TIN TỨC

Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-12 13:36:31
mail facebook google pos stwis
658 lượt xem

Không phải để nhắc lại bão lũ, mà để nói về những con người đứng dậy sau bão lũ. Phú Yên – trong ký ức và hiện tại – vẫn là miền đất của nghĩa tình và khát vọng hồi sinh, nơi lòng người đủ ấm để sưởi ấm cả mùa nước dữ.

NGUYÊN HÙNG

Phú Yên – mảnh đất đã đi qua hơn bốn trăm năm lịch sử, nơi lắng đọng khát vọng bền bỉ của bao thế hệ cha ông mở đất và giữ đất.

Với tôi, Phú Yên mãi là miền ký ức - của những cuộc gặp gỡ rồi chia ly, của những bình minh ửng hồng trong sương trên bãi Tuy Hòa. Dù hôm nay địa giới hành chính đã thay đổi, Phú Yên vẫn là miền Đất Phú – Trời Yên, nơi gửi gắm biết bao thương mến.

Tôi nhớ những lần trở lại cùng bè bạn văn nghệ: ngồi bên biển Sao Mai lặng nghe sóng vỗ ghềnh đá; hay những chiều lên Đồi Thơm, phóng tầm mắt ra biển mênh mang - nơi bao câu thơ, khúc hát đã thành hình. Phú Yên trong tôi không đơn thuần là một vùng đất - mà là một tâm hồn, một phần ký ức của những vần thơ. Ở đó, thiên nhiên và con người hòa quyện, dịu dàng mà kiên cường như chính mảnh đất miền Trung đầy nắng gió này.
 

Sau bão giông, nỗi đau còn đọng lại

Nghĩ về Phú Yên của những ngày cuối năm 2025, lòng tôi quặn thắt. Liên tiếp cơn bão số 13 – Kalmaegi (4–7/11) rồi trận lũ lịch sử (15–21/11) quét qua, đã để lại những mất mát quá lớn: hơn 80 người chết và mất tích; khoảng 150.000 ngôi nhà bị ngập sâu, trong đó hàng chục nghìn căn đổ nát; gần 70.000 ha cây trồng hư hại; hàng trăm tàu thuyền chìm ngay tại bến neo đậu; hàng chục nghìn lồng bè nuôi cá tan tác, trôi dạt. Riêng nghề nuôi tôm hùm tại Vịnh Xuân Đài gần như bị xóa sổ, với mức thiệt hại lên tới 95% – tương đương hàng nghìn tỷ đồng.

Lồng bè thủy sản của người dân Phú Yên (nay là Đắk Lắk) bị bão số 13 đánh tan nát. Ảnh: Tuấn Anh

Những làng chài sau bão lũ chỉ còn lại mái tôn méo mó, cây cối gãy đổ, và những ánh mắt thẫn thờ dõi ra biển sau những dòng lệ mặn chát. Sự cuồng nộ của thiên nhiên đã bào mòn đến không thương tiếc sức chịu đựng của người dân miền Trung – vốn đã quá kiệt quệ sau những mùa bão lũ nối chồng lên nhau.

Ở Phú Yên – miền đất tôi từng xem là nơi yên bình để trở về – sự bình yên ấy hôm nay bị xé toạc một cách tàn nhẫn. Qua màn hình TV, qua các phương tiện truyền thông, tôi nhìn thấy những ánh mắt đỏ hoe đứng trước khoảng sân trống – nơi từng có một mái nhà; những bàn tay sạm nắng run run nhặt lại tấm ảnh gia đình vớt lên từ bùn nước; và những cụ già, trẻ nhỏ ngồi thẫn thờ trước nền nhà trống hoác, không biết bắt đầu lại từ đâu.

Không ai khóc thành tiếng – có lẽ vì đã khóc quá nhiều, hoặc vì nước mắt phải nhường chỗ cho nghị lực. Nhưng tôi vẫn nghe rất rõ những “tiếng khóc không thành lời”: tiếng gió, tiếng sóng, và cả tiếng lặng im của đất trời.

Mỗi lần nhìn những khung cảnh đổ nát đến hoang tàn, tôi lại thấm thía rằng: người miền Trung không chỉ chịu đựng bão lũ – họ sống cùng bão lũ, lớn lên từ bão lũ, và biết đứng dậy sau bão lũ. Trong nước mắt còn vương bùn đất ấy, tôi thấy lấp lánh một thứ tài sản vô hình mà không sức mạnh nào cuốn trôi được: nghĩa tình.

Dọc bờ biển Tuy Hòa sau bão, gió vẫn lộng, sóng vẫn dạt dào, nhưng ẩn trong tiếng rì rầm ấy là bao tiếng thở dài. Biển – người bạn vĩnh cửu của ngư dân – bỗng trở nên dữ dội và lạnh lùng. Những con người từng “ăn sóng nói gió”, gắn cả đời với lưới, với thuyền, nay trắng tay, chỉ còn lại lòng kiên cường và niềm tin côi cút vào ngày mai.

Ấy vậy mà chính trong hoạn nạn và đổ nát, tôi lại thấy ánh lên vẻ đẹp của nghĩa tình.

Tại xã Hòa Thịnh, lúc 21 giờ ngày 19/11, khi nước lũ dâng nhanh bất thường và tiếng kêu cứu vang lên, anh Trần Công Thành đã bất chấp hiểm nguy, chèo chiếc ghe nhỏ vượt dòng dữ, với nhiều lượt, cứu hơn 40 người dân thôn Phú Hữu trong gang tấc.

Song song với câu chuyện ấy, cũng tại thôn Phú Hữu, căn nhà hai tầng kiên cố của gia đình anh Phan Duy Tân trở thành một trong số ít điểm tựa an toàn giữa biển nước. Gia đình anh mở rộng cửa cưu mang hơn 100 người dân mất nhà cửa đến tá túc, trú ẩn suốt nhiều ngày đêm trong khi chờ được cứu trợ.

Anh Trần Công Thành bên chiếc ghe nhỏ đã cứu 40 người trong lũ dữ ở xã Hòa Thịnh, Đắk Lắk. (Ảnh: TT)

Người Phú Yên không chịu than vãn lâu. Họ nhanh chóng bắt tay dọn dẹp, dựng lại mái nhà, vá lại tấm lưới, gầy lại từng lồng cá. Những đoàn thiện nguyện, những cánh tay sẻ chia từ khắp nơi đổ về – không chỉ là sự cứu trợ vật chất, mà còn là tiếp sức tinh thần cho một miền đất thấm đẫm ân tình.

Nhìn những đoàn người tự tay dựng lại từng mái nhà, gỡ từng tấm tôn gãy, san phẳng từng ụ bùn, tôi hiểu vì sao mảnh đất này luôn khiến tôi trăn trở. Ở nơi bão tố thử thách con người nhiều nhất, cũng chính là nơi lòng người sáng lên rõ nhất.

Phú Yên – miền đất tưởng chừng đã khuất phục trước thiên nhiên – lại đang lặng lẽ hồi sinh, bằng một nguồn năng lượng không tên, không hình sắc, nhưng mạnh hơn mọi bão giông: năng lượng của niềm tin và tình người.
 

Từ mất mát đến khát vọng hồi sinh

Phú Yên không chỉ cần được an ủi, mà cần được khôi phục - và cần một tầm nhìn phát triển bền vững. Bão tố đã lấy đi nhiều thứ, nhưng cũng chỉ ra những giới hạn cần vượt qua. Bên cạnh nghề đánh bắt xa bờ thì nghề nuôi trồng thủy sản cũng là sinh kế chủ lực của người dân vùng biển, và nó không thể mãi dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Đã đến lúc Phú Yên cần một hướng đi mới: phát triển nuôi biển công nghệ cao, ứng dụng khoa học để bảo vệ môi trường và ổn định sản lượng.

Từng được nghe Phó Giáo sư, tiến sĩ, nhà văn Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA) chia sẻ về mô hình nuôi cá, tôm công nghệ Na Uy, Israel..., tôi tin nếu áp dụng vào vùng nước ổn định của vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông hay vịnh Vũng Rô, sẽ mở ra cơ hội mới cho hàng ngàn ngư dân. Biển Phú Yên không chỉ là nơi ra khơi đánh bắt, mà hoàn toàn có thể trở thành "nông trại xanh trên sóng nước", nơi khoa học và truyền thống gặp nhau để kiến tạo tương lai.

Lồng tròn nuôi cá nhựa HDPE thương hiệu SuperPlas.

Phú Yên có lợi thế trời cho: vùng biển rộng, độ mặn ổn định, khí hậu điều hòa. Nếu được quy hoạch hợp lý, đầu tư hạ tầng và đào tạo kỹ năng, nghề nuôi trồng thủy sản công nghệ cao hoàn toàn có thể trở thành trụ cột kinh tế mới. Từ đó, người dân không chỉ sống được bằng nghề biển, mà còn làm giàu từ biển - một cách văn minh, bền vững, hòa hợp với tự nhiên.
 

Lòng người – nguồn năng lượng không tắt

Đi qua những con phố Tuy Hòa sau bão lũ, tôi bắt gặp những đốm lửa đỏ rực trong ánh lòng người dân nơi đây. Họ vẫn cười, vẫn mời khách ghé nhà, vẫn nói về mùa biển mới với ánh mắt hy vọng.

Chính lòng người ấy – ấm áp, nghĩa tình, không đầu hàng số phận – là nguồn năng lượng quý giá nhất để Phú Yên hồi sinh.

Tôi luôn tin: một miền đất có con người biết nắm tay nhau đứng dậy thì không cơn bão nào đánh gục được. Phú Yên – miền Đất Phú Trời Yên trong ký ức – hôm nay càng sáng rõ hơn với danh xưng miền đất Nghĩa Tình: nơi giữa mất mát vẫn nảy mầm hy vọng, nơi từ đổ nát vươn lên ánh sáng của ngày mai.

Bão lũ có thể xô nghiêng mái nhà, cuốn trôi bè cá, dập nát ruộng đồng… nhưng không thể cuốn trôi, cũng không thể làm loãng lòng người Phú Yên.

Với tôi, Phú Yên – dù đổi thay địa giới – vẫn mãi là miền để trở về.

Nơi biển còn xanh, trời còn trong, và con người vẫn hiền hòa như thuở nào.

Nơi ấy cũng là nguồn cội để “xanh biếc hồn văn”, cho câu chữ được thăng hoa:

Núi Nhạn gọi chim, tháp Nghinh Phong đón gió
Xứ hoa vàng xanh biếc hồn văn
Người cầm bút mơ màng, lắng nghe sóng hát
Ý tứ trầm hương, câu chữ thăng hoa…

Những ngày cuối tháng 11/2025

Mời đọc:

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm