TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-03 23:20:28
mail facebook google pos stwis
1659 lượt xem

 Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại ký ức về những nhà thơ, nhà văn lão thành như Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Tuân… thế hệ đàn anh – những người đã “lót ổ” cho thế hệ hôm nay dưới mái nhà văn chương.

Ngày 30.9, tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội nghị đại biểu Nhà văn lão thành Việt Nam lần thứ nhất năm 2023. Hội nghị đánh giá những thành tựu to lớn của các nhà văn lão thành đối với nền văn học Việt Nam trong 50 năm qua. 

Vanvn.vn xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương, là tiếng vọng thời gian tưởng nhớ tới thế hệ nhà văn lão thành.

Nhà thơ Vũ Quần Phương. Ảnh: Hoàng Hà

Thế là tôi đã bước vào tuổi mụ 85 hôm 8/9 vừa qua. Sống tử như đùa mà ào một cái đã vào chặng cuối của đời người. Tiếng tích tắc của đồng hồ vẫn như mọi khi mà tâm trạng nhìn thời gian của mình không như xưa nữa. Không hiểu sao tuổi lớn thì cảm giác về thời gian như không còn chính xác, thấy chóng hết ngày, hết tháng, hết năm.

Thế là đã 60 năm tính từ cái ngày tôi được rủ đến họp thơ ở Hội Nhà văn Việt Nam. Trụ sở Hội khi ấy không phải ở 65 Nguyễn Du mà ở phía đối diện, bên số chẵn. Hồi đó (thập niên 1960) lứa chúng tôi được gọi là cây bút trẻ, sau này gọi là lứa chống Mỹ, hầu hết chưa vào Hội Nhà văn.

Anh Thái Giang được giải Nhất cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ năm 1962 và sau đó trong nhiều cuộc thi thơ khác anh luôn được giải cao mà khi viết bài này tôi giở tập kỷ yếu của hội ra xem hấy đến năm 1966, anh mới vào hội nhưng hầu như tất cả các cuộc họp về thơ, chúng tôi thường được mời dự. Mời giấy hoặc mời miệng kèm theo lời dặn của anh Chế Lan Viên hoặc anh Tế Hanh: ”Gặp anh em viết nhớ rủ các bạn ấy đến cho vui”.

Tôi đến buổi đầu là theo suất “rủ đến cho vui ấy”. Mà vui thật! Lần đầu tiên tôi được ngồi thật gần, được trò chuyện với các nhà thơ mà tôi được học tác phẩm của họ ở trung học: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Yến Lan… Đôi khi là: Tú Mỡ, Huy Cận, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Quang Dũng… Tôi thích thú như được ngồi trò chuyện với người trong cổ tích.

Buổi ấy tôi thấy anh Chế Lan Viên ngồi giữa cái đi-văng, một bên là Ca Lê Hiến một bên là Trường Giang. Anh Chế Lan Viên hồi đó là Trưởng tiểu ban thơ, người triệu tập và điều hành cuộc họp. Anh tạo một không khí thật gần giữa chúng tôi, những người còn nhiều rụt rè với văn chương và ngại ngùng trước các tên tuổi đã vào văn học sử như những người khai sinh nền thơ hiện đại nước nhà viết bằng quốc ngữ.

Trong buổi họp ấy Ca Lê Hiến đọc bài thơ tình yêu Anh là con sông chảy trước cửa nhà em. Trường Giang, người luôn có thơ đăng báo hồi ấy, đọc bài Gà Đông Cảo. Hai bài thơ chọn ngẫu nhiên mà giới thiệu khá chính xác hai mạch cảm xúc của các anh. Sau đó anh Ca Lê Hiến về miền Nam chiến đấu và làm thơ dưới bút danh Lê Anh Xuân. Anh hy sinh sau chiến dịch Mậu Thân.

Trường Giang làm báo Giao thông vận tải và làm thơ với viết hàng ngày cho đến khi về hưu. Anh mất lúc ranh giới giữa hai thế kỷ 20 và 21, vẫn chưa vào hội.

Năm 1972, khi chuyển từ nghề y sang làm biên tập cho buổi Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam tôi càng có điều kiện tiếp xúc với các bậc đàn anh, tính tuổi có người vào hàng cha chú mình rồi. Không chỉ thơ mà cả văn và phê bình. Tôi đã được gặp ông già nhỏ thó lành hiền Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tiểu thuyết Tố Tâm (1925), tác phẩm vào loại “cổ điển” của tiểu thuyết hiện đại nước nhà, đã xa vời lắm. Cụ Phách khi ấy đã không viết nữa. Nhưng gặp cụ như gặp một chứng cứ lịch sử của văn chương.

Tôi đã mạnh dạn hỏi cảm giác cụ Nguyễn Công Hoan, khi cuốn Đống rác cũ đang là sự kiện trong dư luận xã hội. Lại có lần trường sư phạm ở Hưng Yên mời cụ Nguyễn Tuân về nói chuyện văn, có mời thêm tôi về nói chuyện thơ. Trường có chiếc xe com-măng-ca vuông và cử một thầy giáo đi đón khách. Chắc để thể hiện sự tôn kính, thầy giáo đón cụ Nguyễn Tuân trước, sau rồi mới lần lượt đến năm người chúng tôi, hai diễn viên ngâm thơ, người đàn, người nói và một ông đi nghe nhờ.

Cụ Nguyễn ngồi ghế cạnh tài xế, là ghế sang nhất ở loại xe ấy. Phải cái mỗi lần có người lên cụ phải bước xuống đường để người ta lật cái ghế cụ đang ngồi ấy lấy lối vào xe. Xe đi lòng vòng đến cả giờ, cụ Nguyễn kiên trì xuống lên đúng yêu cầu.

Đến lần cuối, khi đón đến một ông đi nghe nhờ, ông này nhà ở gần hội, phố Nguyễn Du. Xe dừng, cụ Nguyễn nhanh nhẹn bước xuống, nhưng lần này cụ xách xuống theo cả cái làn cói, trong có cái cặp lồng xinh xắn. Cụ quay lại từ tốn nói với thầy giáo đi đón: “Đến đây gần nhà tôi rồi, xin ông cho tôi về”.

Lũ chúng tôi, ngồi phía sau tán chuyện đang vui, mới cuống lên, một người nhảy xuống ốp cụ: “Thưa bác, đi luôn thôi ạ, không đón ai nữa. Chúng cháu vô ý quá xin bác tha lỗi cho”. Tài xế cũng nhanh trí cụ Nguyễn vừa lên là đi ngay. Cụ không nói gì nhưng chắc còn đang bực. Trên xe trầm lắng hẳn.

Xe qua cầu Long Biên, chị Kim Dung, diễn viên ngâm thơ, người ít tuổi nhất đoàn, bỗng nhiên hướng lên khen “nhan sắc” nhà văn: “Bác có nước da đẹp quá, cứ đỏ hồng lên. Hôm bác nói chuyện ở đài về nghệ thuật nhả chữ, cháu có được nghe. Cả phát thanh viên, cả ca sĩ, diễn viên thích lắm, vỡ ra bao nhiêu điều, chứ chúng cháu cứ luyện thanh mò, vất vả lắm mà tiến chậm. Bác phải sang nói lại và nói thêm bác ạ. Nhiều người, hôm ấy vắng, chưa được nghe”. Thế là câu chuyện bác cháu về phát âm tiếng Việt lại hào hứng cho đến lúc xuống xe.

Tối hôm đó, lúc sắp lên hội trường làm phận sự của tôi, bác Nguyễn Tuân bảo: “Trưa nay anh nghe tôi nói rồi. Bây giờ tôi xin đến nghe anh một lúc”. Tôi thành thật thưa: “Có bác là kỷ niệm đẹp cho cháu nhưng cháu cũng sợ”. Bác nhắc: “một lúc thôi”. Một lúc trôi qua, bác lặng lẽ đứng dậy về phòng.

Phòng nghỉ là một lớp học cải biên, có giường tôi và giường bác Nguyễn. Khi tôi về thấy bác còn thức. Tôi hỏi: “Bác không ngủ ạ”. Bác Nguyễn đáp: “Tôi không ngủ sớm. Thường đọc một chút. Và lại muốn chờ anh. Anh có dây mắc màn chưa? Tôi có mang theo cuộn dây gai. Trên bàn ấy, anh lấy mà dùng”. Không hiểu sao, đến nay tôi vẫn nhớ chi tiết ấy.

Cụ Nguyễn Tuân có một cảm tình đặc biệt với những gì truyền thống. Có một điều gì vừa như xa xôi lại vừa như gắn bó hàng ngày với cụ mà chúng ta chỉ có thực sự chứng kiến mới hiểu ra các giá trị của những vang bóng từ một thuở xa xưa trong tâm hồn cụ. Tôi đã thấy, cũng ở đài, ngay trong phòng biên tập của chúng tôi, hồi chiến tranh chống Mỹ, cuộc gặp ngẫu nhiên của cụ và bà Quách Thị Hồ.

Bà Hồ là nghệ sĩ còn sót lại của thời xưa. Tuổi cao nhưng giọng vang, ấm. Bà hát ca trù hay ngâm thơ theo các làn truyền thống hay lạ lùng, có sức gợi lại những nề nếp văn hóa từ nhiều thời của nước mình, dấu xưa xe ngựa, bâng khuâng lắm.

Bữa ấy bà nhờ ông Đinh Khắc Ban, người chơi đàn đáy nổi danh từ trước cách mạng đun cho ấm nước, chị Trần Thị Tuyết thì rửa ấm chén. Bà Hồ lấy từ chiếc túi xách tay phong trà Thái Nguyên đặc biệt, hồi ấy trà ngon phải mua ngoài chợ đen, bà Hồ đã tự san ra từng phong nhỏ vừa với một ấm trà. Bà Hồ pha trà nghiêm cẩn, sang trọng như thực hiện một lễ nghi.

Bà nâng hai tay chén trà nhỏ đưa mời ông Nguyễn. Ông Nguyễn cũng hai tay đón chén trà nghi ngút khói. Ông nhấp trà, ngẫm nghĩ rồi nhìn bà Hồ, thư thả: “Trà ngon, bà pha khéo nhưng… hình như nước chưa đủ sôi”. Bà Hồ sửng sốt nhìn ông Nguyễn: “Ơ hay, ông lạ nhỉ, nước người ta vừa đun xong. Ông thấy đấy mà lại bảo chưa đủ sôi là đủ thế nào?”.

Ông Nguyễn im lặng, nét mặt bình thản. Bà Hồ rót chén trà mới, nhấp nhấp lại rồi tươi tỉnh và thân ái nhìn ông Tuân mà rằng: “Hay là ông ngậm trà vào miệng, tôi rót thắng nước vào xem đủ sôi chưa”. Mấy biên tập viên chúng tôi ngồi quanh vừa làm việc vừa hóng chuyện hai cố nhân, ai cũng bừng gương mặt, thích thú nhưng không dám cười thành tiếng. Tôi cũng vui mà quên đưa mắt liếc bác Nguyễn, người nổi tiếng kỹ tính xem lúc ấy bác thế nào nhưng tôi chắc ông cụ xúc động.

Cái câu nói của bà Hồ chát chúa thế nhưng hình như lại u ẩn chút hương thân ái từ một thời xa, đủ mang bác Nguyễn về ngược thời gian bốn mươi năm trước. Cái thời nhố nhăng và đau đớn của những ông TYPN, ông Xuân Tóc Đỏ, những chị Dậu, anh Phu, vẫn có những tấm lòng thương nhau, phục nhau thầm lặng của đám văn nhân tài tử thật sự biết tài đức nhau.

Cái chi tiết “đời” mà tôi chứng kiến hôm ấy quá mảnh mai mà sao tôi cứ ấn tượng mãi. Đọc tường thuật đám tang Tản Đà hay đám tang Vũ Trọng Phụng cũng thấy được tình cảm ấy.

Thế hệ viết đang dự cuộc họp này, có hạnh phúc là lúc mới vào nghề, đã được thở cùng khí quyển văn chương với các bậc khai sơn phá thạch cho nền văn chương nước nhà trong thời nước mất. Năm tháng chưa xa nhưng cuộc đời đã khác, trong câu chuyện hay trong tính cách các cụ, chúng ta như còn nhận ra dấu vết của cái thời ngỡ như trong tiền kiếp nhưng lại là bối cảnh văn chương của những tác phẩm mà chúng ta mê đắm.

Năm 1984, về làm ở Nhà xuất bản Văn học, tôi được giao làm tuyển tập cho các nhà văn trước cách mạng. Về thơ, phần trước cách mạng, chỉ chọn 20 bài. Nói chung, các tác giả đều vui “in gì thì in, được in là chúng tôi vui rồi”. Riêng anh Xuân Diệu cho rằng với anh 20 bài thì biết giới thiệu gì, anh đề nghị lấy thêm. Nhà xuất bản không thay đổi lượng bài được. Anh xin để anh tự chọn. Điều ấy tôi làm biên tập, tôi có thể phối hợp với anh được. Nhưng khi duyệt, nếu phải thay bài thì anh thuận cho. Anh Xuân Diệu nói: “Thế thì tôi chờ, khi nào tác giả được chọn tôi in”.

Tôi vẫn nghĩ thơ Xuân Diệu trước cách mạng có những bài hay lắm, có thể là hay nhất trong các tác giả Thơ Mới, hay trong cả tiến trình thơ Việt. Những bài ấy để dài lại rất “vu vơ”, dễ bị gạt. Mà không in tuyển Xuân Diệu thì chẳng ra làm sao. Tôi loay hoay tìm cách gỡ. Gỡ chưa ra sáng hôm sau, sớm lắm, anh Xuân Diệu đạp xe đến căn nhà tội nghiệp của gia đình tôi ở phố Trương Hán Siêu.

Anh nói: “Đêm qua anh nghĩ lại. Mình dỗi không in thì họ không in thật. Thế là vì mấy lượm lúa mà mình bỏ cả vụ gặt. Thôi họ muốn chọn thế nào cũng được. In thơ bây giờ như chạy đồ đạc ra khỏi đám cháy nhà. Chạy khỏi ngọn lửa của thời gian. Túm được thứ nào cứ bế đại ra. Chọn lọc gì nữa. Sẽ còn nhiều lần chọn lọc, sắp xếp lại. Các cậu chưa phải là người chọn cuối cùng đâu”. Rồi anh vận ca dao: Trời mà bắt chết thời thôi/ Nếu còn, tôi sẽ no xôi chán chè.

Bữa ấy anh Xuân Diệu nói liền một thôi. Tôi chỉ biết nghe, càng nghe càng nhẹ lòng. Nhẹ lòng vì nút thắt đã được gỡ. Nhưng lúc tiễn anh về, nhìn theo dáng lưng anh, như lầm lũi như kiên nhẫn, trên chiếc xe đạp Favorit, tôi như ngộ ra một triết lý sống của anh, cái triết lý chấp nhận, chấp nhận để thích ứng, để tồn tại, để phấn đấu cho cái đích mình đã định, với anh là tham gia đánh giặc cứu nước và làm thơ hay. Những cái đích thơ nhiều lúc phải tạm thời gác lại.

Ngay lứa chúng ta thôi cũng đã đáp ứng nhu cầu tình thế nhiều phen lắm. Nhưng chúng ta vẫn có những nhà thơ xuất sắc, những bài thơ được công chúng rộng lớn mến yêu. Bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, lứa đàn anh thời kháng chiến 9 năm và bài thơ Một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, lứa chúng ta trong cuộc kháng chiến lần sau, là hai đỉnh thơ độc đáo, đột xuất nhô lên rồi tuyệt tự. Nó không có hậu duệ. Tại sao? Trả lời câu hỏi ấy cũng là một cách thu thập kinh nghiệm làm nghề.

Tố Hữu, nhà thơ tài năng duy nhất không phải “nhận đường” hay “tìm đường”, ông cứ thẳng hướng ban đầu mà tiến. Có lần tôi được nghe ông khuyên, khi ấy ông đã hưu: “Xúc động thì nên viết, viết ngay nhưng đăng lúc nào thì phải tính”. Và ông tiếc. Hồi ông qua nước bạn đang cách mạng văn hóa, nhiều chuyện muốn viết lắm nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc, muốn viết thì cảm xúc lại mở rồi.

Một lần khi tôi hỏi tại sao ông ít thơ tình yêu thế, có phải vì cương vị xã hội mà ông không dám bộc bạch. Ông nói: “Không phải, tôi có được làm thơ vì tôi hay vì thơ đâu. Hồi Từ ấy, tôi làm thơ để tuyên truyền lý tưởng, sau này là để giải thích chính sách. Các cậu đừng coi tôi là nhà thơ chuyên nghiệp, thơ tôi nghiệp dư, cách mạng mới là chuyên nghiệp”. Tố Hữu nói xong, trầm ngâm. Tôi nhìn ông, thầm nghĩ đấy mới chính là chỗ lớn của thơ Tố Hữu.

Tôi hay hỏi tâm sự nghề viết, ở cuộc họp này xin được đôi nét tưởng nhớ, tri ân lớp đàn anh thuộc thế hệ đầu, những người đã lót ổ cho chúng ta, dưới mái nhà văn chương tam đại đồng đường khi ấy. Còn lớp chống Pháp và chính lớp chúng ta nữa, nhiều nỗi lòng, nhiều mong ước nghe cảm động lắm, thương nghề lắm, xin để một dịp khác.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm