TIN TỨC

Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-23 15:18:09
mail facebook google pos stwis
1075 lượt xem

Từ miền quê xứ Nghệ giàu truyền thống yêu nước, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đường cứu nước, mở đầu cho một hành trình lịch sử có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Nhìn lại bước đi ấy trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là dịp để soi chiếu bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển, hội nhập của đất nước hôm nay.

NGUYÊN HÙNG

Trong lịch sử các dân tộc, có những con người không chấp nhận đứng yên trong không gian chật hẹp của thời đại mình. Họ đi – không phải để rời bỏ quê hương, mà để tìm một con đường rộng hơn cho dân tộc. Với Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, “đi” không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, càng không phải sự phiêu lưu nhất thời, mà là một quyết định chiến lược của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng giải phóng dân tộc.

Hành trình ấy bắt đầu từ một miền quê gió Lào cát trắng – xứ Nghệ, nơi những dòng sông như sông Lam mang trong mình mạch nguồn bền bỉ, âm thầm chảy ra biển lớn. Từ đó, một con người đã đi rất xa, để rồi mở ra con đường đi cho cả một dân tộc.

Từ bờ sông Lam mở ra những chân trời

Ai từng sinh ra ở Nghệ An đều hiểu: xứ Nghệ là miền đất mà căn tính “đi xa” đã nằm sẵn trong máu. Từ Làng Sen – gốc lúa nếp, bờ tre, mùa nước lên chạm mé bãi ngô; đến Nghi Lộc xưa – những xóm làng quẩn quanh bãi cát biển, những con đường đất hun hút nối ruộng đồng với chợ quê – người Nghệ đã quen với chuyện “đi”. Đi kiếm sống, đi tìm cái chữ, đi theo sóng biển vào Nam, vượt những chặng đường quanh co ra Bắc… Những bước chân ấy in hằn trên cát nóng, thấm đẫm mồ hôi mặn chát, mang theo cả hương vị chua cay của cam quýt, của khế rừng trong gió Lào.

Chính nơi đây, bên bờ sông Lam tưởng như nhỏ bé ấy, đã hun đúc nên ý chí và tầm vóc của một con người, để rồi trở thành bến khởi đầu cho những bước chân vĩ đại.

Với Nguyễn Tất Thành, cái “đi” ấy vượt sang một cấp độ khác. Không phải đi để mưu sinh, mà là đi để kiến tạo sinh mệnh cho một dân tộc. Từ Làng Sen, Người mang theo hành trang không phải là vàng bạc, mà là một trái tim yêu nước nóng bỏng và một bộ óc tỉnh táo khao khát giải mã những bài toán của thời đại. Ở tuổi 21, Người lên tàu tại Bến Nhà Rồng, không phải để du ngoạn, mà để tận mắt nhìn xem thế giới đang vận hành ra sao, và quan trọng hơn cả, để tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình.

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945. Ảnh tư liệu

Đi khắp thế giới để tìm đường cứu nước

Hà Nội không thể cho Người câu trả lời. Huế không đủ. Phan Thiết – Sài Gòn chỉ là những va đập đầu tiên. Nhưng Marseille, London, Paris đã trở thành những “trường học lớn” của một trí tuệ đang chín.

Tại Marseille, Người nhìn thấy nước Pháp ngay tại cửa ngõ của “mẫu quốc”, nơi cất giấu những cơ chế thực dân tinh vi nhất. Ở London, trong cái lạnh âm ẩm của xứ sương mù, Người làm thợ rửa ảnh – đôi bàn tay lặng lẽ trong phòng tối, nhưng tâm trí thì rực sáng bởi những tư tưởng mới, bởi sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa thực dân ngay tại “trái tim” của nó. Ở Paris, giữa ánh đèn điện lung linh và những quán cà phê ồn ã, Người làm bồi bàn, nhưng không để ánh sáng phù hoa làm lu mờ lý tưởng. Chính tại đây, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên chính trường quốc tế, ký những văn bản đầu tiên gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles (1919), đòi quyền bình đẳng cho dân An Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Paris – London – Marseille… đó không phải những miền lãng mạn, mà là những nơi tôi luyện trí tuệ, ý chí và bản lĩnh chính trị. Từ đó, Người hiểu rằng: muốn cứu nước, không thể chỉ dựa vào lòng yêu nước thuần túy, mà phải đi tới căn nguyên của quyền lực – lý luận, tổ chức và hệ thống quốc tế.

Từ châu Âu, bước chân Người tiếp tục sang Moskva – thủ đô của Cách mạng Tháng Mười. Ở đó, Nguyễn Ái Quốc không chỉ học chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn học phương pháp xây dựng Đảng, học cách biến tư tưởng thành hành động cách mạng. Rồi lần lượt Quảng Châu – Xiêm – Thái Lan trở thành những trạm trung chuyển của cách mạng Việt Nam. Những lớp huấn luyện nhỏ trong các căn phòng kín đáo, những tờ báo Thanh Niên mỏng manh nhưng chứa đựng ngọn lửa cách mạng… từ đó hình thành dần một lực lượng nòng cốt, một nền móng bền vững cho con đường giải phóng dân tộc.

Ba mươi năm đi để trở về

Sau ba mươi năm bôn ba, Người trở về. Ba mươi năm, bụi đường năm châu bám trên ngực áo, hóa thành lớp áo giáp của kinh nghiệm và từng trải. Nhưng trái tim ấy, sau tất cả những va đập và chứng kiến, không hề vẩn đục, mà càng tinh khiết hơn một tình yêu Tổ quốc.

Năm 1941, tại Pác Bó – hang Cốc Bó, nơi mạch nguồn cách mạng Việt Nam hồi sinh, Người nói một câu mà lịch sử mãi còn ghi nhớ:“Dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.
 

Bốn năm sau, trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (1945), Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không… chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Đó không chỉ là lời căn dặn, mà là một tuyên ngôn niềm tin vào tương lai dân tộc.

Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của văn học

Trong đời sống tinh thần Việt Nam, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa, một dòng chảy cảm hứng bền bỉ của văn học. Nhà văn Sơn Tùng với Búp sen xanh, Hoa dâm bụt, Bông sen vàng… đã dựng lại tuổi thơ và tuổi trẻ của Người bằng một đời nghiên cứu công phu, tận hiến. Nhà văn – học giả Nguyễn Thế Kỷ với trường thiên tiểu thuyết Nước non vạn dặm đã khắc họa một hành trình cách mạng gian lao mà oanh liệt, trải dài qua nhiều không gian và thời đoạn lịch sử.

Bên cạnh đó, nhà văn Trình Quang Phú cũng miệt mài lần theo dấu chân Người từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng, để lại nhiều tập truyện ký, bút ký viết về Bác Hồ, góp phần làm phong phú thêm mảng văn học viết về lãnh tụ.

Những tác phẩm ấy cho thấy: viết về Hồ Chí Minh không phải để thờ phụng, mà là một cách giáo dục truyền thống nhẹ mà thấm, bền mà sâu, nuôi dưỡng tâm hồn Việt qua nhiều thế hệ.

Một số tác phẩm tiêu biểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ xứ Nghệ nhìn ra hôm nay

Xuân này, tôi về Cửa Hội, nơi dòng Lam vẫn trôi lững lờ, âm thầm bồi đắp phù sa. Trong chợ quê, người đặt lá dong, người mua sẵn nếp, v.v.… Trong những ngõ nhỏ những người dân quê đã luyện tập cất lên những câu ca, những điệu ví, giặm quê hương chuẩn bị đón một mùa Tết, một mùa xuân mới nhiều hứa hẹn. Những sinh hoạt tưởng như nhỏ bé ấy dần theo năm tháng làm nên hồn cốt bền vững của một miền đất.

Từ xứ Nghệ, một con người đã đi rất xa để tìm đường cho dân tộc. Hôm nay, khi Đại hội Đảng lần thứ XIV đang diễn ra, nhìn lại hành trình ấy không chỉ là tri ân lịch sử, mà còn là một lời nhắc nhớ cho từng bước đi của chúng ta: đi với tri thức, với bản lĩnh, với tinh thần phụng sự dân tộc; đi để hội nhập nhưng không hòa tan; đi để mang quê hương theo mình, chứ không bỏ lại phía sau.

Nếu mỗi bước chân hôm nay – dù đi đâu, làm gì – đều đi với tinh thần ấy, thì đất nước này sẽ còn nhiều lần “tươi đẹp” hơn điều Bác từng ước vọng. Như sông Lam, dẫu quanh co, uốn khúc, nhưng trong từng dòng chảy vẫn âm ỉ sức mạnh của phù sa và khát vọng tìm về biển lớn – để hòa vào đại dương bao la của thế giới.

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm