TIN TỨC

Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-23 15:18:09
mail facebook google pos stwis
549 lượt xem

Từ miền quê xứ Nghệ giàu truyền thống yêu nước, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đường cứu nước, mở đầu cho một hành trình lịch sử có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Nhìn lại bước đi ấy trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là dịp để soi chiếu bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển, hội nhập của đất nước hôm nay.

NGUYÊN HÙNG

Trong lịch sử các dân tộc, có những con người không chấp nhận đứng yên trong không gian chật hẹp của thời đại mình. Họ đi – không phải để rời bỏ quê hương, mà để tìm một con đường rộng hơn cho dân tộc. Với Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, “đi” không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, càng không phải sự phiêu lưu nhất thời, mà là một quyết định chiến lược của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng giải phóng dân tộc.

Hành trình ấy bắt đầu từ một miền quê gió Lào cát trắng – xứ Nghệ, nơi những dòng sông như sông Lam mang trong mình mạch nguồn bền bỉ, âm thầm chảy ra biển lớn. Từ đó, một con người đã đi rất xa, để rồi mở ra con đường đi cho cả một dân tộc.

Từ bờ sông Lam mở ra những chân trời

Ai từng sinh ra ở Nghệ An đều hiểu: xứ Nghệ là miền đất mà căn tính “đi xa” đã nằm sẵn trong máu. Từ Làng Sen – gốc lúa nếp, bờ tre, mùa nước lên chạm mé bãi ngô; đến Nghi Lộc xưa – những xóm làng quẩn quanh bãi cát biển, những con đường đất hun hút nối ruộng đồng với chợ quê – người Nghệ đã quen với chuyện “đi”. Đi kiếm sống, đi tìm cái chữ, đi theo sóng biển vào Nam, vượt những chặng đường quanh co ra Bắc… Những bước chân ấy in hằn trên cát nóng, thấm đẫm mồ hôi mặn chát, mang theo cả hương vị chua cay của cam quýt, của khế rừng trong gió Lào.

Chính nơi đây, bên bờ sông Lam tưởng như nhỏ bé ấy, đã hun đúc nên ý chí và tầm vóc của một con người, để rồi trở thành bến khởi đầu cho những bước chân vĩ đại.

Với Nguyễn Tất Thành, cái “đi” ấy vượt sang một cấp độ khác. Không phải đi để mưu sinh, mà là đi để kiến tạo sinh mệnh cho một dân tộc. Từ Làng Sen, Người mang theo hành trang không phải là vàng bạc, mà là một trái tim yêu nước nóng bỏng và một bộ óc tỉnh táo khao khát giải mã những bài toán của thời đại. Ở tuổi 21, Người lên tàu tại Bến Nhà Rồng, không phải để du ngoạn, mà để tận mắt nhìn xem thế giới đang vận hành ra sao, và quan trọng hơn cả, để tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình.

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945. Ảnh tư liệu

Đi khắp thế giới để tìm đường cứu nước

Hà Nội không thể cho Người câu trả lời. Huế không đủ. Phan Thiết – Sài Gòn chỉ là những va đập đầu tiên. Nhưng Marseille, London, Paris đã trở thành những “trường học lớn” của một trí tuệ đang chín.

Tại Marseille, Người nhìn thấy nước Pháp ngay tại cửa ngõ của “mẫu quốc”, nơi cất giấu những cơ chế thực dân tinh vi nhất. Ở London, trong cái lạnh âm ẩm của xứ sương mù, Người làm thợ rửa ảnh – đôi bàn tay lặng lẽ trong phòng tối, nhưng tâm trí thì rực sáng bởi những tư tưởng mới, bởi sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa thực dân ngay tại “trái tim” của nó. Ở Paris, giữa ánh đèn điện lung linh và những quán cà phê ồn ã, Người làm bồi bàn, nhưng không để ánh sáng phù hoa làm lu mờ lý tưởng. Chính tại đây, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên chính trường quốc tế, ký những văn bản đầu tiên gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles (1919), đòi quyền bình đẳng cho dân An Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Paris – London – Marseille… đó không phải những miền lãng mạn, mà là những nơi tôi luyện trí tuệ, ý chí và bản lĩnh chính trị. Từ đó, Người hiểu rằng: muốn cứu nước, không thể chỉ dựa vào lòng yêu nước thuần túy, mà phải đi tới căn nguyên của quyền lực – lý luận, tổ chức và hệ thống quốc tế.

Từ châu Âu, bước chân Người tiếp tục sang Moskva – thủ đô của Cách mạng Tháng Mười. Ở đó, Nguyễn Ái Quốc không chỉ học chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn học phương pháp xây dựng Đảng, học cách biến tư tưởng thành hành động cách mạng. Rồi lần lượt Quảng Châu – Xiêm – Thái Lan trở thành những trạm trung chuyển của cách mạng Việt Nam. Những lớp huấn luyện nhỏ trong các căn phòng kín đáo, những tờ báo Thanh Niên mỏng manh nhưng chứa đựng ngọn lửa cách mạng… từ đó hình thành dần một lực lượng nòng cốt, một nền móng bền vững cho con đường giải phóng dân tộc.

Ba mươi năm đi để trở về

Sau ba mươi năm bôn ba, Người trở về. Ba mươi năm, bụi đường năm châu bám trên ngực áo, hóa thành lớp áo giáp của kinh nghiệm và từng trải. Nhưng trái tim ấy, sau tất cả những va đập và chứng kiến, không hề vẩn đục, mà càng tinh khiết hơn một tình yêu Tổ quốc.

Năm 1941, tại Pác Bó – hang Cốc Bó, nơi mạch nguồn cách mạng Việt Nam hồi sinh, Người nói một câu mà lịch sử mãi còn ghi nhớ:“Dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.
 

Bốn năm sau, trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (1945), Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không… chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Đó không chỉ là lời căn dặn, mà là một tuyên ngôn niềm tin vào tương lai dân tộc.

Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của văn học

Trong đời sống tinh thần Việt Nam, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa, một dòng chảy cảm hứng bền bỉ của văn học. Nhà văn Sơn Tùng với Búp sen xanh, Hoa dâm bụt, Bông sen vàng… đã dựng lại tuổi thơ và tuổi trẻ của Người bằng một đời nghiên cứu công phu, tận hiến. Nhà văn – học giả Nguyễn Thế Kỷ với trường thiên tiểu thuyết Nước non vạn dặm đã khắc họa một hành trình cách mạng gian lao mà oanh liệt, trải dài qua nhiều không gian và thời đoạn lịch sử.

Bên cạnh đó, nhà văn Trình Quang Phú cũng miệt mài lần theo dấu chân Người từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng, để lại nhiều tập truyện ký, bút ký viết về Bác Hồ, góp phần làm phong phú thêm mảng văn học viết về lãnh tụ.

Những tác phẩm ấy cho thấy: viết về Hồ Chí Minh không phải để thờ phụng, mà là một cách giáo dục truyền thống nhẹ mà thấm, bền mà sâu, nuôi dưỡng tâm hồn Việt qua nhiều thế hệ.

Một số tác phẩm tiêu biểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ xứ Nghệ nhìn ra hôm nay

Xuân này, tôi về Cửa Hội, nơi dòng Lam vẫn trôi lững lờ, âm thầm bồi đắp phù sa. Trong chợ quê, người đặt lá dong, người mua sẵn nếp, v.v.… Trong những ngõ nhỏ những người dân quê đã luyện tập cất lên những câu ca, những điệu ví, giặm quê hương chuẩn bị đón một mùa Tết, một mùa xuân mới nhiều hứa hẹn. Những sinh hoạt tưởng như nhỏ bé ấy dần theo năm tháng làm nên hồn cốt bền vững của một miền đất.

Từ xứ Nghệ, một con người đã đi rất xa để tìm đường cho dân tộc. Hôm nay, khi Đại hội Đảng lần thứ XIV đang diễn ra, nhìn lại hành trình ấy không chỉ là tri ân lịch sử, mà còn là một lời nhắc nhớ cho từng bước đi của chúng ta: đi với tri thức, với bản lĩnh, với tinh thần phụng sự dân tộc; đi để hội nhập nhưng không hòa tan; đi để mang quê hương theo mình, chứ không bỏ lại phía sau.

Nếu mỗi bước chân hôm nay – dù đi đâu, làm gì – đều đi với tinh thần ấy, thì đất nước này sẽ còn nhiều lần “tươi đẹp” hơn điều Bác từng ước vọng. Như sông Lam, dẫu quanh co, uốn khúc, nhưng trong từng dòng chảy vẫn âm ỉ sức mạnh của phù sa và khát vọng tìm về biển lớn – để hòa vào đại dương bao la của thế giới.

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm