TIN TỨC

Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-15 17:04:11
mail facebook google pos stwis
779 lượt xem

Hơn bốn mươi năm đi tìm hài cốt người em trai hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, người anh – một cựu chiến binh chống Mỹ – đã đi qua hy vọng, thất vọng và cuối cùng là sự thanh thản lặng lẽ. “Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh

Ký của NGUYỄN VĂN MẠNH

(Nhân kỷ niệm ngày thành lập QĐNDVN 22/12)

Tôi gặp anh vào một buổi chiều cuối năm, khi gió mùa đông bắc đã kịp tràn về, se sắt như những lớp ký ức lâu ngày bỗng trở mình. Mái tóc anh bạc quá nửa, ánh mắt vẫn giữ nguyên vẻ rắn rỏi của một người từng đi qua chiến tranh, từng sống trong những tháng năm không cho phép mình yếu đuối. Anh là một cựu chiến binh chống Mỹ, và hơn bốn mươi năm nay, anh mang trong lòng một cuộc hành trình khác – lặng lẽ, dai dẳng, nhiều khi tưởng như vô vọng – hành trình đi tìm hài cốt người em trai liệt sĩ: Nguyễn Đức Linh, hy sinh trong trận đánh đầu tiên chống quân Trung Quốc xâm lược tháng Hai năm 1979, tại chốt Pha Long, xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Tác giả bài viết.

Cuộc đời anh, nếu nhìn bề ngoài, cũng giống như bao người lính trở về sau chiến tranh, nhưng có một khoảng trống không bao giờ lấp đầy, một nỗi đau không gọi thành tiếng mà cứ âm ỉ suốt mấy chục năm ròng. Đó là em anh – đứa em trai chưa kịp sống trọn tuổi thanh xuân đã nằm lại nơi biên cương lạnh giá trong những ngày đầu khói lửa của cuộc chiến bảo vệ biên cương Tổ Quốc.

Tháng Hai năm 1979, khi tiếng súng vừa nổ dọc tuyến biên giới, Nguyễn Đức Linh cùng đồng đội đang chốt giữ Pha Long – một địa danh mà bây giờ nhắc đến, người ta thường nghĩ tới sương mù, núi đá, những con dốc dựng đứng và cái lạnh cắt da cắt thịt. Ngày ấy, Pha Long là tiền tiêu, là nơi đối diện trực diện với kẻ thù. Trận đánh đầu tiên diễn ra dữ dội, bất ngờ, khốc liệt. Nhiều người ngã xuống. Linh hy sinh. Tin báo về gia đình ngắn ngủi, khô khốc như một nhát dao: “Đồng chí Nguyễn Đức Linh đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc.”

Không có ngày giờ cụ thể. Không có tọa độ. Không có phần mộ.

Từ khoảnh khắc đó, cuộc đời anh rẽ sang một lối khác. Nỗi đau mất em không chỉ là đau thương, mà còn là cảm giác day dứt không nguôi của một người anh, một người lính: em mình ngã xuống vì đất nước, mà đến nơi yên nghỉ cũng không biết ở đâu.

Những năm đầu sau chiến tranh biên giới, điều kiện còn vô cùng khó khăn. Thông tin ít ỏi, đường sá cách trở, hồ sơ thất lạc. Anh lặn lội đi tìm, hỏi từ đơn vị cũ của em, hỏi đồng đội còn sống, hỏi chính quyền địa phương. Có người nhớ mang máng: “Hình như chôn tạm ở triền núi kia.” Có người nói: “Sau trận đánh, anh em hy sinh nhiều quá, chỉ kịp đánh dấu sơ sài.” Tất cả đều mờ mịt.

Rồi đến khi phong trào tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm rộ lên, anh cũng thử. Không phải vì mê tín, mà vì không còn con đường nào khác. Ba lần anh nhờ đến các nhà ngoại cảm, thông qua Trung tâm Khoa học ứng dụng tiềm năng con người. Ba lần lặn lội từ xuôi lên ngược, mang theo hy vọng mong manh. Ba lần đào bới, chờ đợi, hồi hộp. Và cả ba lần, kết quả đều là con số không.

Có những đêm anh ngồi lặng một mình, cố lần nhớ những kỷ niệm ngày còn nhỏ ở nhà, có mẹ có em, rồi tự hỏi: “Có phải anh đã làm chưa đủ? Hay em không muốn anh tìm thấy?” Câu hỏi ấy không có lời đáp, chỉ càng khoét sâu thêm nỗi đau.

Một lần lên Pha Long, anh đứng rất lâu ở nghĩa trang với 52 ngôi mộ liệt sỹ đã được quy tập. Gió thổi hun hút. Hàng thứ 2 bên trái anh là bảy ngôi mộ vô danh nằm lặng lẽ trên sườn đồi. Không tên, không tuổi, chỉ có dòng chữ chung chung: “Liệt sĩ chưa xác định được danh tính”. Anh đứng đó, tim thắt lại. Linh có thể đang nằm trong số bảy ngôi mộ ấy. Cũng có thể không. Nhưng nếu có, thì sao anh có thể bỏ qua?

Anh quyết định làm một việc mà ít người dám nghĩ tới: đề nghị đưa cả bảy hài cốt vô danh ấy về Cục Người có công – Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để giám định ADN. Thủ tục không hề đơn giản. Giấy tờ, xác nhận, ý kiến của nhiều cấp. Có người ái ngại: “Anh làm thế, nhỡ không phải em anh thì sao?” Anh chỉ trả lời: “Nếu không phải em tôi, thì cũng là một người con của đất nước. Làm vậy là để trả lại tên cho các anh.”

Kết quả ADN trả về. Không có mẫu nào trùng khớp với gia đình anh.

Tin ấy khiến anh lặng người. Hy vọng cuối cùng lại vụt tắt. Nhưng điều kỳ lạ là, từ sau lần đó, anh không còn tuyệt vọng nữa. Nỗi đau chuyển thành một nỗi đau khác – trầm lắng hơn, sâu hơn, và dai dẳng hơn. Anh hiểu rằng, có những người lính đã hòa vào đất đá biên cương, đến mức không thể gọi tên, không thể nhận diện. Nhưng họ vẫn ở đó, trong từng tấc đất, từng ngọn núi, từng cơn gió Pha Long.

Hơn bốn mươi năm trôi qua, nỗi đau ấy không hề phai. Nó theo anh trong từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Có những đêm, anh mơ thấy em trai trở về, trẻ trung, áo lính còn mùi khói súng. Linh không nói gì, chỉ nhìn anh cười. Anh giật mình tỉnh dậy, nước mắt rơi.

Tháng Mười Hai năm nay, anh quyết định lên Pha Long một lần nữa. Lần này không chỉ để tìm em. Anh tổ chức một chuyến đi thiện nguyện của tờ báo nơi anh công tác cùng hội từ thiện Nhơn Hạnh trao quà cho học sinh vùng cao – những đứa trẻ mà nhiều em bằng đúng tuổi Linh ngày nhập ngũ. Áo ấm, sách vở, bánh kẹo, tiền học bổng, được đóng thùng đưa lên ba chiếc xe cẩn thận. Anh nói: “Mình không tìm được em, thì thôi coi như làm chút gì đó thay em.”

Con đường từ Hà Nội lên Lào Cai, rồi từ thị trấn Mường Khương vào Pha Long vẫn quanh co, đá núi sắc lạnh, sương mù giăng kín. Những khúc cua tay áo khiến người ta choáng váng. Anh ngồi lặng trên xe, mắt nhìn ra ngoài cửa kính. Núi rừng Pha Long hiện ra vừa hùng vĩ, vừa khắc nghiệt. Bốn mươi năm trước, em trai anh đã chiến đấu ở đây, giữa thiên nhiên dữ dội thế này.

Đến Pha Long, được cô Dương Thị Dinh cán bộ phòng văn hóa xã dẫn xuống trường Trung học bán trù Dìn Chin và Trường mầm non Dìn Chin trao quà.  Những đứa trẻ vùng cao đón đoàn bằng ánh mắt trong veo, vừa rụt rè vừa háo hức. Khi khoác áo ấm cho các em, anh bất giác run tay. Có khoảnh khắc, anh thấy mình như đang chạm vào một phần quá khứ – cái tuổi mười bảy, mười tám của Linh, cái tuổi chưa kịp biết yêu, chưa kịp mơ ước nhiều cho riêng mình.

Rời trường, anh vào thăm Đồn Biên phòng Pha Long – đơn vị hai lần Anh hùng. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió lạnh. Những người lính trẻ đứng gác, súng trên vai, ánh mắt nghiêm nghị. Anh nhìn họ mà lòng trào lên nhiều cảm xúc: tự hào, thương mến, và cả một nỗi lo thầm lặng. Đất nước hòa bình, nhưng biên cương chưa bao giờ hết gian nan. Trong buổi trò chuyện thân mật với Trung tá Lèng Văn Trai Chính trị viên phó Ðồn biên phòng Pha Long và anh em chiến sĩ, anh kể lại câu chuyện của mình. Không ai nói nhiều. Căn phòng lặng đi. Có người lính trẻ cúi đầu, siết chặt tay. Chính trị viên phó đặt tay lên vai anh, nói chậm rãi: “Các anh đã giữ đất bằng máu. Chúng tôi hôm nay giữ đất bằng sự tỉnh táo và trách nhiệm. Anh yên tâm.”

Anh ra thăm bia Trấn ải, vào Nghĩa trang liệt sỹ Pha Long, Những dòng chữ khắc trên đá lạnh lẽo mà thiêng liêng. Gió thổi qua khe núi, nghe như tiếng thì thầm của lịch sử. Anh đứng đó rất lâu. Thắp hương thơm cắm lên từng ngôi mộ lạnh lẽo. Trong khoảnh khắc ấy, anh cảm nhận rõ ràng rằng em trai mình không ở một ngôi mộ cụ thể nào nữa. Linh đã ở trong từng tấc đất này, trong từng cột mốc biên cương, trong từng bước chân người lính hôm nay.

Khi rời Pha Long, trời đã xẩm tối. Sương mù lại giăng kín núi rừng. Anh quay lại nhìn lần cuối. Hơn bốn mươi năm tìm kiếm, không tìm được hài cốt em. Nhưng có lẽ, anh đã tìm được một điều khác: sự thanh thản. Nỗi đau vẫn còn đó, nhưng không còn day dứt đến nghẹt thở. Anh hiểu rằng, có những mất mát không thể bù đắp, chỉ có thể mang theo suốt đời như một phần máu thịt.

Trên chuyến xe trở về, anh nói khẽ, như nói với chính mình: “Anh chưa đưa được em về nhà. Nhưng anh đã đến với em.” Câu nói ấy lặng lẽ, không bi lụy, nhưng khiến người nghe không thể cầm lòng.

Hành trình một chuyến đi của người anh trai – một cựu chiến binh chống Mỹ có thể không có cái kết trọn vẹn theo ước vọng. Nhưng đó là một hành trình của tình ruột thịt, của trách nhiệm người lính, của lòng tri ân với những người đã ngã xuống. Và hơn hết, đó là minh chứng rằng: dù thời gian có trôi bao lâu, chiến tranh có lùi xa đến đâu, thì nỗi đau và sự biết ơn dành cho liệt sĩ vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim những người ở lại.

Pha Long vẫn gió. Núi rừng vẫn sương mù. Nhưng ở đó, có những người lính đã hóa thân vào đất nước, để tiếng hát các em học sinh hôm nay và mãi mai sau, biên cương này mãi là biên cương của màu xanh hòa bình.

Mùa đông năm Quý Tỵ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm
Một Việt Nam nhân hậu giữa bão lũ và nước mắt
Giữa màn đêm bị xé toang bởi gió, nước và tiếng kêu cứu, người ta lại nhìn thấy những điều kỳ diệu khác: tình người, sự hy sinh, lòng nhân hậu – những phẩm chất làm nên cốt cách vĩ đại của dân Việt.
Xem thêm