TIN TỨC

Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-28 22:30:01
mail facebook google pos stwis
701 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.

 

Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung


Huyền thoại Daghestan, thi hào Rasul Gamzatovich Gamzatov có mấy câu mà tôi rất thích:

“Ai là người lắm lời hơn cả?
Cô gái già không có người yêu.
Ai là người nói nhiều hơn cả?
Nhà văn vô danh, luống tuổi, viết nhiều”…

Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung không vô danh. Ông, chính xác là tác phẩm của ông, rất nổi tiếng, mà ông thì không hẳn. Nhưng ông không hề biết mà cũng không cần biết. Bạn bè, độc giả thương quý ông, cả trong đời sống lẫn trong trang viết đều rất đông. Nhưng ông không quảng giao và luôn rất kiệm ngôn.

Tác phẩm của nhà văn suốt đời áo lính ấy, tôi đọc gần hết. Đến trước năm 2000, ông vẫn viết rất nhanh. Và viết nhiều. Toàn những cuốn tiểu thuyết, truyện, ký dày dặn: Thời chúng mình yêu nhau (1989), Biên giới (1982), Người đàn bà hồn nhiên (1996), Cú điện thoại lúc quá nửa đêm, Đứa con người lái đò (1992), Bên rừng thốt nốt (1984), Người đàn bà khóc mướn (1990), Tháng chạp của đời người, Đêm trừ tịch (1998)...

Năm 1974, mới 18 tuổi, ông đã rời quê vào quân ngũ, thuộc Sư đoàn 341 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam. Hòa bình chưa lâu, chiến tranh lại kéo ông sang đất bạn Campuchia, chiến đấu và cầm bút, sau đó về học khóa III Trường viết văn Nguyễn Du, rồi quay lại chiến trường K trong vai trò phóng viên báo Quân đoàn 4. Và cuối cùng, ông trụ lại rất lâu ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Phải thừa nhận, ông viết rất sâu về chiến tranh, nhất là với cuộc chiến biên giới Tây Nam. Khác với những nhà văn áo lính khác, chiến tranh trong tác phẩm của ông thường hiện ra trong những góc riêng, góc khuất dịu sâu đau đớn. Đó là tiếng thét câm lặng vọt ra từ lồng ngực hơn là đùng đoàng bom rơi đạn nổ. Ông viết về mảnh đất nào, viết về cái gì người ta cũng đọc ra tác giả là người xứ Nghệ. Ông viết về lửa khói chiến tranh dưới tán thốt nốt đất bạn Campuchia mà người đọc như tôi vẫn cứ hình dung ra chái bếp lợp lá cọ tỏa khói dưới những nhánh cọ bên vùng trung du Hương Sơn, Hà Tĩnh quê ông...

Tôi ấn tượng nhất với ông là cuốn "Người đàn bà khóc mướn" (1990), cuốn đầu tiên của ông mà tôi đọc. Đọc đi, đọc lại, ám ảnh. Nó riêng quá, độc đáo quá, dịu dàng, giằng xé và đau đớn đến nghẹt thở. Nó hình thành nên một cốt cách văn chương không giống ai. Phải là một con người đau đáu với quê hương, với ám thị tuổi thơ, với hắt hiu phận người vừa trung du, vừa chiêm trũng của thập niên 60 -70 thế kỷ trước mới có thể vắt tuổi mình mà viết ra được thế... Tôi đọc khi mới học năm thứ hai đại học. Và nhớ đến tận giờ. Cũng vì những trang viết đầy ám thị đó mà tôi phải tìm đọc cho bằng hết tác phẩm của ông.

Cùng một khoảng thời gian, Việt Nam có mấy tác phẩm văn chương tự hiện đầy tài hoa mà tôi không quên được. Đó là "Nỗi buồn chiến tranh" (Bảo Ninh), "Hồi ức làng Che" (Nguyễn Đức Thọ), "Bước qua lời nguyền" (Tạ Duy Anh) và "Người đàn bà khóc mướn" (Nguyễn Quốc Trung). Họ viết không hề giống bất kỳ cuốn nào, tác giả nào trước đó. Họ viết cho chính họ. Họ viết không mưu cầu, chỉ tuôn trào những đau đớn và ẩn ức từ trái tim vỡ vụn...

Đó là điều mà khi chập chững cầm bút tôi nhận ra, ám ảnh, dù không cắt nghĩa được.

Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.

Xa lạ với chữ tranh đua, hiển nhiên ông không mưu cầu thành bại. Tâm hồn mẫn cảm của một người cầm bút chỉ chất đầy những đau buồn mất mát của kiếp người. Cả trong chất liệu sáng tạo lẫn đời sống, ông, chính ông đã tự hóa một thực tại folklore trôi lạc giữa dòng văn chương đương đại. Nhà văn chỉ viết cho chính mình. Viết chỉ để viết, để giải tỏa, chữ nghĩa bật ra, vỡ tung từ tận tâm can.

Trang viết giàu ma mị, ám thị, cứ thế tuôn trào. Bạn bè, người đọc nghĩ về ông, đau đớn cùng ông với bao nhiêu thương quý. Nhưng ngoài trang viết, cơ hồ ông cũng chẳng biết mình có ai là bạn. Đến và đi, sống và viết, ông lặng lẽ. Tự chính nhà văn đã thừa đủ thành nguyên mẫu và chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết về thân phận con người hay một cuộc chiến dai dẳng giữa thời bình nhưng ông không hề biết. Lòng ông chất đầy phế tích. Hồi ức cũ luôn đau đớn dằn vặt nhưng dù có muốn, ông cũng không thể một lần quay trở lại.

Sau này, tôi tham gia làm tờ Văn hóa văn nghệ Công an từ khi nó chưa ra đời (từ tháng 11 - 1995). Nhà văn Nguyễn Quốc Trung là một trong những cộng tác viên đầu tiên. Ông hay ghé tòa soạn. Chỉ nói chuyện bài vở, trang viết, tuyệt không luận bàn thêm điều gì khác, chẳng chơi, chẳng chuyện trò cà kê dê ngỗng. Ông đến bất ngờ, lặng lẽ, rồi ra về cũng lặng lẽ, bất ngờ. Gặp ở nơi khác, ông vẫn thế. Ông chưa bao giờ cười đùa, không mấy khi để ai nghe tiếng. Ông như cái bóng đổ dài dưới ánh đèn nhà bao người khác.

Mãi sau này tôi mới hiểu. Từ 1989, nhà văn nặng lòng với quê hương Nguyễn Quốc Trung chỉ sống ở Sài Gòn, một mình, không gia đình. Đời ông vận vào số ly hương và cô độc. Tuy nhiên, ông vẫn chăm bẵm, lo lắng cho hai con gái mình đến nơi đến chốn, thành đạt. Tác phẩm của ông cũng là những hồi ức cô độc, gần như thoát ly hẳn với thời sự và để tài của những cái chung.

Điều duy nhất tôi biết về ông là sự cần mẫn, kỹ lưỡng đến kinh ngạc với trang viết. Thỉnh thoảng đang hồi thời sự nóng bỏng của vụ việc gì đó, tôi lại thấy ông đến tận nơi tìm. Có khi ông xin kết luận điều tra hay cáo trạng vụ án nào đó, lúc lại nhờ tìm giúp hình ảnh. Tôi lạ, anh có viết báo vụ việc đâu, cần những thứ đó làm gì? Ông bảo: "Ừ, anh không viết báo. Anh cần biết cho chắc chắn. Bây giờ chưa viết, mai mốt viết sợ không tìm được. Không sống thật với thực tại, mai sau chẳng có gì đáng để gọi là quá khứ…".

Quả đúng thế, ông chỉ cẩn trọng chứ chẳng chạy đua, chẳng đeo bám thời sự bao giờ. Ông sống bằng ký ức, viết bằng nỗi u hoài và tiếc nuối. Ông không mưu cầu điều gì, hình như mối quan tâm của ông không phải là tương lai. Ông chỉ chuẩn bị từ hiện tại để tương lại giàu thêm quá khứ. Tất nhiên, cũng chỉ để giàu thêm cho trang viết. Với đời riêng,nhà văn Nguyễn Quốc Trung chẳng trù liệu, vun quén chút gì. Và vì thế, trong mắt không ít người, ông có phần lập dị. Chỉ khi bàn vào ngưỡng văn chương, ông mới thật là ông. Vẫn nhẹ nhàng, ngắn gọn, không ồn ào, nhưng quyết liệt và không hề khoan nhượng.

Đời ông, như tôi biết, không hề đua chen, biệt bóng cả cơn giận lẫn nụ cười, già hơn tuổi. Sang thế kỷ XXI, ông viết ít hơn. Là ít với chính ông, nhưng vẫn sung sức chán so với bạn văn cùng thời cùng tuổi. Tác phẩm của ông vẫn đều đặn trình làng, với “Trong tiết thanh minh”, “Đêm trừ tịch”, “Người đến từ nước Mỹ”, “Cô gái tính nhảy cầu Rạch Miễu”. Gần đây nhất, trước đại dịch, ông còn cho ra mắt tiểu thuyết “Dòng sông bên chùa” (2019).

Phong cách và hình dung về ông thì vẫn thế. Hai mươi năm trước, ông gầy gò, khắc khổ, không cau có nhưng mặt vẫn đăm chiêu. Hai mươi năm sau vẫn đăm chiêu khắc khổ y như cũ. Mà không già đi. Mà người như ông, văn chương đau đớn riêng như ông, già thêm vào đâu được nữa?

Cùng ở Sài Gòn, nhưng tôi chỉ biết ông vướng Covid, phải nhập viện qua chia sẻ của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trên trang cá nhân vào ngày 31-8. Dịch dã, chẳng ai thăm ai được. Vài ngày trước, nhà báo Nguyễn Thiêm, con trai nhà văn Nguyễn Khắc Trường, một người yêu quý nhà văn Nguyễn Quốc Trung như em ruột có điện thoại hỏi thăm. Ông bảo: “Chú khỏe hơn rồi, sắp ra viện”. Thế rồi, bữa nay mùng 10-9, bỗng nghe ông về cõi tiêu diêu. Nhà văn khắc khổ ra đi trong cô độc. (Sau Covid, tro cốt Đại tá Nhà văn Nguyễn Quốc Trung, được vợ con rước về hương khói tại gia đình, sau đó được an táng tại Hương Sơn, Hà Tỉnh. Gần nửa thế kỷ làm thân lữ thứ, cuối cùng ông cũng an lành nằm lại với đất quê).

Anh đi thanh thản, anh Trung nhé. Rồi mấy tài hoa cũng đã lặng lẽ đi xong một kiếp con người. Chỉ thương anh, ngày về cát bụi không gia đình mà cũng không nốt cả "Những người đàn bà khóc mướn". Chỉ một thôi cũng không. Kiếp lai sinh không khói hương và tiếng khóc, ắt hẳn cũng là một kiểu gọi tên khác của nỗi buồn...



TP Hồ Chí Minh, ngày 10-9-2021.

N.H.L 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm