TIN TỨC

Hoài niệm quê hương trong thơ Nguyễn Quang Thuyên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-12 01:37:28
mail facebook google pos stwis
686 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nguyễn Quang Thuyên vốn là “dân xây dựng” - Giám đốc Vinaconex 3 Phú Thọ , quê Tam Nông, Phú Thọ. Ai từng gặp anh thời điểm hiện tại sẽ có thiện cảm bởi nụ cười có duyên, thân thiện. Ấy là Nguyễn Quang Thuyên của hôm nay, hay chí ít cũng là cảm nhận của tôi, rằng nhiều năm trước, gặp anh sẽ ngỡ anh khó tính, có sự bụi bặm phong trần của nghề nghiệp, có vẻ lạnh lùng và cảm giác khó gần. Anh là “dân ngoại đạo” nhưng đã 10 tập thơ được xuất bản. Tập thơ “Đưa em về quê nội”, NXB Hội Nhà văn 2024 của anh vừa đạt giải A của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Thọ (Giải thưởng hàng năm, năm 2024).

 

Bìa tập thơ Đưa em về quê nội của nhà thơ Nguyễn Quang Thuyên

 

Trong dịp tổng kết năm 2024, sau khi lên khán đài nhận giải, anh tặng bạn bè tập thơ “Đưa em về quê nội” của mình. Tôi cũng may mắn nằm trong danh sách được tặng. Tiếp xúc với Nguyễn Quang Thuyên, thấy anh không khó gần như mình từng nghĩ. Và tập thơ của anh thuyết phục được tôi và đông đảo độc giả, có lẽ trước hết bởi đề tài. Tập thơ của anh có 36 bài, chia ba phần với những tên gọi giàu chất thơ: Phần thứ nhất Ngàn năm thương nhớ gồm 14 bài, viết về Hà Nội trong dịp kỷ niệm 1000 năm Kinh đô Thăng Long - Hà Nội. Phần thứ 2 Mùa dự cảm, có 11 bài viết về Bác Hồ kính yêu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các danh nhân lịch sử và những người mà tác giả quý mếnvà phần thứ 3 Thành phố và những người không ngủ có 11 bài viết về quê hương Tam Nông thân yêu của chính mình. Mỗi phần đều có nét đẹp riêng. Tôi thích phần thứ 3 hơn cả. Ở đó, anh viết về quê hương. Vâng quê hương, đó là hai tiếng thân thương tự trong sâu thẳm tân can mỗi người. Hai tiếng quê hương thiêng liêng ấy khi hiển hiện thành thơ, sẽ là chùm khế ngọt, là bờ sông có trẻ nô đùa mỗi khi trốn học, dẫu bị đòn roi vẫn không thấy ấm ức. Quê hương là nơi ai đi xa cũng nhớ nhiều... Những ý thơ của Giang Nam và Đỗ Trung Quân đã ăn sâu vào đời sống, thành hành trang tinh thần có thể hiển hiện cả khi ăn, khi ngủ ... đối với công chúng yêu thơ, yêu mảng đề tài quê hương. Với đề tài hấp dẫn nhưng nhiều tác giả thành công, Nguyễn Quang Thuyên tìm được gì cho mới khi anh đang cày xới trên cánh đồng đã cũ? Hãy đọc và cảm nhận để thấy một Nguyễn Quang Thuyên không lạnh lùng, để thấy một Nguyễn Quang Thuyên không vì công việc hoặc thương trường bận rộn mà sao nhãng quê hương...     

Bài thơ Về làng khởi nguồn cho cảm xúc gắn bó của người con xa quê

Lâu lâu mới ghé thăm làng/Thăm còn đường cũ thăm hàng cây xưa/Một thời tắm nắng gội mưa/bồi hồi cứ tưởng như vừa hôm qua. Đó là những câu thơ lục bát từng ngân nga trong tâm trí độc giả bởi âm điệu và vần luật chặt chẽ nhưng quan trọng hơn là bởi cảm xúc rất thật, cảm xúc mang tính phổ quát, hầu như ai đọc cũng có cảm giác tác giả nói hộ lòng mình. Hai cặp lục bát, nếu thoạt nghe sẽ ngỡ mâu thuẫn vì thời gian xa cách đã lâu Lâu lâu mới về nhưng câu thứ tư lại là bồi hồi cứ tưởng như vừa hôm qua. Nhưng, nếu ai từng trải nghiệm cảm giác này sẽ thấy không hề mâu thuẫn bởi câu thứ nhất là sự thật, còn câu 4 chỉ là tưởng. Vâng, có được cảm tưởng ấy, phải là người gắn bó sâu nặng với quê hương và yêu quê hương thật nhiều. Từ tình yêu và sự gắn bó ấy nên khi trở về, tác giả thấy cảnh vật như bừng sáng và rộn rã âm thanh, ánh sắc lung linh giữa trưa hè thơm mát hương chè mênh mang đồng nội. Tiếng chim líu lo hót xóm xa ngõ gần như khiến bức tranh thêm sống động, rộn rã. Và, “Về lại tuổi thơ” còn là cả một hành trình kỷ niệm ắp đầy gắn với không gian quen thuộc và thời gian lần lượt như cuốn phim quay chậm... Nơi ấy có điệp trùng sóng lúa, có tiếng mẹ ru hời theo suốt cuộc đời trai trẻ, có những kỷ niệm canh cánh trong tiềm thức khiến người con thành đạt xa quê sử dụng như một hành trang tinh thần ắp đầy và giàu có. Vâng, làm nên sự giàu có ấy, không thể không kể đến bài thơ “Khúc niệm làng” với lời đề tặng Kính tặng quê hương Thượng Nông của tôi. Bài thơ viết theo thể thơ tự do, sự đan xen ngắn, dài của các câu thơ phản ánh đúng diễn biến tâm trạng, gắn với mỗi kỷ niệm là một nét dáng đặc tả riêng Như thước phim quay chậm. Trong đó, có sự “chợt nhớ”, có nỗi niềm thương mênh mang… và có kỷ niệm thương ông bà từ thuở trước/ bao kiếp người trở trăn, tảo tần, sống còn với đất/ mà áo, cơm, giấc ngủ … mấy khi đầy! Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc và cả giác ngủ cũng không được tròn đầy bởi lẽ biết bao trăn trở, biết bao lo toan cho gánh nặng cuộc sống còn khó khăn, còn thiếu ăn, thiếu mặc. Không trải nghiệm, không yêu cuộc sống, không gắn bó và sống sâu sắc với cuộc đời này, Nguyễn Quang Thuyên không thể sáng tác được những vần thơ, những câu thơ như chắt ra từ gan ruột, bào xé tâm can đến như vậy.

Một đời ta lại ru ta/ cho vơi nỗi khát, cho hòa niềm vui/ sao trời, thì đã ngủ vùi/ mà sao mình hết đứng, ngồi, lại đi. Muốn thiên nhiên đồng hành, đồng điệu, cho thỏa nỗi nhớ, cho vơi nỗi niềm nhưng thời gian vẫn chảy trôi theo quy luật ngàn đời và sao trời cũng vậy, có chu kỳ, có “thời gian biểu” rõ ràng, nên cũng “ngủ vùi”, còn lại một mình tác giả, đong đầy tâm trạng, đứng ngồi không yên. Khi thức cùng sao trời để hoài nhớ, để yêu thương đã là đáng quý, đáng trân trọng; nhưng cả khi sao trời đi ngủ, con người vẫn thức… vẫn đứng, ngồi không yên thì sự trân quý còn tăng lên gấp bội. Kỷ niệm không quên tức là hành trang của nhà thơ ngày ngày thêm giàu có.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thuyên

 

Nguyễn Quang Thuyên, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cây bút đã không còn lạ lẫm trên thi đàn, nhất là với quê hương Đất Tổ đã thật sự thành công khi viết tập thơ này. Đưa em về quê nội có sự chân thật của cảm xúc, có sự thăng hoa của hồn thơ và có cả cách sử dụng ngôn từ thật sự linh hoạt. Có những câu chữ đặt riêng lẻ sẽ vô nghĩa hoặc không có giá trị biểu đạt, nhưng khi được cảm xúc làm chất liệu thì sự kết dính hình thành và khổ thơ mang vẻ độc đáo riêng:

Chẳng là, hẳn lẽ, cũng khi/ ta luênh loang với những gì trong ta/ rằng không, ắt, lẽ, sẽ, là/ hồn nhiên như hạt sương sa…thế rồi

Sau chữ “thế rồi” là điệp trùng ký ức. Tiếp bài thơ này, là bài thơ “Về quê anh đi em”, với lời đề tặng: Kính tặng quê hương Tam Nông của tôi. Nếu trước đó là  Kính tặng quê hương Thượng Nông của tôi, tức là phạm vi nhỏ hơn, tặng làng, tặng xã  thì đến đây là bài thơ tặng huyện (đơn vị hành chính cũ) rộng lớn hơn. Khi mời Về quê anh đi em, tác giả mang theo trong mình lòng tự hào sâu sắc với địa danh Tam Nông nơi Bác Hồ dừng chân/ đường chiến khu Việt Bắc.. tự hào vì Tam Nông có “Cổ thành Hưng Hóa”, đó cũng chính là “tỉnh Hưng” được nhắc trong thơ Tố Hữu Ai về Hưng Hóa, ai xuống khu ba, ai vào khu bốn…Hưng Hóa là tỉnh lỵ thời Pháp thuộc, Hưng Hóa có cột cờ uy linh, từng lưu danh sử sách… Hưng Hóa vượt qua sự băng hoại của thời gian để lưu dấu miền ký ức của triệu trái tim người con xa quê như Nguyễn Quang Thuyên.

Nói về quê hương, Nguyễn Quang Thuyên đã nói bằng niềm thương nỗi nhớ, và nói bằng sự biết ơn với bầu trời ký ức đầy ắp ân tình. Thơ địch thực là “Tiếng lòng” như cách nói của Diệp Tiếp và tiếng lòng đau đáu của Nguyễn Quang Thuyên đã chạm được mạch nguồn cảm xúc của độc giả. Niềm vinh dự với Giải A hôm nay là sự ghi nhận xứng đáng của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ trao tặng cho công lao và tài năng của nhà thơ quê Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ Nguyễn Quang Thuyên. Cảm ơn tác giả, cảm ơn nhà thơ đã nói thay tâm trạng bao người. “Đưa em về quê nội” là một trong những tập thơ đáng đọc và đáng nhớ.

Phú Thọ, 2/10/2025

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm