TIN TỨC

Triệu Kim Loan – nỗi mình bộc bạch cùng trăng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-10 17:51:46
mail facebook google pos stwis
782 lượt xem

“Triệu Kim Loan - nỗi mình bộc bạch cùng trăng” – một bài viết chân thành, giàu rung cảm của Ngô Minh Oanh về tập thơ "Chữ gọi mùa trăng" của Triệu Kim Loan.
Giữa bao đổi thay, thơ chị vẫn giữ được vẻ đẹp dịu dàng và nghị lực sáng trong của một tâm hồn biết yêu và biết tin.

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ Chữ gọi mùa Trăng của Triệu Kim Loan – NXB Hội Nhà văn, 2025)  

Tập thơ Chữ gọi mùa Trăng của là tập thơ thứ 7 của Nhà thơ Triệu Kim Loan. 5 năm kể từ tập thơ đầu tiên (2020) của chị ra đời là một sự nỗ lực lớn của chị,một quá trình trăn trở, chiêm nghiệm và trưởng thành cùng thơ. Đọc 54 bài thơ của chị trong tập thơ này, chúng ta thấy một Triệu Kim Loan còn hiện hữu với bút pháp truyền thống nhưng đã có một cách nói khác, mạnh mẽ hơn, hết mình hơn với những nỗi niềm nhân thế và nỗi niềm của chính mình. Bao người băn khoăn “nỗi niềm biết tỏ cùng ai”, nhưng với chị, nhà thơ Triệu Kim Loan đã có một điểm tựa, mượn trăng và cùng trăng để gửi gắm, bộc bạch những nỗi niềm riêng của mình.


Nhà thơ Ngô Minh Oanh chia sẻ bài viết về "Chữ gọi mùa trăng"

Thấm thoắt thoi đưa, người thơ đã bước sang bên kia dốc cuộc đời, hạnh phúc, niềm vui, đắng cay đã trải và giờ đây mới có thời gian gian để nhìn lại, chiêm nghiệm cuộc đời để gửi gắm những vần thơ chân thật cùng trăng. Qua dặm dài đời sống, nhà thơ đã thốt lên: “Em đã gieo cạn yêu thương lên cánh đồng gió chướng” (Chữ gọi mùa Trăng); trên con đường đi đó, “Tôi vừa va phải góc buồn/Cả đêm đợi nắng mà thương nỗi mình.” (Góc buồn), rồi “Phù sa ủ hạt/Nỗi buồn ủ tôi.(Họa mi). Nhà thơ độc thoại với chính mình: “Trái tim đau không tự vá nỗi mình/Em đã yêu thật vội/Uống say mềm/Giọt mật của dối gian (Độc thoại). Và rồi, đôi khi nhà thơ lại ngơ ngác giữa cuộc đời vô thường: “Bồng bềnh một dải tóc mây/Chân ngày vừa cạn đã đầy bóng đêm.” (Tình vọng phu). Nhà thơ tự hỏi: “Nhớ đã rêu sao đắng chát vị đời” ? (Phượng tím). Nhà thơ cũng nhận ra mình với một trái tim yêu đa cảm: “Thanh xuân dâng trọn giấc ngoan/Dại yêu đau mới thắt ngang tim mình.”(Lỗi hẹn). Thương lắm người thơ khi chị bộc bạch: “Người ta ta khuê các thanh tao/Lẽ loi tôi vẫn má đào một tôi…(Chuyến đò tìm lại), “Chút son môi không đủ từ trường”(Hồng gai),hay “Một đời tròn sóng vỗ chơi/Mặt trời treo ngược phía đời lấm lem/Em như sáo trúc bỏ quên/Cứ ai vuốt phải là mềm ngân rung.(Thương em).

 Là phụ nữ, người mẹ, người vợ chị đã nhẫn nại, kiên cường để vượt qua bao nghịch cảnh, để mà vui sống, để mà hy vọng dẫu cuộc đời và cũng chính là con đường văn chương, thơ ca phía trước vẫn còn gian nan, vời vợi: Một ngày lật giở từng chương/Thấy mình tóc bạc, thấy đường còn xa.(Viết trong đêm mưa). Một sự nhẫn nại vô bờ của người viết: “Em giấu lửa tim mình vào cô đơn lặng lẽ”(Giấu lửa tim mình); “Đàn con khôn lớn tuổi đầy/Bồ hòn hóa ngọt mẹ dày dặn vui.(Trớ trêu); “Em gieo thầm mắt gió tự mình xanh”(Chữ gọi mùa trăng).

 Người thơ vẫn không thôi hy vọng: Ngực trăng khao khát giấc đêm/Muôn sao tỏa nắng xuống thềm nhân gian.(Hương quê); Giọt nắng nào run rẫy/Ép vàng tuổi em trăng/Em buông lơi mái tóc/Đợi nguyệt lên tròn rằm.(Góc nhớ); Đơn buốt em/Khao khát một ánh rằm.(Lặng lẽ hoa). Và điểm tựa của Nhà thơ không chỉ là Trăng/Nguyệt mà chị còn một điểm tựa tưởng như mong manh mà đầy vững chải: Trống rỗng đời – em níu thơ/Xin Trời phát mãi thêm mùa gió non.(Đúng – sai). Bởi thế mà, sau hết, với Triệu Kim Loan vẫn giữ được một niềm tin yêu vui sống, với chị dù cuộc đời có muôn vàn biến động, thì chị vẫn luôn: “Tin yêu nhé nhụy đời ươm mật/Em hẹn lòng xanh mãi – dốc mùa – xanh.”(Dốc mùa xanh).

Tập thơ Chữ gọi mùa trăng của Triệu Kim Loan không chỉ có những bài thơ giãi bày nỗi mình, mà còn có nhiều bài thơ đề cập đến các chủ đề khác. Những bài thơ viết về nỗi mất mát hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những người ngày đêm bảo vệ biển đảo quê hương như: Đợi anh, Tìm em ngày thống nhất, Mẹ cầu hương linh, Thăm nhà tù Côn Đảo, Những người nằm lại đồi A1, Thắp nắng lòng người. Những bài thơ viết về thiên tai gây mất mát đau thương cho con người: Làng Nủ, Rừng khóc. Nhiều bài thơ viết về tình yêu quê hương, đất nước ra đời theo bước chân của nhà thơ đến nhiều vùng đất. Với những bài thơ về chiến tranh, nhà thơ đau đáu với miềm thương nỗi nhớ, nỗi mất mát, hy sinh của những người chiến sỹ: Những nắm xương rời vẫn nằm im trong màu xanh áo trận.(Những người nằm lại đồi A1). Với thiên tai, bài thơ Làng Nủ đã làm lay động lòng người: Con nằm trong đất/Sâu lắm mẹ ơi/Ước gì cỏ mật/ Nâng con lên trời.(Làng Nủ). Những bài thơ ca ngợi quê hương, đất nước, mới nghe tên thôi đã bồi hồi, thân thiết đến nhường nào: Bóng phượng, Men say Mù Cang Chải, Trổ biếc quê hương, Duyên đầu hạ, Hương quê, Giấc quê… “Dịu dàng bông bưởi vườn quê/Hương đồng ngát cả triền đê gió đùa/Nắng nghiêng thả giọt thêu thùa/Mộc miên thắp lửa gọi mùa tháng Ba.(Hương quê). Một bức tranh làng quê thật đẹp và đáng yêu làm sao !

 Tập thơ Chữ gọi mùa trăng của nhà thơ Triệu Kim Loan, như nhà văn Kao Sơn đã viết: “Đã bớt đi những cảm nhận trực diện. Nhiều hình tượng được xây dựng chọn lọc và đa diện hơn. Những biến ảo của câu chữ, hình tượng và có cả những xô lệch của kết cấu và phương pháp tiếp cận đã xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều.” Bởi thế chúng ta dễ dàng tìm được nhiều câu thơ hay, diệu ảo trong Chữ gọi mùa trăng như: Heo may bung lụa trắng ngần/Áo đêm mở khẽ dưới chân vườn chờ (Họa mi), Tôi giờ như đã nhạt tôi/Bảng đen đang vẽ những lởi phân vân(Góc buồn); Núi bồng bềnh điều ước/Nhớ đã rêu sao đắng chát vị đời(Phượng tím)…

 Mặc dù vẫn còn một vài bài cách thể hiện chưa thật mới (Tìm em ngày thống nhất, Những người nằm lại đồi A1…), một số từ dùng còn quen thuộc, khó hiểu (nhuộm tình anh đến tím; mưa đan hiền uyên nguyên; tưới lên cằn cỗi mà tươm nồng nàn; cánh cò mềm cõng nắng rong chơi…), nhưng trên hết, tập thơ Chữ gọi mùa trăng là một tập thơ hay, chững chạc, người viết có nhiều đổi mới, vượt lên chính mình để chinh phục người đọc.

 Chúc mừng nhà thơ Triệu Kim Loan với Chữ gọi mùa trăng và tiếp tục chờ đợi những tập thơ tiếp theo của chị.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 9 năm 2025

N.M.O

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm