TIN TỨC

Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-15 17:04:11
mail facebook google pos stwis
1147 lượt xem

Hơn bốn mươi năm đi tìm hài cốt người em trai hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, người anh – một cựu chiến binh chống Mỹ – đã đi qua hy vọng, thất vọng và cuối cùng là sự thanh thản lặng lẽ. “Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh

Ký của NGUYỄN VĂN MẠNH

(Nhân kỷ niệm ngày thành lập QĐNDVN 22/12)

Tôi gặp anh vào một buổi chiều cuối năm, khi gió mùa đông bắc đã kịp tràn về, se sắt như những lớp ký ức lâu ngày bỗng trở mình. Mái tóc anh bạc quá nửa, ánh mắt vẫn giữ nguyên vẻ rắn rỏi của một người từng đi qua chiến tranh, từng sống trong những tháng năm không cho phép mình yếu đuối. Anh là một cựu chiến binh chống Mỹ, và hơn bốn mươi năm nay, anh mang trong lòng một cuộc hành trình khác – lặng lẽ, dai dẳng, nhiều khi tưởng như vô vọng – hành trình đi tìm hài cốt người em trai liệt sĩ: Nguyễn Đức Linh, hy sinh trong trận đánh đầu tiên chống quân Trung Quốc xâm lược tháng Hai năm 1979, tại chốt Pha Long, xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Tác giả bài viết.

Cuộc đời anh, nếu nhìn bề ngoài, cũng giống như bao người lính trở về sau chiến tranh, nhưng có một khoảng trống không bao giờ lấp đầy, một nỗi đau không gọi thành tiếng mà cứ âm ỉ suốt mấy chục năm ròng. Đó là em anh – đứa em trai chưa kịp sống trọn tuổi thanh xuân đã nằm lại nơi biên cương lạnh giá trong những ngày đầu khói lửa của cuộc chiến bảo vệ biên cương Tổ Quốc.

Tháng Hai năm 1979, khi tiếng súng vừa nổ dọc tuyến biên giới, Nguyễn Đức Linh cùng đồng đội đang chốt giữ Pha Long – một địa danh mà bây giờ nhắc đến, người ta thường nghĩ tới sương mù, núi đá, những con dốc dựng đứng và cái lạnh cắt da cắt thịt. Ngày ấy, Pha Long là tiền tiêu, là nơi đối diện trực diện với kẻ thù. Trận đánh đầu tiên diễn ra dữ dội, bất ngờ, khốc liệt. Nhiều người ngã xuống. Linh hy sinh. Tin báo về gia đình ngắn ngủi, khô khốc như một nhát dao: “Đồng chí Nguyễn Đức Linh đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc.”

Không có ngày giờ cụ thể. Không có tọa độ. Không có phần mộ.

Từ khoảnh khắc đó, cuộc đời anh rẽ sang một lối khác. Nỗi đau mất em không chỉ là đau thương, mà còn là cảm giác day dứt không nguôi của một người anh, một người lính: em mình ngã xuống vì đất nước, mà đến nơi yên nghỉ cũng không biết ở đâu.

Những năm đầu sau chiến tranh biên giới, điều kiện còn vô cùng khó khăn. Thông tin ít ỏi, đường sá cách trở, hồ sơ thất lạc. Anh lặn lội đi tìm, hỏi từ đơn vị cũ của em, hỏi đồng đội còn sống, hỏi chính quyền địa phương. Có người nhớ mang máng: “Hình như chôn tạm ở triền núi kia.” Có người nói: “Sau trận đánh, anh em hy sinh nhiều quá, chỉ kịp đánh dấu sơ sài.” Tất cả đều mờ mịt.

Rồi đến khi phong trào tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm rộ lên, anh cũng thử. Không phải vì mê tín, mà vì không còn con đường nào khác. Ba lần anh nhờ đến các nhà ngoại cảm, thông qua Trung tâm Khoa học ứng dụng tiềm năng con người. Ba lần lặn lội từ xuôi lên ngược, mang theo hy vọng mong manh. Ba lần đào bới, chờ đợi, hồi hộp. Và cả ba lần, kết quả đều là con số không.

Có những đêm anh ngồi lặng một mình, cố lần nhớ những kỷ niệm ngày còn nhỏ ở nhà, có mẹ có em, rồi tự hỏi: “Có phải anh đã làm chưa đủ? Hay em không muốn anh tìm thấy?” Câu hỏi ấy không có lời đáp, chỉ càng khoét sâu thêm nỗi đau.

Một lần lên Pha Long, anh đứng rất lâu ở nghĩa trang với 52 ngôi mộ liệt sỹ đã được quy tập. Gió thổi hun hút. Hàng thứ 2 bên trái anh là bảy ngôi mộ vô danh nằm lặng lẽ trên sườn đồi. Không tên, không tuổi, chỉ có dòng chữ chung chung: “Liệt sĩ chưa xác định được danh tính”. Anh đứng đó, tim thắt lại. Linh có thể đang nằm trong số bảy ngôi mộ ấy. Cũng có thể không. Nhưng nếu có, thì sao anh có thể bỏ qua?

Anh quyết định làm một việc mà ít người dám nghĩ tới: đề nghị đưa cả bảy hài cốt vô danh ấy về Cục Người có công – Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để giám định ADN. Thủ tục không hề đơn giản. Giấy tờ, xác nhận, ý kiến của nhiều cấp. Có người ái ngại: “Anh làm thế, nhỡ không phải em anh thì sao?” Anh chỉ trả lời: “Nếu không phải em tôi, thì cũng là một người con của đất nước. Làm vậy là để trả lại tên cho các anh.”

Kết quả ADN trả về. Không có mẫu nào trùng khớp với gia đình anh.

Tin ấy khiến anh lặng người. Hy vọng cuối cùng lại vụt tắt. Nhưng điều kỳ lạ là, từ sau lần đó, anh không còn tuyệt vọng nữa. Nỗi đau chuyển thành một nỗi đau khác – trầm lắng hơn, sâu hơn, và dai dẳng hơn. Anh hiểu rằng, có những người lính đã hòa vào đất đá biên cương, đến mức không thể gọi tên, không thể nhận diện. Nhưng họ vẫn ở đó, trong từng tấc đất, từng ngọn núi, từng cơn gió Pha Long.

Hơn bốn mươi năm trôi qua, nỗi đau ấy không hề phai. Nó theo anh trong từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Có những đêm, anh mơ thấy em trai trở về, trẻ trung, áo lính còn mùi khói súng. Linh không nói gì, chỉ nhìn anh cười. Anh giật mình tỉnh dậy, nước mắt rơi.

Tháng Mười Hai năm nay, anh quyết định lên Pha Long một lần nữa. Lần này không chỉ để tìm em. Anh tổ chức một chuyến đi thiện nguyện của tờ báo nơi anh công tác cùng hội từ thiện Nhơn Hạnh trao quà cho học sinh vùng cao – những đứa trẻ mà nhiều em bằng đúng tuổi Linh ngày nhập ngũ. Áo ấm, sách vở, bánh kẹo, tiền học bổng, được đóng thùng đưa lên ba chiếc xe cẩn thận. Anh nói: “Mình không tìm được em, thì thôi coi như làm chút gì đó thay em.”

Con đường từ Hà Nội lên Lào Cai, rồi từ thị trấn Mường Khương vào Pha Long vẫn quanh co, đá núi sắc lạnh, sương mù giăng kín. Những khúc cua tay áo khiến người ta choáng váng. Anh ngồi lặng trên xe, mắt nhìn ra ngoài cửa kính. Núi rừng Pha Long hiện ra vừa hùng vĩ, vừa khắc nghiệt. Bốn mươi năm trước, em trai anh đã chiến đấu ở đây, giữa thiên nhiên dữ dội thế này.

Đến Pha Long, được cô Dương Thị Dinh cán bộ phòng văn hóa xã dẫn xuống trường Trung học bán trù Dìn Chin và Trường mầm non Dìn Chin trao quà.  Những đứa trẻ vùng cao đón đoàn bằng ánh mắt trong veo, vừa rụt rè vừa háo hức. Khi khoác áo ấm cho các em, anh bất giác run tay. Có khoảnh khắc, anh thấy mình như đang chạm vào một phần quá khứ – cái tuổi mười bảy, mười tám của Linh, cái tuổi chưa kịp biết yêu, chưa kịp mơ ước nhiều cho riêng mình.

Rời trường, anh vào thăm Đồn Biên phòng Pha Long – đơn vị hai lần Anh hùng. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió lạnh. Những người lính trẻ đứng gác, súng trên vai, ánh mắt nghiêm nghị. Anh nhìn họ mà lòng trào lên nhiều cảm xúc: tự hào, thương mến, và cả một nỗi lo thầm lặng. Đất nước hòa bình, nhưng biên cương chưa bao giờ hết gian nan. Trong buổi trò chuyện thân mật với Trung tá Lèng Văn Trai Chính trị viên phó Ðồn biên phòng Pha Long và anh em chiến sĩ, anh kể lại câu chuyện của mình. Không ai nói nhiều. Căn phòng lặng đi. Có người lính trẻ cúi đầu, siết chặt tay. Chính trị viên phó đặt tay lên vai anh, nói chậm rãi: “Các anh đã giữ đất bằng máu. Chúng tôi hôm nay giữ đất bằng sự tỉnh táo và trách nhiệm. Anh yên tâm.”

Anh ra thăm bia Trấn ải, vào Nghĩa trang liệt sỹ Pha Long, Những dòng chữ khắc trên đá lạnh lẽo mà thiêng liêng. Gió thổi qua khe núi, nghe như tiếng thì thầm của lịch sử. Anh đứng đó rất lâu. Thắp hương thơm cắm lên từng ngôi mộ lạnh lẽo. Trong khoảnh khắc ấy, anh cảm nhận rõ ràng rằng em trai mình không ở một ngôi mộ cụ thể nào nữa. Linh đã ở trong từng tấc đất này, trong từng cột mốc biên cương, trong từng bước chân người lính hôm nay.

Khi rời Pha Long, trời đã xẩm tối. Sương mù lại giăng kín núi rừng. Anh quay lại nhìn lần cuối. Hơn bốn mươi năm tìm kiếm, không tìm được hài cốt em. Nhưng có lẽ, anh đã tìm được một điều khác: sự thanh thản. Nỗi đau vẫn còn đó, nhưng không còn day dứt đến nghẹt thở. Anh hiểu rằng, có những mất mát không thể bù đắp, chỉ có thể mang theo suốt đời như một phần máu thịt.

Trên chuyến xe trở về, anh nói khẽ, như nói với chính mình: “Anh chưa đưa được em về nhà. Nhưng anh đã đến với em.” Câu nói ấy lặng lẽ, không bi lụy, nhưng khiến người nghe không thể cầm lòng.

Hành trình một chuyến đi của người anh trai – một cựu chiến binh chống Mỹ có thể không có cái kết trọn vẹn theo ước vọng. Nhưng đó là một hành trình của tình ruột thịt, của trách nhiệm người lính, của lòng tri ân với những người đã ngã xuống. Và hơn hết, đó là minh chứng rằng: dù thời gian có trôi bao lâu, chiến tranh có lùi xa đến đâu, thì nỗi đau và sự biết ơn dành cho liệt sĩ vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim những người ở lại.

Pha Long vẫn gió. Núi rừng vẫn sương mù. Nhưng ở đó, có những người lính đã hóa thân vào đất nước, để tiếng hát các em học sinh hôm nay và mãi mai sau, biên cương này mãi là biên cương của màu xanh hòa bình.

Mùa đông năm Quý Tỵ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm