TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt về Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-03 23:20:28
mail facebook google pos stwis
1870 lượt xem

 Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại ký ức về những nhà thơ, nhà văn lão thành như Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Tuân… thế hệ đàn anh – những người đã “lót ổ” cho thế hệ hôm nay dưới mái nhà văn chương.

Ngày 30.9, tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội nghị đại biểu Nhà văn lão thành Việt Nam lần thứ nhất năm 2023. Hội nghị đánh giá những thành tựu to lớn của các nhà văn lão thành đối với nền văn học Việt Nam trong 50 năm qua. 

Vanvn.vn xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương, là tiếng vọng thời gian tưởng nhớ tới thế hệ nhà văn lão thành.

Nhà thơ Vũ Quần Phương. Ảnh: Hoàng Hà

Thế là tôi đã bước vào tuổi mụ 85 hôm 8/9 vừa qua. Sống tử như đùa mà ào một cái đã vào chặng cuối của đời người. Tiếng tích tắc của đồng hồ vẫn như mọi khi mà tâm trạng nhìn thời gian của mình không như xưa nữa. Không hiểu sao tuổi lớn thì cảm giác về thời gian như không còn chính xác, thấy chóng hết ngày, hết tháng, hết năm.

Thế là đã 60 năm tính từ cái ngày tôi được rủ đến họp thơ ở Hội Nhà văn Việt Nam. Trụ sở Hội khi ấy không phải ở 65 Nguyễn Du mà ở phía đối diện, bên số chẵn. Hồi đó (thập niên 1960) lứa chúng tôi được gọi là cây bút trẻ, sau này gọi là lứa chống Mỹ, hầu hết chưa vào Hội Nhà văn.

Anh Thái Giang được giải Nhất cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ năm 1962 và sau đó trong nhiều cuộc thi thơ khác anh luôn được giải cao mà khi viết bài này tôi giở tập kỷ yếu của hội ra xem hấy đến năm 1966, anh mới vào hội nhưng hầu như tất cả các cuộc họp về thơ, chúng tôi thường được mời dự. Mời giấy hoặc mời miệng kèm theo lời dặn của anh Chế Lan Viên hoặc anh Tế Hanh: ”Gặp anh em viết nhớ rủ các bạn ấy đến cho vui”.

Tôi đến buổi đầu là theo suất “rủ đến cho vui ấy”. Mà vui thật! Lần đầu tiên tôi được ngồi thật gần, được trò chuyện với các nhà thơ mà tôi được học tác phẩm của họ ở trung học: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Yến Lan… Đôi khi là: Tú Mỡ, Huy Cận, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Quang Dũng… Tôi thích thú như được ngồi trò chuyện với người trong cổ tích.

Buổi ấy tôi thấy anh Chế Lan Viên ngồi giữa cái đi-văng, một bên là Ca Lê Hiến một bên là Trường Giang. Anh Chế Lan Viên hồi đó là Trưởng tiểu ban thơ, người triệu tập và điều hành cuộc họp. Anh tạo một không khí thật gần giữa chúng tôi, những người còn nhiều rụt rè với văn chương và ngại ngùng trước các tên tuổi đã vào văn học sử như những người khai sinh nền thơ hiện đại nước nhà viết bằng quốc ngữ.

Trong buổi họp ấy Ca Lê Hiến đọc bài thơ tình yêu Anh là con sông chảy trước cửa nhà em. Trường Giang, người luôn có thơ đăng báo hồi ấy, đọc bài Gà Đông Cảo. Hai bài thơ chọn ngẫu nhiên mà giới thiệu khá chính xác hai mạch cảm xúc của các anh. Sau đó anh Ca Lê Hiến về miền Nam chiến đấu và làm thơ dưới bút danh Lê Anh Xuân. Anh hy sinh sau chiến dịch Mậu Thân.

Trường Giang làm báo Giao thông vận tải và làm thơ với viết hàng ngày cho đến khi về hưu. Anh mất lúc ranh giới giữa hai thế kỷ 20 và 21, vẫn chưa vào hội.

Năm 1972, khi chuyển từ nghề y sang làm biên tập cho buổi Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam tôi càng có điều kiện tiếp xúc với các bậc đàn anh, tính tuổi có người vào hàng cha chú mình rồi. Không chỉ thơ mà cả văn và phê bình. Tôi đã được gặp ông già nhỏ thó lành hiền Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tiểu thuyết Tố Tâm (1925), tác phẩm vào loại “cổ điển” của tiểu thuyết hiện đại nước nhà, đã xa vời lắm. Cụ Phách khi ấy đã không viết nữa. Nhưng gặp cụ như gặp một chứng cứ lịch sử của văn chương.

Tôi đã mạnh dạn hỏi cảm giác cụ Nguyễn Công Hoan, khi cuốn Đống rác cũ đang là sự kiện trong dư luận xã hội. Lại có lần trường sư phạm ở Hưng Yên mời cụ Nguyễn Tuân về nói chuyện văn, có mời thêm tôi về nói chuyện thơ. Trường có chiếc xe com-măng-ca vuông và cử một thầy giáo đi đón khách. Chắc để thể hiện sự tôn kính, thầy giáo đón cụ Nguyễn Tuân trước, sau rồi mới lần lượt đến năm người chúng tôi, hai diễn viên ngâm thơ, người đàn, người nói và một ông đi nghe nhờ.

Cụ Nguyễn ngồi ghế cạnh tài xế, là ghế sang nhất ở loại xe ấy. Phải cái mỗi lần có người lên cụ phải bước xuống đường để người ta lật cái ghế cụ đang ngồi ấy lấy lối vào xe. Xe đi lòng vòng đến cả giờ, cụ Nguyễn kiên trì xuống lên đúng yêu cầu.

Đến lần cuối, khi đón đến một ông đi nghe nhờ, ông này nhà ở gần hội, phố Nguyễn Du. Xe dừng, cụ Nguyễn nhanh nhẹn bước xuống, nhưng lần này cụ xách xuống theo cả cái làn cói, trong có cái cặp lồng xinh xắn. Cụ quay lại từ tốn nói với thầy giáo đi đón: “Đến đây gần nhà tôi rồi, xin ông cho tôi về”.

Lũ chúng tôi, ngồi phía sau tán chuyện đang vui, mới cuống lên, một người nhảy xuống ốp cụ: “Thưa bác, đi luôn thôi ạ, không đón ai nữa. Chúng cháu vô ý quá xin bác tha lỗi cho”. Tài xế cũng nhanh trí cụ Nguyễn vừa lên là đi ngay. Cụ không nói gì nhưng chắc còn đang bực. Trên xe trầm lắng hẳn.

Xe qua cầu Long Biên, chị Kim Dung, diễn viên ngâm thơ, người ít tuổi nhất đoàn, bỗng nhiên hướng lên khen “nhan sắc” nhà văn: “Bác có nước da đẹp quá, cứ đỏ hồng lên. Hôm bác nói chuyện ở đài về nghệ thuật nhả chữ, cháu có được nghe. Cả phát thanh viên, cả ca sĩ, diễn viên thích lắm, vỡ ra bao nhiêu điều, chứ chúng cháu cứ luyện thanh mò, vất vả lắm mà tiến chậm. Bác phải sang nói lại và nói thêm bác ạ. Nhiều người, hôm ấy vắng, chưa được nghe”. Thế là câu chuyện bác cháu về phát âm tiếng Việt lại hào hứng cho đến lúc xuống xe.

Tối hôm đó, lúc sắp lên hội trường làm phận sự của tôi, bác Nguyễn Tuân bảo: “Trưa nay anh nghe tôi nói rồi. Bây giờ tôi xin đến nghe anh một lúc”. Tôi thành thật thưa: “Có bác là kỷ niệm đẹp cho cháu nhưng cháu cũng sợ”. Bác nhắc: “một lúc thôi”. Một lúc trôi qua, bác lặng lẽ đứng dậy về phòng.

Phòng nghỉ là một lớp học cải biên, có giường tôi và giường bác Nguyễn. Khi tôi về thấy bác còn thức. Tôi hỏi: “Bác không ngủ ạ”. Bác Nguyễn đáp: “Tôi không ngủ sớm. Thường đọc một chút. Và lại muốn chờ anh. Anh có dây mắc màn chưa? Tôi có mang theo cuộn dây gai. Trên bàn ấy, anh lấy mà dùng”. Không hiểu sao, đến nay tôi vẫn nhớ chi tiết ấy.

Cụ Nguyễn Tuân có một cảm tình đặc biệt với những gì truyền thống. Có một điều gì vừa như xa xôi lại vừa như gắn bó hàng ngày với cụ mà chúng ta chỉ có thực sự chứng kiến mới hiểu ra các giá trị của những vang bóng từ một thuở xa xưa trong tâm hồn cụ. Tôi đã thấy, cũng ở đài, ngay trong phòng biên tập của chúng tôi, hồi chiến tranh chống Mỹ, cuộc gặp ngẫu nhiên của cụ và bà Quách Thị Hồ.

Bà Hồ là nghệ sĩ còn sót lại của thời xưa. Tuổi cao nhưng giọng vang, ấm. Bà hát ca trù hay ngâm thơ theo các làn truyền thống hay lạ lùng, có sức gợi lại những nề nếp văn hóa từ nhiều thời của nước mình, dấu xưa xe ngựa, bâng khuâng lắm.

Bữa ấy bà nhờ ông Đinh Khắc Ban, người chơi đàn đáy nổi danh từ trước cách mạng đun cho ấm nước, chị Trần Thị Tuyết thì rửa ấm chén. Bà Hồ lấy từ chiếc túi xách tay phong trà Thái Nguyên đặc biệt, hồi ấy trà ngon phải mua ngoài chợ đen, bà Hồ đã tự san ra từng phong nhỏ vừa với một ấm trà. Bà Hồ pha trà nghiêm cẩn, sang trọng như thực hiện một lễ nghi.

Bà nâng hai tay chén trà nhỏ đưa mời ông Nguyễn. Ông Nguyễn cũng hai tay đón chén trà nghi ngút khói. Ông nhấp trà, ngẫm nghĩ rồi nhìn bà Hồ, thư thả: “Trà ngon, bà pha khéo nhưng… hình như nước chưa đủ sôi”. Bà Hồ sửng sốt nhìn ông Nguyễn: “Ơ hay, ông lạ nhỉ, nước người ta vừa đun xong. Ông thấy đấy mà lại bảo chưa đủ sôi là đủ thế nào?”.

Ông Nguyễn im lặng, nét mặt bình thản. Bà Hồ rót chén trà mới, nhấp nhấp lại rồi tươi tỉnh và thân ái nhìn ông Tuân mà rằng: “Hay là ông ngậm trà vào miệng, tôi rót thắng nước vào xem đủ sôi chưa”. Mấy biên tập viên chúng tôi ngồi quanh vừa làm việc vừa hóng chuyện hai cố nhân, ai cũng bừng gương mặt, thích thú nhưng không dám cười thành tiếng. Tôi cũng vui mà quên đưa mắt liếc bác Nguyễn, người nổi tiếng kỹ tính xem lúc ấy bác thế nào nhưng tôi chắc ông cụ xúc động.

Cái câu nói của bà Hồ chát chúa thế nhưng hình như lại u ẩn chút hương thân ái từ một thời xa, đủ mang bác Nguyễn về ngược thời gian bốn mươi năm trước. Cái thời nhố nhăng và đau đớn của những ông TYPN, ông Xuân Tóc Đỏ, những chị Dậu, anh Phu, vẫn có những tấm lòng thương nhau, phục nhau thầm lặng của đám văn nhân tài tử thật sự biết tài đức nhau.

Cái chi tiết “đời” mà tôi chứng kiến hôm ấy quá mảnh mai mà sao tôi cứ ấn tượng mãi. Đọc tường thuật đám tang Tản Đà hay đám tang Vũ Trọng Phụng cũng thấy được tình cảm ấy.

Thế hệ viết đang dự cuộc họp này, có hạnh phúc là lúc mới vào nghề, đã được thở cùng khí quyển văn chương với các bậc khai sơn phá thạch cho nền văn chương nước nhà trong thời nước mất. Năm tháng chưa xa nhưng cuộc đời đã khác, trong câu chuyện hay trong tính cách các cụ, chúng ta như còn nhận ra dấu vết của cái thời ngỡ như trong tiền kiếp nhưng lại là bối cảnh văn chương của những tác phẩm mà chúng ta mê đắm.

Năm 1984, về làm ở Nhà xuất bản Văn học, tôi được giao làm tuyển tập cho các nhà văn trước cách mạng. Về thơ, phần trước cách mạng, chỉ chọn 20 bài. Nói chung, các tác giả đều vui “in gì thì in, được in là chúng tôi vui rồi”. Riêng anh Xuân Diệu cho rằng với anh 20 bài thì biết giới thiệu gì, anh đề nghị lấy thêm. Nhà xuất bản không thay đổi lượng bài được. Anh xin để anh tự chọn. Điều ấy tôi làm biên tập, tôi có thể phối hợp với anh được. Nhưng khi duyệt, nếu phải thay bài thì anh thuận cho. Anh Xuân Diệu nói: “Thế thì tôi chờ, khi nào tác giả được chọn tôi in”.

Tôi vẫn nghĩ thơ Xuân Diệu trước cách mạng có những bài hay lắm, có thể là hay nhất trong các tác giả Thơ Mới, hay trong cả tiến trình thơ Việt. Những bài ấy để dài lại rất “vu vơ”, dễ bị gạt. Mà không in tuyển Xuân Diệu thì chẳng ra làm sao. Tôi loay hoay tìm cách gỡ. Gỡ chưa ra sáng hôm sau, sớm lắm, anh Xuân Diệu đạp xe đến căn nhà tội nghiệp của gia đình tôi ở phố Trương Hán Siêu.

Anh nói: “Đêm qua anh nghĩ lại. Mình dỗi không in thì họ không in thật. Thế là vì mấy lượm lúa mà mình bỏ cả vụ gặt. Thôi họ muốn chọn thế nào cũng được. In thơ bây giờ như chạy đồ đạc ra khỏi đám cháy nhà. Chạy khỏi ngọn lửa của thời gian. Túm được thứ nào cứ bế đại ra. Chọn lọc gì nữa. Sẽ còn nhiều lần chọn lọc, sắp xếp lại. Các cậu chưa phải là người chọn cuối cùng đâu”. Rồi anh vận ca dao: Trời mà bắt chết thời thôi/ Nếu còn, tôi sẽ no xôi chán chè.

Bữa ấy anh Xuân Diệu nói liền một thôi. Tôi chỉ biết nghe, càng nghe càng nhẹ lòng. Nhẹ lòng vì nút thắt đã được gỡ. Nhưng lúc tiễn anh về, nhìn theo dáng lưng anh, như lầm lũi như kiên nhẫn, trên chiếc xe đạp Favorit, tôi như ngộ ra một triết lý sống của anh, cái triết lý chấp nhận, chấp nhận để thích ứng, để tồn tại, để phấn đấu cho cái đích mình đã định, với anh là tham gia đánh giặc cứu nước và làm thơ hay. Những cái đích thơ nhiều lúc phải tạm thời gác lại.

Ngay lứa chúng ta thôi cũng đã đáp ứng nhu cầu tình thế nhiều phen lắm. Nhưng chúng ta vẫn có những nhà thơ xuất sắc, những bài thơ được công chúng rộng lớn mến yêu. Bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, lứa đàn anh thời kháng chiến 9 năm và bài thơ Một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, lứa chúng ta trong cuộc kháng chiến lần sau, là hai đỉnh thơ độc đáo, đột xuất nhô lên rồi tuyệt tự. Nó không có hậu duệ. Tại sao? Trả lời câu hỏi ấy cũng là một cách thu thập kinh nghiệm làm nghề.

Tố Hữu, nhà thơ tài năng duy nhất không phải “nhận đường” hay “tìm đường”, ông cứ thẳng hướng ban đầu mà tiến. Có lần tôi được nghe ông khuyên, khi ấy ông đã hưu: “Xúc động thì nên viết, viết ngay nhưng đăng lúc nào thì phải tính”. Và ông tiếc. Hồi ông qua nước bạn đang cách mạng văn hóa, nhiều chuyện muốn viết lắm nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc, muốn viết thì cảm xúc lại mở rồi.

Một lần khi tôi hỏi tại sao ông ít thơ tình yêu thế, có phải vì cương vị xã hội mà ông không dám bộc bạch. Ông nói: “Không phải, tôi có được làm thơ vì tôi hay vì thơ đâu. Hồi Từ ấy, tôi làm thơ để tuyên truyền lý tưởng, sau này là để giải thích chính sách. Các cậu đừng coi tôi là nhà thơ chuyên nghiệp, thơ tôi nghiệp dư, cách mạng mới là chuyên nghiệp”. Tố Hữu nói xong, trầm ngâm. Tôi nhìn ông, thầm nghĩ đấy mới chính là chỗ lớn của thơ Tố Hữu.

Tôi hay hỏi tâm sự nghề viết, ở cuộc họp này xin được đôi nét tưởng nhớ, tri ân lớp đàn anh thuộc thế hệ đầu, những người đã lót ổ cho chúng ta, dưới mái nhà văn chương tam đại đồng đường khi ấy. Còn lớp chống Pháp và chính lớp chúng ta nữa, nhiều nỗi lòng, nhiều mong ước nghe cảm động lắm, thương nghề lắm, xin để một dịp khác.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm