TIN TỨC

Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-15 17:04:11
mail facebook google pos stwis
994 lượt xem

Hơn bốn mươi năm đi tìm hài cốt người em trai hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, người anh – một cựu chiến binh chống Mỹ – đã đi qua hy vọng, thất vọng và cuối cùng là sự thanh thản lặng lẽ. “Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh

Ký của NGUYỄN VĂN MẠNH

(Nhân kỷ niệm ngày thành lập QĐNDVN 22/12)

Tôi gặp anh vào một buổi chiều cuối năm, khi gió mùa đông bắc đã kịp tràn về, se sắt như những lớp ký ức lâu ngày bỗng trở mình. Mái tóc anh bạc quá nửa, ánh mắt vẫn giữ nguyên vẻ rắn rỏi của một người từng đi qua chiến tranh, từng sống trong những tháng năm không cho phép mình yếu đuối. Anh là một cựu chiến binh chống Mỹ, và hơn bốn mươi năm nay, anh mang trong lòng một cuộc hành trình khác – lặng lẽ, dai dẳng, nhiều khi tưởng như vô vọng – hành trình đi tìm hài cốt người em trai liệt sĩ: Nguyễn Đức Linh, hy sinh trong trận đánh đầu tiên chống quân Trung Quốc xâm lược tháng Hai năm 1979, tại chốt Pha Long, xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Tác giả bài viết.

Cuộc đời anh, nếu nhìn bề ngoài, cũng giống như bao người lính trở về sau chiến tranh, nhưng có một khoảng trống không bao giờ lấp đầy, một nỗi đau không gọi thành tiếng mà cứ âm ỉ suốt mấy chục năm ròng. Đó là em anh – đứa em trai chưa kịp sống trọn tuổi thanh xuân đã nằm lại nơi biên cương lạnh giá trong những ngày đầu khói lửa của cuộc chiến bảo vệ biên cương Tổ Quốc.

Tháng Hai năm 1979, khi tiếng súng vừa nổ dọc tuyến biên giới, Nguyễn Đức Linh cùng đồng đội đang chốt giữ Pha Long – một địa danh mà bây giờ nhắc đến, người ta thường nghĩ tới sương mù, núi đá, những con dốc dựng đứng và cái lạnh cắt da cắt thịt. Ngày ấy, Pha Long là tiền tiêu, là nơi đối diện trực diện với kẻ thù. Trận đánh đầu tiên diễn ra dữ dội, bất ngờ, khốc liệt. Nhiều người ngã xuống. Linh hy sinh. Tin báo về gia đình ngắn ngủi, khô khốc như một nhát dao: “Đồng chí Nguyễn Đức Linh đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc.”

Không có ngày giờ cụ thể. Không có tọa độ. Không có phần mộ.

Từ khoảnh khắc đó, cuộc đời anh rẽ sang một lối khác. Nỗi đau mất em không chỉ là đau thương, mà còn là cảm giác day dứt không nguôi của một người anh, một người lính: em mình ngã xuống vì đất nước, mà đến nơi yên nghỉ cũng không biết ở đâu.

Những năm đầu sau chiến tranh biên giới, điều kiện còn vô cùng khó khăn. Thông tin ít ỏi, đường sá cách trở, hồ sơ thất lạc. Anh lặn lội đi tìm, hỏi từ đơn vị cũ của em, hỏi đồng đội còn sống, hỏi chính quyền địa phương. Có người nhớ mang máng: “Hình như chôn tạm ở triền núi kia.” Có người nói: “Sau trận đánh, anh em hy sinh nhiều quá, chỉ kịp đánh dấu sơ sài.” Tất cả đều mờ mịt.

Rồi đến khi phong trào tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm rộ lên, anh cũng thử. Không phải vì mê tín, mà vì không còn con đường nào khác. Ba lần anh nhờ đến các nhà ngoại cảm, thông qua Trung tâm Khoa học ứng dụng tiềm năng con người. Ba lần lặn lội từ xuôi lên ngược, mang theo hy vọng mong manh. Ba lần đào bới, chờ đợi, hồi hộp. Và cả ba lần, kết quả đều là con số không.

Có những đêm anh ngồi lặng một mình, cố lần nhớ những kỷ niệm ngày còn nhỏ ở nhà, có mẹ có em, rồi tự hỏi: “Có phải anh đã làm chưa đủ? Hay em không muốn anh tìm thấy?” Câu hỏi ấy không có lời đáp, chỉ càng khoét sâu thêm nỗi đau.

Một lần lên Pha Long, anh đứng rất lâu ở nghĩa trang với 52 ngôi mộ liệt sỹ đã được quy tập. Gió thổi hun hút. Hàng thứ 2 bên trái anh là bảy ngôi mộ vô danh nằm lặng lẽ trên sườn đồi. Không tên, không tuổi, chỉ có dòng chữ chung chung: “Liệt sĩ chưa xác định được danh tính”. Anh đứng đó, tim thắt lại. Linh có thể đang nằm trong số bảy ngôi mộ ấy. Cũng có thể không. Nhưng nếu có, thì sao anh có thể bỏ qua?

Anh quyết định làm một việc mà ít người dám nghĩ tới: đề nghị đưa cả bảy hài cốt vô danh ấy về Cục Người có công – Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để giám định ADN. Thủ tục không hề đơn giản. Giấy tờ, xác nhận, ý kiến của nhiều cấp. Có người ái ngại: “Anh làm thế, nhỡ không phải em anh thì sao?” Anh chỉ trả lời: “Nếu không phải em tôi, thì cũng là một người con của đất nước. Làm vậy là để trả lại tên cho các anh.”

Kết quả ADN trả về. Không có mẫu nào trùng khớp với gia đình anh.

Tin ấy khiến anh lặng người. Hy vọng cuối cùng lại vụt tắt. Nhưng điều kỳ lạ là, từ sau lần đó, anh không còn tuyệt vọng nữa. Nỗi đau chuyển thành một nỗi đau khác – trầm lắng hơn, sâu hơn, và dai dẳng hơn. Anh hiểu rằng, có những người lính đã hòa vào đất đá biên cương, đến mức không thể gọi tên, không thể nhận diện. Nhưng họ vẫn ở đó, trong từng tấc đất, từng ngọn núi, từng cơn gió Pha Long.

Hơn bốn mươi năm trôi qua, nỗi đau ấy không hề phai. Nó theo anh trong từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Có những đêm, anh mơ thấy em trai trở về, trẻ trung, áo lính còn mùi khói súng. Linh không nói gì, chỉ nhìn anh cười. Anh giật mình tỉnh dậy, nước mắt rơi.

Tháng Mười Hai năm nay, anh quyết định lên Pha Long một lần nữa. Lần này không chỉ để tìm em. Anh tổ chức một chuyến đi thiện nguyện của tờ báo nơi anh công tác cùng hội từ thiện Nhơn Hạnh trao quà cho học sinh vùng cao – những đứa trẻ mà nhiều em bằng đúng tuổi Linh ngày nhập ngũ. Áo ấm, sách vở, bánh kẹo, tiền học bổng, được đóng thùng đưa lên ba chiếc xe cẩn thận. Anh nói: “Mình không tìm được em, thì thôi coi như làm chút gì đó thay em.”

Con đường từ Hà Nội lên Lào Cai, rồi từ thị trấn Mường Khương vào Pha Long vẫn quanh co, đá núi sắc lạnh, sương mù giăng kín. Những khúc cua tay áo khiến người ta choáng váng. Anh ngồi lặng trên xe, mắt nhìn ra ngoài cửa kính. Núi rừng Pha Long hiện ra vừa hùng vĩ, vừa khắc nghiệt. Bốn mươi năm trước, em trai anh đã chiến đấu ở đây, giữa thiên nhiên dữ dội thế này.

Đến Pha Long, được cô Dương Thị Dinh cán bộ phòng văn hóa xã dẫn xuống trường Trung học bán trù Dìn Chin và Trường mầm non Dìn Chin trao quà.  Những đứa trẻ vùng cao đón đoàn bằng ánh mắt trong veo, vừa rụt rè vừa háo hức. Khi khoác áo ấm cho các em, anh bất giác run tay. Có khoảnh khắc, anh thấy mình như đang chạm vào một phần quá khứ – cái tuổi mười bảy, mười tám của Linh, cái tuổi chưa kịp biết yêu, chưa kịp mơ ước nhiều cho riêng mình.

Rời trường, anh vào thăm Đồn Biên phòng Pha Long – đơn vị hai lần Anh hùng. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió lạnh. Những người lính trẻ đứng gác, súng trên vai, ánh mắt nghiêm nghị. Anh nhìn họ mà lòng trào lên nhiều cảm xúc: tự hào, thương mến, và cả một nỗi lo thầm lặng. Đất nước hòa bình, nhưng biên cương chưa bao giờ hết gian nan. Trong buổi trò chuyện thân mật với Trung tá Lèng Văn Trai Chính trị viên phó Ðồn biên phòng Pha Long và anh em chiến sĩ, anh kể lại câu chuyện của mình. Không ai nói nhiều. Căn phòng lặng đi. Có người lính trẻ cúi đầu, siết chặt tay. Chính trị viên phó đặt tay lên vai anh, nói chậm rãi: “Các anh đã giữ đất bằng máu. Chúng tôi hôm nay giữ đất bằng sự tỉnh táo và trách nhiệm. Anh yên tâm.”

Anh ra thăm bia Trấn ải, vào Nghĩa trang liệt sỹ Pha Long, Những dòng chữ khắc trên đá lạnh lẽo mà thiêng liêng. Gió thổi qua khe núi, nghe như tiếng thì thầm của lịch sử. Anh đứng đó rất lâu. Thắp hương thơm cắm lên từng ngôi mộ lạnh lẽo. Trong khoảnh khắc ấy, anh cảm nhận rõ ràng rằng em trai mình không ở một ngôi mộ cụ thể nào nữa. Linh đã ở trong từng tấc đất này, trong từng cột mốc biên cương, trong từng bước chân người lính hôm nay.

Khi rời Pha Long, trời đã xẩm tối. Sương mù lại giăng kín núi rừng. Anh quay lại nhìn lần cuối. Hơn bốn mươi năm tìm kiếm, không tìm được hài cốt em. Nhưng có lẽ, anh đã tìm được một điều khác: sự thanh thản. Nỗi đau vẫn còn đó, nhưng không còn day dứt đến nghẹt thở. Anh hiểu rằng, có những mất mát không thể bù đắp, chỉ có thể mang theo suốt đời như một phần máu thịt.

Trên chuyến xe trở về, anh nói khẽ, như nói với chính mình: “Anh chưa đưa được em về nhà. Nhưng anh đã đến với em.” Câu nói ấy lặng lẽ, không bi lụy, nhưng khiến người nghe không thể cầm lòng.

Hành trình một chuyến đi của người anh trai – một cựu chiến binh chống Mỹ có thể không có cái kết trọn vẹn theo ước vọng. Nhưng đó là một hành trình của tình ruột thịt, của trách nhiệm người lính, của lòng tri ân với những người đã ngã xuống. Và hơn hết, đó là minh chứng rằng: dù thời gian có trôi bao lâu, chiến tranh có lùi xa đến đâu, thì nỗi đau và sự biết ơn dành cho liệt sĩ vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim những người ở lại.

Pha Long vẫn gió. Núi rừng vẫn sương mù. Nhưng ở đó, có những người lính đã hóa thân vào đất nước, để tiếng hát các em học sinh hôm nay và mãi mai sau, biên cương này mãi là biên cương của màu xanh hòa bình.

Mùa đông năm Quý Tỵ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm