nhưng hầu như tất cả các cuộc họp về thơ, chúng tôi thường được mời dự. Mời giấy hoặc mời miệng kèm theo lời dặn của anh Chế Lan Viên hoặc anh Tế Hanh: ”Gặp anh em viết nhớ rủ các bạn ấy đến cho vui”.

Tôi đến buổi đầu là theo suất “rủ đến cho vui ấy”. Mà vui thật! Lần đầu tiên tôi được ngồi thật gần, được trò chuyện với các nhà thơ mà tôi được học tác phẩm của họ ở trung học: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Yến Lan… Đôi khi là: Tú Mỡ, Huy Cận, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Quang Dũng… Tôi thích thú như được ngồi trò chuyện với người trong cổ tích.

Buổi ấy tôi thấy anh Chế Lan Viên ngồi giữa cái đi-văng, một bên là Ca Lê Hiến một bên là Trường Giang. Anh Chế Lan Viên hồi đó là Trưởng tiểu ban thơ, người triệu tập và điều hành cuộc họp. Anh tạo một không khí thật gần giữa chúng tôi, những người còn nhiều rụt rè với văn chương và ngại ngùng trước các tên tuổi đã vào văn học sử như những người khai sinh nền thơ hiện đại nước nhà viết bằng quốc ngữ.

Trong buổi họp ấy Ca Lê Hiến đọc bài thơ tình yêu Anh là con sông chảy trước cửa nhà em. Trường Giang, người luôn có thơ đăng báo hồi ấy, đọc bài Gà Đông Cảo. Hai bài thơ chọn ngẫu nhiên mà giới thiệu khá chính xác hai mạch cảm xúc của các anh. Sau đó anh Ca Lê Hiến về miền Nam chiến đấu và làm thơ dưới bút danh Lê Anh Xuân. Anh hy sinh sau chiến dịch Mậu Thân.

Trường Giang làm báo Giao thông vận tải và làm thơ với viết hàng ngày cho đến khi về hưu. Anh mất lúc ranh giới giữa hai thế kỷ 20 và 21, vẫn chưa vào hội.

Năm 1972, khi chuyển từ nghề y sang làm biên tập cho buổi Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam tôi càng có điều kiện tiếp xúc với các bậc đàn anh, tính tuổi có người vào hàng cha chú mình rồi. Không chỉ thơ mà cả văn và phê bình. Tôi đã được gặp ông già nhỏ thó lành hiền Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tiểu thuyết Tố Tâm (1925), tác phẩm vào loại “cổ điển” của tiểu thuyết hiện đại nước nhà, đã xa vời lắm. Cụ Phách khi ấy đã không viết nữa. Nhưng gặp cụ như gặp một chứng cứ lịch sử của văn chương.

Tôi đã mạnh dạn hỏi cảm giác cụ Nguyễn Công Hoan, khi cuốn Đống rác cũ đang là sự kiện trong dư luận xã hội. Lại có lần trường sư phạm ở Hưng Yên mời cụ Nguyễn Tuân về nói chuyện văn, có mời thêm tôi về nói chuyện thơ. Trường có chiếc xe com-măng-ca vuông và cử một thầy giáo đi đón khách. Chắc để thể hiện sự tôn kính, thầy giáo đón cụ Nguyễn Tuân trước, sau rồi mới lần lượt đến năm người chúng tôi, hai diễn viên ngâm thơ, người đàn, người nói và một ông đi nghe nhờ.

Cụ Nguyễn ngồi ghế cạnh tài xế, là ghế sang nhất ở loại xe ấy. Phải cái mỗi lần có người lên cụ phải bước xuống đường để người ta lật cái ghế cụ đang ngồi ấy lấy lối vào xe. Xe đi lòng vòng đến cả giờ, cụ Nguyễn kiên trì xuống lên đúng yêu cầu.

Đến lần cuối, khi đón đến một ông đi nghe nhờ, ông này nhà ở gần hội, phố Nguyễn Du. Xe dừng, cụ Nguyễn nhanh nhẹn bước xuống, nhưng lần này cụ xách xuống theo cả cái làn cói, trong có cái cặp lồng xinh xắn. Cụ quay lại từ tốn nói với thầy giáo đi đón: “Đến đây gần nhà tôi rồi, xin ông cho tôi về”.

Lũ chúng tôi, ngồi phía sau tán chuyện đang vui, mới cuống lên, một người nhảy xuống ốp cụ: “Thưa bác, đi luôn thôi ạ, không đón ai nữa. Chúng cháu vô ý quá xin bác tha lỗi cho”. Tài xế cũng nhanh trí cụ Nguyễn vừa lên là đi ngay. Cụ không nói gì nhưng chắc còn đang bực. Trên xe trầm lắng hẳn.

Xe qua cầu Long Biên, chị Kim Dung, diễn viên ngâm thơ, người ít tuổi nhất đoàn, bỗng nhiên hướng lên khen “nhan sắc” nhà văn: “Bác có nước da đẹp quá, cứ đỏ hồng lên. Hôm bác nói chuyện ở đài về nghệ thuật nhả chữ, cháu có được nghe. Cả phát thanh viên, cả ca sĩ, diễn viên thích lắm, vỡ ra bao nhiêu điều, chứ chúng cháu cứ luyện thanh mò, vất vả lắm mà tiến chậm. Bác phải sang nói lại và nói thêm bác ạ. Nhiều người, hôm ấy vắng, chưa được nghe”. Thế là câu chuyện bác cháu về phát âm tiếng Việt lại hào hứng cho đến lúc xuống xe.

Tối hôm đó, lúc sắp lên hội trường làm phận sự của tôi, bác Nguyễn Tuân bảo: “Trưa nay anh nghe tôi nói rồi. Bây giờ tôi xin đến nghe anh một lúc”. Tôi thành thật thưa: “Có bác là kỷ niệm đẹp cho cháu nhưng cháu cũng sợ”. Bác nhắc: “một lúc thôi”. Một lúc trôi qua, bác lặng lẽ đứng dậy về phòng.

Phòng nghỉ là một lớp học cải biên, có giường tôi và giường bác Nguyễn. Khi tôi về thấy bác còn thức. Tôi hỏi: “Bác không ngủ ạ”. Bác Nguyễn đáp: “Tôi không ngủ sớm. Thường đọc một chút. Và lại muốn chờ anh. Anh có dây mắc màn chưa? Tôi có mang theo cuộn dây gai. Trên bàn ấy, anh lấy mà dùng”. Không hiểu sao, đến nay tôi vẫn nhớ chi tiết ấy.

Cụ Nguyễn Tuân có một cảm tình đặc biệt với những gì truyền thống. Có một điều gì vừa như xa xôi lại vừa như gắn bó hàng ngày với cụ mà chúng ta chỉ có thực sự chứng kiến mới hiểu ra các giá trị của những vang bóng từ một thuở xa xưa trong tâm hồn cụ. Tôi đã thấy, cũng ở đài, ngay trong phòng biên tập của chúng tôi, hồi chiến tranh chống Mỹ, cuộc gặp ngẫu nhiên của cụ và bà Quách Thị Hồ.

Bà Hồ là nghệ sĩ còn sót lại của thời xưa. Tuổi cao nhưng giọng vang, ấm. Bà hát ca trù hay ngâm thơ theo các làn truyền thống hay lạ lùng, có sức gợi lại những nề nếp văn hóa từ nhiều thời của nước mình, dấu xưa xe ngựa, bâng khuâng lắm.

Bữa ấy bà nhờ ông Đinh Khắc Ban, người chơi đàn đáy nổi danh từ trước cách mạng đun cho ấm nước, chị Trần Thị Tuyết thì rửa ấm chén. Bà Hồ lấy từ chiếc túi xách tay phong trà Thái Nguyên đặc biệt, hồi ấy trà ngon phải mua ngoài chợ đen, bà Hồ đã tự san ra từng phong nhỏ vừa với một ấm trà. Bà Hồ pha trà nghiêm cẩn, sang trọng như thực hiện một lễ nghi.

Bà nâng hai tay chén trà nhỏ đưa mời ông Nguyễn. Ông Nguyễn cũng hai tay đón chén trà nghi ngút khói. Ông nhấp trà, ngẫm nghĩ rồi nhìn bà Hồ, thư thả: “Trà ngon, bà pha khéo nhưng… hình như nước chưa đủ sôi”. Bà Hồ sửng sốt nhìn ông Nguyễn: “Ơ hay, ông lạ nhỉ, nước người ta vừa đun xong. Ông thấy đấy mà lại bảo chưa đủ sôi là đủ thế nào?”.

Ông Nguyễn im lặng, nét mặt bình thản. Bà Hồ rót chén trà mới, nhấp nhấp lại rồi tươi tỉnh và thân ái nhìn ông Tuân mà rằng: “Hay là ông ngậm trà vào miệng, tôi rót thắng nước vào xem đủ sôi chưa”. Mấy biên tập viên chúng tôi ngồi quanh vừa làm việc vừa hóng chuyện hai cố nhân, ai cũng bừng gương mặt, thích thú nhưng không dám cười thành tiếng. Tôi cũng vui mà quên đưa mắt liếc bác Nguyễn, người nổi tiếng kỹ tính xem lúc ấy bác thế nào nhưng tôi chắc ông cụ xúc động.

Cái câu nói của bà Hồ chát chúa thế nhưng hình như lại u ẩn chút hương thân ái từ một thời xa, đủ mang bác Nguyễn về ngược thời gian bốn mươi năm trước. Cái thời nhố nhăng và đau đớn của những ông TYPN, ông Xuân Tóc Đỏ, những chị Dậu, anh Phu, vẫn có những tấm lòng thương nhau, phục nhau thầm lặng của đám văn nhân tài tử thật sự biết tài đức nhau.

Cái chi tiết “đời” mà tôi chứng kiến hôm ấy quá mảnh mai mà sao tôi cứ ấn tượng mãi. Đọc tường thuật đám tang Tản Đà hay đám tang Vũ Trọng Phụng cũng thấy được tình cảm ấy.

Thế hệ viết đang dự cuộc họp này, có hạnh phúc là lúc mới vào nghề, đã được thở cùng khí quyển văn chương với các bậc khai sơn phá thạch cho nền văn chương nước nhà trong thời nước mất. Năm tháng chưa xa nhưng cuộc đời đã khác, trong câu chuyện hay trong tính cách các cụ, chúng ta như còn nhận ra dấu vết của cái thời ngỡ như trong tiền kiếp nhưng lại là bối cảnh văn chương của những tác phẩm mà chúng ta mê đắm.

Năm 1984, về làm ở Nhà xuất bản Văn học, tôi được giao làm tuyển tập cho các nhà văn trước cách mạng. Về thơ, phần trước cách mạng, chỉ chọn 20 bài. Nói chung, các tác giả đều vui “in gì thì in, được in là chúng tôi vui rồi”. Riêng anh Xuân Diệu cho rằng với anh 20 bài thì biết giới thiệu gì, anh đề nghị lấy thêm. Nhà xuất bản không thay đổi lượng bài được. Anh xin để anh tự chọn. Điều ấy tôi làm biên tập, tôi có thể phối hợp với anh được. Nhưng khi duyệt, nếu phải thay bài thì anh thuận cho. Anh Xuân Diệu nói: “Thế thì tôi chờ, khi nào tác giả được chọn tôi in”.

Tôi vẫn nghĩ thơ Xuân Diệu trước cách mạng có những bài hay lắm, có thể là hay nhất trong các tác giả Thơ Mới, hay trong cả tiến trình thơ Việt. Những bài ấy để dài lại rất “vu vơ”, dễ bị gạt. Mà không in tuyển Xuân Diệu thì chẳng ra làm sao. Tôi loay hoay tìm cách gỡ. Gỡ chưa ra sáng hôm sau, sớm lắm, anh Xuân Diệu đạp xe đến căn nhà tội nghiệp của gia đình tôi ở phố Trương Hán Siêu.

Anh nói: “Đêm qua anh nghĩ lại. Mình dỗi không in thì họ không in thật. Thế là vì mấy lượm lúa mà mình bỏ cả vụ gặt. Thôi họ muốn chọn thế nào cũng được. In thơ bây giờ như chạy đồ đạc ra khỏi đám cháy nhà. Chạy khỏi ngọn lửa của thời gian. Túm được thứ nào cứ bế đại ra. Chọn lọc gì nữa. Sẽ còn nhiều lần chọn lọc, sắp xếp lại. Các cậu chưa phải là người chọn cuối cùng đâu”. Rồi anh vận ca dao: Trời mà bắt chết thời thôi/ Nếu còn, tôi sẽ no xôi chán chè.

Bữa ấy anh Xuân Diệu nói liền một thôi. Tôi chỉ biết nghe, càng nghe càng nhẹ lòng. Nhẹ lòng vì nút thắt đã được gỡ. Nhưng lúc tiễn anh về, nhìn theo dáng lưng anh, như lầm lũi như kiên nhẫn, trên chiếc xe đạp Favorit, tôi như ngộ ra một triết lý sống của anh, cái triết lý chấp nhận, chấp nhận để thích ứng, để tồn tại, để phấn đấu cho cái đích mình đã định, với anh là tham gia đánh giặc cứu nước và làm thơ hay. Những cái đích thơ nhiều lúc phải tạm thời gác lại.

Ngay lứa chúng ta thôi cũng đã đáp ứng nhu cầu tình thế nhiều phen lắm. Nhưng chúng ta vẫn có những nhà thơ xuất sắc, những bài thơ được công chúng rộng lớn mến yêu. Bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, lứa đàn anh thời kháng chiến 9 năm và bài thơ Một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, lứa chúng ta trong cuộc kháng chiến lần sau, là hai đỉnh thơ độc đáo, đột xuất nhô lên rồi tuyệt tự. Nó không có hậu duệ. Tại sao? Trả lời câu hỏi ấy cũng là một cách thu thập kinh nghiệm làm nghề.

Tố Hữu, nhà thơ tài năng duy nhất không phải “nhận đường” hay “tìm đường”, ông cứ thẳng hướng ban đầu mà tiến. Có lần tôi được nghe ông khuyên, khi ấy ông đã hưu: “Xúc động thì nên viết, viết ngay nhưng đăng lúc nào thì phải tính”. Và ông tiếc. Hồi ông qua nước bạn đang cách mạng văn hóa, nhiều chuyện muốn viết lắm nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc, muốn viết thì cảm xúc lại mở rồi.

Một lần khi tôi hỏi tại sao ông ít thơ tình yêu thế, có phải vì cương vị xã hội mà ông không dám bộc bạch. Ông nói: “Không phải, tôi có được làm thơ vì tôi hay vì thơ đâu. Hồi Từ ấy, tôi làm thơ để tuyên truyền lý tưởng, sau này là để giải thích chính sách. Các cậu đừng coi tôi là nhà thơ chuyên nghiệp, thơ tôi nghiệp dư, cách mạng mới là chuyên nghiệp”. Tố Hữu nói xong, trầm ngâm. Tôi nhìn ông, thầm nghĩ đấy mới chính là chỗ lớn của thơ Tố Hữu.

Tôi hay hỏi tâm sự nghề viết, ở cuộc họp này xin được đôi nét tưởng nhớ, tri ân lớp đàn anh thuộc thế hệ đầu, những người đã lót ổ cho chúng ta, dưới mái nhà văn chương tam đại đồng đường khi ấy. Còn lớp chống Pháp và chính lớp chúng ta nữa, nhiều nỗi lòng, nhiều mong ước nghe cảm động lắm, thương nghề lắm, xin để một dịp khác.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm