TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • 90 năm trước, Hà Nội nơi đầu tiên ra mắt lối thơ mới với bài ‘Tình già’

90 năm trước, Hà Nội nơi đầu tiên ra mắt lối thơ mới với bài ‘Tình già’

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-02-11 12:33:40
mail facebook google pos stwis
2507 lượt xem

Trong dư luận công chúng Việt Nam, việc nền thơ mới tiếng Việt hiện đại là kết quả vận động phát triển của phong trào thơ mới, 1932-1945, – là điều đã được thừa nhận.

Trong giới sáng tác và phê bình nghiên cứu Việt Nam, nói khác đi là trong làng văn người Việt, sự kiện được coi là đánh dấu điểm khởi phát phong trào thơ mới, – chính là việc tác gia Phan Khôi công bố bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ, trong đó nêu quy tắc duy nhất của “lối thơ mới” là chỉ yêu cầu sự hiện diện của vần, ngoài ra không có bất cứ quy tắc nào về số từ trong mỗi câu thơ, số câu thơ trong mỗi bài thơ; và bài thơ Tình già của chính tác giả được đưa ra trong bài báo như ví dụ cho lối thơ mới.

Bài báo phát động thơ mới đó được đăng sớm nhất trên Tập văn mùa xuân Đông tây, một đặc san Tết của tuần báo Đông tây, khi ấy được coi là tờ báo của tuổi trẻ đất Bắc.

Theo mô tả của Thư viện quốc gia Việt Nam (31 Tràng Thi, Hà Nội) thì ấn phẩm này in tại nhà in Tân Dân, dày 24 trang, khổ 32 cm. Các bài chính trong ấn phẩm là của Văn Tôi (tức Hoàng Tích Chu), Ngym (bút danh của một họa sĩ), Nhị Lang, Phan Khôi, Trúc Đỳnh, Vi Huyền Đắc, Vũ Bằng, Thượng Minh, Tương Huyền, Ngẫu Trì, Đặng Trọng Duyệt, Đại Thanh, thơ của Nam Hương, Đạm Quang. Bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi in ở hai trang 6 và 7; ngoài ra có lẽ ông còn có một bài nữa, ký tắt là K., viết về nỗ lực của nhà cầm quyền và ngành hàng không Pháp nhằm mở đường bay từ Marseille đến Hà Nội.

Đặc san Tập văn mùa xuân Đông tây được xuất bản vào ngày nào? Tiếc là trên bản in không có ngày tháng xác định. Bìa 1 in hai màu, có mấy dòng chữ Pháp viết tay trên bản nộp lưu chiểu của chủ nhiệm Hoàng Tích Chu chỉ ghi số bản in (Tirage: 2000 exemplaires) và ký tên. Ở chân trang bìa 1 có mấy chữ in: “Tập văn mùa xuân này xuất bản đầu năm Nhâm Thìn”; sắp chữ “năm Nhâm Thìn” rõ ràng là sai (tuy in sai nhưng không dám bỏ bìa in màu chăng?) nên ngay chân trang bìa 2 có khung nhỏ in lời cải chính: “Tập văn mùa xuân này xuất bản đầu năm Nhâm Thân 1932 chứ không phải đầu năm Nhâm Thìn như đã in lầm ở bìa vậy. Nay cải chính”!

Người ta biết, ngày mồng 1 tết Nhâm Thân là ngày 6/2/1932 (dương lịch); các loại báo tết, giai phẩm xuân thường phải được phát hành trước Tết chừng một tháng, ít ra cũng vài tuần. Vậy Tập văn mùa xuân của báo Đông tây chắc hẳn được phát hành trước tết một tuần; tạm coi như được phát hành từ 1/2/1932, nếu không phải là còn sớm hơn nữa.

Chính vì được đăng tải trước tết, nên ngay sau tuần nghỉ tết, trên báo chí Hà Nội đã thấy có phản xạ của dư luận đối với việc Phan Khôi phát động thơ mới. Tác giả Thượng Minh có bài Đôi lời về lối thơ mới của Phan Khôi (Đông tây, 17/2/1932). Và Phan Khôi cũng kịp gửi bài đáp lại: “Về lối thơ mới sau bài Tình già: Vừa mở ra đã có người lo cột lại” (Đông tây, 12/3/1932).

Ở phía Nam, bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi đăng tuần báo Phụ nữ tân văn số 122 (10/3/1932), muộn hơn một tháng so với thời điểm phát hành Tập văn mùa xuân của báo Đông tây ngoài Bắc. Ngoài ra, bản đăng Phụ nữ tân văn bài này lại bị kiểm duyệt cắt bỏ một vài đoạn, so với bản đăng Tập văn mùa xuân Đông tây.

Cho đến năm 1935, trên tờ Tân thiếu niên (s.3, ngày 16/2/1935) ở Hà Nội, hai tác giả Nguyễn Xuân Huy và T.K. còn ghi nhận: “Năm 1932, trong Tập văn mùa xuân của báo Đông tây, ông Phan Khôi có đem ‘trình chánh’ trong làng thơ một lối thơ phỏng theo lối ‘thơ tự do’ của văn học Pháp, không hạn chữ không hạn câu, mệnh danh là ‘thơ mới’. Ông Phan đưa ra một bài làm mẫu, bài ‘Tình già’…”.

Diện mạo vụ việc ở báo chí đương thời là như thế, và sẽ không có gì đáng để căn lại thật chính xác về thời gian nếu nó không đi vào văn học sử!

Bởi vì, khi nhà phê bình Hoài Thanh, hồi 1940-1941, sống ở Huế, đang làm một tuyển tập để vinh danh phong trào thơ mới (tuyển này sẽ được hai soạn giả Hoài Thanh, Hoài Chân đặt tên là Thi nhân Việt Nam 1932-1941), Hoài Thanh lại chỉ biết bài báo kể trên của Phan Khôi đăng Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, chứ không biết đến bản đăng Tập văn mùa xuân Đông tây! Ông coi phong trào thơ mới là “một cuộc cách mệnh về thi ca”, và coi bài báo Phan Khôi đem trình trước làng thơ Việt “một lối thơ mới” với ví dụ là bài Tình già như là điểm khởi đầu “nhóm lên” cuộc “cách mệnh thi ca” kia!

Một ý tưởng vinh danh rất đáng đồng tình. Có điều, khi tính thời gian xuất hiện bài báo, Hoài Thanh lại ghi ngày 10 Mars 1932, tức là thời gian xuất bản Phụ nữ tân văn số 122; trong khi lẽ ra phải tính từ thời điểm phát hành đặc san Tập văn mùa xuân Đông tây, tức là từ đầu tháng 2/1932.

Điều đáng tiếc là, các sách có tính cách văn học sử về sau, ví dụ Nhà văn hiện đại (1941-1943) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ, Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) của Thanh Lãng, v.v… khi mô tả sự thành hình nền thơ mới tiếng Việt, đều lặp lại sự mô tả của Hoài Thanh, lấy bài báo đề xướng “một lối thơ mới” với ví dụ là bài thơ Tình già của Phan Khôi đăng Phụ nữ tân văn xuất bản tại Sài Gòn ngày 10 Mars 1932 làm dấu mốc!

Càng đáng tiếc hơn nữa là, tuy đặc san Tập văn mùa xuân Đông tây đã được tìm thấy từ 2006 (tôi và nhóm sinh viên của giảng viên Phạm Xuân Thạch/ khoa Văn học, ĐHXH-NVQG Hà Nội/ cùng tìm thấy tại ô phich Thư viện quốc gia, 31 Tràng Thi, Hà Nội; tôi đã mượn và chụp ảnh toàn bộ đặc san này), đã có những bài báo đính chính sự việc. Song dường như dư luận phê bình nghiên cứu trong ngoài nước vẫn chưa tiếp nhận thông tin này, vẫn sử dụng thời điểm ngày 10/3/1932 cho bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ trong đó có bài thơ Tình già!

Thiết nghĩ, sự xuất hiện bài báo kể trên của Phan Khôi đã trở thành một sự kiện văn học sử; bởi vậy, các giới nhà văn, nhà báo, nhà phê bình và công chúng văn học nên được thông tin thật rõ về điểm khởi đầu thật sự của phong trào thơ mới, gắn với việc xuất hiện bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi.

Đã gần tròn thế kỷ tính từ khi xuất hiện cái phong trào đã làm thay đổi căn bản diện mạo nền thi ca tiếng Việt hiện đại, điểm khởi đầu của sự kiện càng cần được đánh dấu chính xác, bởi đây là một dấu mốc văn học sử!

Tháng Mười Hai năm 2021

______

Phụ Lục

Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ

Mới đây, tôi có được gặp ông Phạm Quỳnh ở Sài Gòn. Trong khi nói chuyện, ông nhắc đến mấy bài Trúc chi từ của tôi đã làm trên sông Hương khi gặp người bạn cũ là ông Nguyễn Bá Trác ở ngoại quốc mới về; ông Phạm tỏ ý khen mấy bài đó và nói chính mình đã dịch nó ra tiếng Pháp. Sau hết, ông khuyên tôi nên giữ cái thái độ ngâm thơ như hồi đó thì hơn.

Lời khuyên của ông Phạm đó, dầu là lời nói dỡn đi nữa, với tôi, tôi cũng phải nhìn là có ý nghĩa. Nhưng sau khi nghe lời ấy, tôi chỉ có thể gật đầu mà làm thinh, không dám vội vàng tỏ ra mình đã vui lòng lãnh giáo. Vì con người ta mà muốn thay đổi cách sinh hoạt về tinh thần, lại còn khó hơn chánh phủ thay đổi cái chế độ giáo dục hay chế độ nấu rượu nữa, không phải việc chơi đâu mà hấp tấp.

Duy có vì nghe lời ông đó mà tôi nhớ sực lại sự làm thơ. Thật, cái động cơ viết bài này là chính ở mấy lời của ông.

Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước, trong đó tỏ ra rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay là đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ. Mà quả thế, gần mười năm nay tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có.

Trước kia tôi dầu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được dăm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng Nôm. Mà dăm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được. Vậy mà gần mười năm nay mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, kể cũng như là không có.

Xin thú thật với mấy ông thợ thơ. Không có, không phải tại tôi không muốn làm hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được!

Vậy thì hiện nay, đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu cho tôi nhận đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi làm sao? Đó, chính cái vấn đề ở đó rồi.

Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh, thì cái hồn thơ của tôi như nó lúng túng, chẳng khác nào cái thân của tôi là lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, bà huyện Thanh Quan đè ngang ngực tôi, làm cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói, lại nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại, nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào họ chưa nói, mình muốn nói ra, thì lại bị những niêm, những vận, những luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức!

Duy tân đi! Cải lương đi! À, có rồi chứ có phải không đâu. Thí dụ như bài thơ:

Dân quạ đình công

…………………….. (1)

Bài ấy của tôi đã đăng trong Đông Pháp thời báo năm 1928, được nhiều người hoan nghênh, kể cũng đáng cho là một ngôi sao chổi giữa trời thơ! Cho đến ngày nay tôi đọc lại vẫn còn nhìn là được, nhưng thích thì tôi không thích.

Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, như bài Dân quạ đình công đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài Dân quạ đình công đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại hiệp với … người đời nay thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như:

Tình già

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

 Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

− “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

− “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?”

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi!

Đó là bài thơ tôi làm trước đây vài tháng, mà tôi kêu là một lối thơ mới đó. Chẳng phải là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới; mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên mới đem ra mà trình chánh giữa làng thơ.

Chẳng phải tôi là người thứ nhứt làm ra việc nầy. Hơn mười năm trước ở Hà Nội cũng đã có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại.

Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ của ta đã hết chỗ hay rồi, dường như một nơi đế đô mà cái vượng khí đã tiêu trầm rồi, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa; nhưng tôi tin rằng sau này có người sẽ làm như tôi mà thành công.

Phan Khôi

Nguồn: Tập văn mùa xuân. Báo Đông tây xuất bản, Hà Nội, Tết Nhâm Thân 1932, tr. 6-7.

(1) Bài báo để chấm lửng chứ không in kèm bài thơ. Dưới đây là toàn văn bài thơ Dân quạ đình công của C.D. (Chương Dân tức Phan Khôi) đăng Phụ trương văn chương của Đông Pháp thời báo số 726 (2/6/1928):

Mồng bảy tháng Bảy năm Canh Thân,

Chiếu lệ bắc cầu sang sông Ngân.

Hằng hà sa số cu li quạ,

Bay bổng về trời dường trảy quân.

Hai bên bờ sông đậu lóc ngóc,

Con thì kêu đói, con kêu nhọc.

Đường sá xa xuôi việc nặng nề,

Phần lũ con thơ ở nhà khóc.

Bỗng nghe lệnh Trời truyền khởi công,

Nào con đầu cúi, con lưng cong,

Thêm thầy huyện Bẻo đứng coi việc,

Đụng đâu đánh đó như bao bông.

Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt!

Làm có, ăn không, chết chó chết!

Cắn cỏ kêu Trời, Trời chẳng nghe,

Một con bay lên đứng diễn thuyết:

“Hỡi đồng bào, nghe tôi nói đây!

Dân quyền thạnh nhứt là đời nay,

Việc mà chẳng phải việc công ích,

Không ai có phép đem dân đày.

Trối kệ Hoàng Ngưu với Chức Nữ,

Qua được thì qua, không thì chớ;

Quốc dân Ô Thước tội tình gì,

Mà bắt xâu bơi làm khổ sở?

Anh em ta hè, về quách thôi! “

Luôn thể kéo nhau vào cửa trời,

Động trống đăng văn ầm đế tọa,

Ngai vàng bệ ngọc rung rinh, rơi.

Có tin dân quạ nổi cách mệnh:

Trời sai thiên lôi ra thám thính,

Đầu đen máu đỏ quyết hi sinh.

Ngừng búa, thiên lôi không dám đánh.

Tức thì chiếu Trời vạch mây ra,

Đánh chữ đại xá Trời ban tha;

Dân quạ ở đâu về ở đó.

Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà.

Ờ té ra:

Mềm thì ai cũng nuốt,

Cứng thì Trời cũng nhả!

Hằng hà sa số cu li quạ,

Bay về hạ giới kêu “khá khá”.

(2) Bản đăng bài báo này trên Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn (s.122, ngày 10/3/1932) bị kiểm duyệt bỏ mất trên 100 từ, cụ thể là bỏ hết những đoạn nào từ nào nhắc tới bài Dân quạ đình công, ‒ bài thơ gợi nhớ tới phong trào kháng thuế xin xâu ở Trung Kỳ năm Mậu Thân 1908.

 Lại Nguyên Ân/Văn nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm